phần mở đầu và kết luận, Đề án tốt nghiệp đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Chƣơng 2: Phân tích báo cáo tài chính của Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại Quy Thành Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính thông qua phân tích báo cáo tài chính của Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại Quy Thành 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về Báo cáo tài chính 1. Khái niệm Theo IAS 01 thì “Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả tài chính của DN. Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, kết quả tài chính và luồng tiền của DN, đáp ứng yêu cầu của số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế, nó cũng cho thấy kết quả quản lý của ban giám đốc đối với các nguồn lực được giao phó cho họ.” [20] Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01, Báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính.
[5] Theo VAS 21, Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp. Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những ngƣời sử dụng trong việc đƣa ra các quyết định kinh tế. [6] Theo khoản 1, điều 3 của Luật Kế toán số 88/2015/QH13, Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán đƣợc trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. [16] Theo điều 97 thông tƣ 200/2014/TT-BTC, Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một DN, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ DN, cơ quan Nhà nƣớc và nhu cầu hữu ích của những ngƣời sử dụng trong việc đƣa ra các quyết định kinh tế.
[4] Thông qua các khái niệm trên, có thể thấy Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và dòng tiền trong kỳ của doanh nghiệp. Nói cách khác, báo cáo tài chính là phƣơng tiện trình bày khả năng sinh lợi và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những ngƣời quan tâm. Thông qua báo cáo tài chính, những ngƣời sử dụng thông tin có thể đánh giá, phân tích và chẩn đoán đƣợc thực trạng và an ninh tài chính, nắm bắt đƣợc kết quả và hiệu quả 8 hoạt động kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán, xác định giá trị doanh nghiệp, định rõ tiềm năng cũng nhƣ dự báo đƣợc nhu cầu tài chính cùng những rủi ro trong tƣơng lai mà doanh nghiệp có thể phải đƣơng đầu. Thông tin trên Báo cáo tài chính hỗ trợ việc ra quyết định cho các đối tƣợng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp nhƣ: nhà quản lý của doanh nghiệp, cơ quan tài chính, ngân hàng, các nhà đầu tƣ, chủ nợ, khách nợ, đối tác liên doanh, liên kết và ngƣời lao động.
Mỗi đối tƣợng quan tâm đến báo cáo tài chính với những mục tiêu khác nhau. Song đều có mục đích chung nhất định là nghiên cứu, tìm hiểu thông tin cần thiết, đáng tin cậy phục vụ cho việc ra quyết định phù hợp với mục đích của mình. - Đối với chủ doanh nghiệp báo cáo tài chính cung cấp thông tin tổng quát về tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh và triển vọng tài chính của doanh nghiệp. Thông qua việc phân tích các chỉ tiêu chủ yếu của báo cáo tài chính, doanh nghiệp biết đƣợc kết cấu tài sản, nguồn hình thành tài sản, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi, lợi nhuận và diễn biến các dòng tiền, từ đó có phƣơng án SXKD hợp lý mang lại hiệu quả cao.
- Đối với các nhà đầu tƣ, nhà cho vay, báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng tài chính, tình hình khả năng thanh toán cũng nhƣ việc sử dụng nguồn vốn đƣợc đầu tƣ và khả năng thu lợi nhuận để từ đó họ có thể quyết định đầu tƣ hay cho vay nhƣ thế nào - Đối với các cổ đông, những ngƣời góp vốn, ngƣời lao động, báo cáo tài chính giúp họ biết khả năng sinh lợi, tỷ lệ lợi nhuận đƣợc chia hoặc phúc lợi sẽ đƣợc hƣởng. - Đối với các cơ quan tài chính, ngân hàng, thuế, kiểm toán, vv.báo cáo tài chính cung cấp thông tin tổng quát về tình hình tài chính, tình hình chấp hành chế độ thu nộp, kỷ luật tín dụng và tƣơng lai phát triển của doanh nghiệp. Từ đó, giúp cho việc kiểm tra hƣớng dẫn và tƣ vấn cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Nhƣ vậy, có thể nói rằng báo cáo tài chính là một công cụ quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, là tài liệu không thể thiếu đƣợc trong việc cung cấp thông tin tài chính phục vụ cho việc ra quyết định hợp lý của các đối tƣợng quan tâm.
