CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết về vàng 1. Khái niệm và thuộc tính của vàng Bất kể ai cũng biết rằng vàng là một kim loại quý giá và hiếm có. Bằng cách loại bỏ những tạp chất, vàng hay được sử dụng làm nguyên liệu tinh luyện, chế tác ra các loại trang sức có giá trị hoặc cũng có thể làm tài sản cất giữ, tàng trữ khi được đúc miếng.
Ở Việt Nam thường có hai loại vàng phổ biến được phân biệt là Vàng ta và Vàng tây. Cách phân việt hai loại vàng này là xem xét độ thuần khiết của chúng. Tại Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 3 Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng do Thủ tướng Chính phủ ban hành định nghĩa: “Vàng trang sức, mỹ nghệ là các sản phẩm vàng có hàm lượng từ 8 Kara (tương đương 33,33%) trở lên, đã qua gia công, chế tác để phục vụ nhu cầu trang sức, trang trí mỹ thuật. Vàng miếng là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây được gọi là Ngân hàng Nhà nước) cho phép sản xuất hoặc vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ.
Vàng nguyên liệu là vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng và các loại vàng khác.” Từ xa xưa đến nay, vàng luôn được xem là loại kim loại thuộc giá cao, bởi lẽ tính khan hiếm của vàng cao, có nhiều thuộc tính lý hóa và sở hữu nhiều công dụng trong cuộc sống hằng ngày cũng như đối với nền kinh tế. Vì vàng có vẻ ngoài đẹp mắt, có thể sử dụng được và không bị xỉn màu hay bị ăn mòn, nên nó là một trong những kim loại đầu tiên thu hút sự chú ý của con người. Vẻ đẹp, giá trị và nhiều phẩm chất độc đáo khác của vàng khiến nó trở thành vật liệu được lựa chọn trong nhiều ngành công nghiệp. Các nhà kim hoàn và thợ kim loại đã đánh giá vàng là kim loại có thể được chạm nổi, rèn, đúc, kéo căng hoặc xoắn.
Vàng là một kim loại có màu vàng, mặc dù nó có thể có màu đen, hồng ngọc hoặc tím khi được chia nhỏ. Nó không bị ảnh hưởng khi tiếp xúc với không khí hoặc với hầu hết các thuốc thử. Nó trơ và phản xạ tốt bức xạ hồng ngoại. Vàng thường được hợp kim hóa để tăng sức mạnh của nó.
Vàng nguyên chất 3 được đo bằng trọng lượng troy, nhưng khi vàng được hợp kim với các kim loại khác, thuật ngữ karat được sử dụng để biểu thị lượng vàng hiện có. Các hợp chất vàng phổ biến nhất là clorua auric (AuCl 3) và axit chlorauric (HAuCl 4 ). Hỗn hợp gồm một phần axit nitric với ba phần axit clohiđric được gọi là nước cường toan (vì nó hòa tan vàng). Nó không bị ảnh hưởng bởi không khí và hầu hết các thuốc thử.
Vàng dẫn nhiệt và dẫn điện tốt, đồng và bạc là những chất dẫn điện tốt nhất, nhưng tính dẫn của vàng tồn tại lâu hơn cả vì chúng không bị xỉn màu. Đây là lý do tại sao các vòng cưới truyền thống được làm bằng vàng, vì chúng được đảm bảo sẽ đứng vững trước thời gian. Điều này chứng tỏ không phải là vàng tồn tại lâu hơn, mà là vàng vẫn dẫn điện trong một thời gian dài hơn. Các mặt hóa học bởi độ ẩm, nhiệt và các chất ăn mòn không tác động đến vàng.
Chính vì thế, vàng rất phù hợp để làm kim loại và trang sức. Hầu hết 78% nguồn cung vàng hàng năm được dùng để sản xuất thành đồ trang sức. Các ngành công nghiệp khác, chủ yếu là điện tử, y tế và nha khoa, yêu cầu khoảng 12%. Nguồn cung vàng hàng năm được sử dụng trong các giao dịch tài chính chiếm khoảng 10%.
Vàng cũng là kim loại dễ uốn khi nó có thể được kéo ra thành dây mỏng nhất. Một ounce vàng có thể được kéo thành 80 km (50 dặm) dây vàng mỏng. Mẫu này có đường kính 0,20 mm (0,008 inch). Dát vàng - còn được gọi là mạ vàng là một kỹ thuật cổ xưa.
Các nghệ nhân truyền thống đánh vàng thô giữa các miếng da cho đến khi nó gần như quá mỏng để có thể nhìn thấy. Vàng có tính phản xạ nhiệt và ánh sáng cao. Kính che mặt của mũ bảo hiểm không gian của các phi hành gia được phủ một lớp vàng mỏng (khoảng 0,000002 inch) đến mức nó trong suốt. Các phi hành gia có thể nhìn xuyên qua nó, độ mỏng đó cũng làm giảm độ chói và nhiệt từ ánh sáng mặt trời.
Vàng cũng rất nặng, với mật độ 19301 kg/ m3. Mật độ của chì, để so sánh, chỉ là 11301 kg/m3. Độ nặng của nó đóng một phần quan trọng trong nhiều phương pháp vật lý được sử dụng để chiết xuất vàng từ các nguồn khác nhau của nó. Hầu hết vàng tự nhiên thực sự không tinh khiết.
Nó thường chứa các dấu vết nhỏ nhưng đáng chú ý của các kim loại khác bao gồm bạc, đồng, thủy ngân và palađi. Trên thực tế, chính những yếu tố khác này đã tạo ra màu sắc đặc biệt của vàng. Ví dụ, vàng có một lượng lớn đồng sẽ có màu đỏ, trong khi vàng có chứa nhiều bạc ít đắt tiền hơn sẽ nhợt nhạt hơn nhiều và ít có màu vàng tươi hơn vàng nguyên chất. Độ tinh khiết của vàng được đo bằng carat với vàng nguyên 4 chất gần 100% là 24 carat.
Vàng 18 carat sau đó là 18/24, (75%) nguyên chất và vàng 14 carat có độ tinh khiết 58%. Giá trị carat thường được dùng để mô tả vàng miếng chỉ gồm các số nguyên sau: 24, 22, 18, 14 và 9. Chức năng của vàng trong đời sống kinh tế xã hội Trong suốt lịch sử, vàng đã đóng một vai trò quan trọng đối với cả giá trị thực tế và biểu tượng của nó. Đối với nhiều nền văn minh cổ đại, chẳng hạn như người Inca và người Ai Cập, quyền sở hữu vàng được giới hạn cho các thành viên của gia đình hoàng gia, vì chỉ họ mới có quyền tiếp cận với các vị thần.
Theo thời gian, vai trò của vàng đã thay đổi, đến cuối thế kỷ 19, nhiều quốc gia đã ấn định giá trị đồng tiền của họ theo một lượng vàng cụ thể - điều này sau này được gọi là bản vị vàng. Sức hấp dẫn và chất lượng thẩm mỹ của vàng đã khiến nó trở thành biểu tượng của sự quý hiếm và sức mạnh trên khắp các nền văn hóa cổ đại kể từ năm 5000 trước Công nguyên. Nó trở thành kim loại phù hợp nhất để các tầng lớp thống trị thể hiện quyền lực và vị thế của họ. Vàng lần đầu tiên được phát hành dưới dạng tiền đúc vào năm 800 trước Công nguyên, và sau đó được sử dụng bởi các đế chế Hy Lạp và La Mã.