Phân loại theo nội dung báo cáo Theo nội dung báo cáo thì Báo cáo tài chính đƣợc chia làm 4 loại: bảng cân 9 đối kế toán (báo cáo tình hình tài chính), báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lƣu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. a) Bảng cân đối kế toán (Báo cáo tình hình tài chính) Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng hợp toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản có và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định. Nội dung của Bảng cân đối kế toán đƣợc thể hiện thông qua các hệ thống các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản. Các chỉ tiêu đƣợc phân loại, sắp xếp theo từng loại, từng mục, từng chỉ tiêu cụ thể và kết cấu gồm 2 phần là tài sản và nguồn vốn luôn bằng nhau.1: Thông tin chủ yếu trên Bảng cân đối kế toán I.
Tài sản ngắn hạn I. Nợ phải trả 1. Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền 11. Nợ ngắn hạn 2.
Các khoản đầu tƣ tài chính ngắn hạn 12. Nợ dài hạn 3. Các khoản phải thu ngắn hạn II. Vốn chủ sở hữu 4.
Hàng tồn kho 13. Vốn chủ sở hữu 5. Tài sản ngắn hạn khác 14. Nguồn kinh phí và các quỹ khác II.
Tài sản dài hạn 6. Các khoản phải thu dài hạn 7. Tài sản cố định 8. Các khoản đầu tƣ tài chính dài hạn 9.
Bất động sản đầu tƣ 10. Tài sản dài hạn khác Tổng cộng tài sản Tổng cộng nguồn vốn (Nguồn: Tổng hợp từ TT200/2014/TT-BTC) Thông qua Bảng cân đối kế toán có thể đánh giá đƣợc khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp và phân tích tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài các chỉ tiêu trong bảng nó còn phản ánh các chỉ tiêu ngoài bảng nhƣ: Tài sản thuê ngoài; vật tƣ, hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công; nợ khó đòi đã xử lý; ngoại tệ các loại… Đây là những chỉ tiêu phản ánh những tài sản tạm thời để ở 10 doanh nghiệp nhƣng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc một số chỉ tiêu kinh tế đã đƣợc phản ánh ở các tài khoản trong bảng cân đối nhƣng cần theo dõi để phục vụ yêu cầu quản lý. b) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp trong một kỳ kế toán, bao gồm: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ; các khoản chi phí liên quan đến bán hàng và cung cấp dịch vụ; chi phí quản lý; doanh thu, chi phí hoạt động tài chính… Bảng 1.2: Thông tin chủ yếu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 1.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 2. Các khoản giảm trừ doanh thu 3. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 4. Giá vốn hàng bán 5.
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 6. Doanh thu hoạt động tài chính 7. Chi phí tài chính 8. Chi phí bán hàng 9.
Chi phí quản lý DN 10. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 11. Thu nhập khác 12. Chi phí khác 13.
Lợi nhuận khác 14. Tổng lợi nhuận trƣớc thuế 15. Thuế thu nhập DN 16. Lợi nhuận sau thuế 17.
Lãi cơ bản trên cổ phiếu (Nguồn: Tổng hợp từ TT200/2014/TT-BTC) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giúp cho các nhà quản lý có thể nắm đƣợc khái quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá đƣợc xu thế phát triển và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp kỳ này so với kỳ trƣớc. 11 c) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ là BCTC trình bày việc hình thành và sử dụng tiền của doanh nghiệp bao gồm dòng tiền vào, dòng tiền ra từ ba hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tƣ, hoạt động tài chính trong kỳ báo cáo. Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của hệ thống Báo cáo tài chính, nó cung cấp thông tin giúp ngƣời sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng tạo tiền của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ đƣợc các ảnh hƣởng của việc sử dụng các phƣơng pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tƣợng.
Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ gồm 3 phần: Lƣu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh, lƣu chuyển tiền từ hoạt động đầu tƣ, lƣu chuyển tiền từ hoạt động tài chính. d) Thuyết minh báo cáo tài chính Thuyết minh báo cáo tài chính là một báo cáo tổng quát nhằm mục đích giải trình, thuyết minh bằng lời, bằng số liệu những thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà chƣa đƣợc trình bày đầy đủ chi tiết hết trong các báo cáo tài chính khác.