Trong suốt thế kỷ 19, hầu hết các quốc gia phương Tây đều tuân thủ chế độ bản vị vàng, phù hợp với việc mở rộng tiền tệ với giá trị dự trữ vàng của chính quốc gia đó. Chức năng tiền tệ và phương tiện trao đổi Có thể nói, chức năng quan trọng thường thấy nhất ở vàng là chức năng tiền tệ. Thời kỳ đỉnh cao của vàng trong hệ thống tiền tệ kéo dài từ những năm 1870 đến sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong thời kỳ này, hệ thống tỷ giá hối đoái cố định toàn cầu được thành lập, dựa trên một định nghĩa cố định của mỗi loại tiền so với vàng, cùng với các quy tắc rõ ràng đối với khả năng chuyển đổi và độ phủ vàng.
Khả năng chuyển đổi của vàng sang fiat (tiền giấy) bắt đầu kết thúc với Chiến tranh thế giới thứ nhất khi các quốc gia từ chối trao đổi vàng của họ. Đứng đầu là Vương quốc Anh, quốc gia này đã chọn in tiền và từ chối trao đổi nó thành vàng. Vì vàng là một nguồn tài nguyên khan hiếm, nên việc sử dụng nó như một phương tiện giao dịch trực tiếp, tức là tiền xu, bị giới hạn. Trong những năm giữa các cuộc chiến tranh, một số quốc gia đã dự trữ vàng bằng cách giới thiệu một tiêu chuẩn vàng thỏi, theo đó số lượng tương đương với toàn bộ vàng miếng có thể được chuyển đổi thành vàng.
Vào đầu những năm 1930 nhiều quốc gia đã phải từ bỏ chế độ bản vị vàng. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, hệ thống Bretton 5 Woods được thành lập. Nó đã dựa trên một sự cố định ngầm đối với vàng, tức là tiền tệ đã được chốt sang đồng đô la hoặc sang vàng trực tiếp. Nói chung, chỉ có NHTW có quyền truy cập khả năng chuyển đổi thành vàng.
Hệ thống Bretton Woods sụp đổ năm 1971 vì vàng đã không còn là vai trò trung tâm trong hệ thống tiền tệ quốc tế. Ngày nay, vàng vẫn là một phần trong dự trữ ngoại hối của hầu hết các NHTW, mặc dù tỷ trọng của vàng trong tổng dự trữ ngoại hối có suy giảm. Tuy vàng không còn đóng vai trò trung tâm trong hệ thống tiền tệ, nhưng vẫn giữ được vai trò truyền thống như một kho lưu trữ giá trị ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Châu Á. Tóm lại, vàng không chỉ biểu thị giá trị của đồ trang sức mà nó còn được sử dụng từ lâu như một phương tiện trao đổi.
Các giao dịch đầu tiên chính là sử dụng các miếng vàng hoặc miếng bạc. Nhờ giá trị cao và tính bền vững của nó cùng với việc dễ phân chia nên vai trò của nó cho mục đích này được xem là tối ưu. Hiện tại, nhiều chính phủ, cá nhân cùng các nhà đầu tư giữ các khoản đầu tư vàng dưới dạng vàng thỏi tiện lợi. Vai trò tiết kiệm và dự trữ của vàng Dưới dạng cây vàng hoặc các trang sức điển hình như nhẫn, khuyên tai, lắc tay, lắc chân, dây chuyền, vàng thường giữ chức năng là dùng để tiết kiệm.
Một số nước phát triển mạnh thị trường trang sức vàng phải kể đến Ấn Độ. Còn ở Việt Nam, người dân luôn mặc định mua vàng để tiết kiệm từ rất lâu rồi và có thể coi đây là một cách thức an toàn để bảo toàn giá trị của tiền hoặc làm của hồi môn cho con cháu. Hiện nay, hầu hết vàng mới được khai thác hoặc tái chế dùng cho chế tạo đồ trang sức với khoảng 78% lượng vàng tiêu thụ mỗi năm. Để phục vụ nhu cầu của người dân, ước tính mỗi năm có khoảng hàng trăm tấn vàng nhập vào nước ta.
Đặc biệt kể từ đại dịch Covid-19 xuất hiện và phản ứng từ các NHTW đã tác động đáng kể đến giá vàng.