Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính Chương 3: Phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Khách sạn Sài Gòn Chương 4: Thảo luận kết quả, các giải pháp và kết luận 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2. Khái niệm và ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính 2. Khái niệm phân tích báo cáo tài chính Báo cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản (TS), nguồn vốn (NV), tình hình kinh doanh, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. BCTC cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, như: cơ quan thuế, nhà đầu tư, cơ quan quản lý,.
mà BCTC còn cung cấp thông tin cho các đối tượng bên trong doanh nghiệp. BCTC bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính. Thông qua BCTC, người sử dụng thông tin có thể nắm được thực trạng tài chính của doanh nghiệp, từ đó nắm bắt được tiềm năng, rủi ro trong tương lai để đưa ra quyết định kinh doanh, quyết định đầu tư. "Phân tích báo cáo tài chính thực chất là phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thống báo cáo nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau." (Nguyễn Ngọc Quang, 2011, tr.
"Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về mặt tài chính trong tương lai của doanh nghiệp.” (Nguyễn Năng Phúc, 2013, tr. “Phân tích BCTC là quá trình sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích thích hợp để tiến hành xem xét, đánh giá dữ liệu phản ánh trên BCTC cũng các mối quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu trên BCTC và các dữ liệu liên quan khác nhằm cung cấp thông tin hữu ích, đáp ứng yêu cầu thông tin từ nhiều phía của người sử dụng.” (Nguyễn Văn Công, 2019, tr. Như vậy, phân tích BCTC là quá trình sử dụng các công cụ thích hợp để xem xét, kiểm tra, đối chiếu, đánh giá số liệu, chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, cũng như các điểm tương đồng giữa các chỉ tiêu nhằm cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng thông tin, từ đó người sử dụng có thể nhận diện được rủi ro, đánh giá hiệu quả kinh doanh để đưa ra quyết định.
Ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính 4 Phân tích báo cáo tài chính có ý nghĩa riêng đối với từng đối tượng sử dụng thông tin. Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp: phân tích BCTC cung cấp các thông tin giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định kinh doanh trong ngắn hạn và dài hạn. Đối với các nhà đầu tư: nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua cổ phiếu của doanh nghiệp, căn cứ vào các thông tin trên báo cáo tài chính, các chỉ tiêu mà nhà đầu tư sẽ đưa ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp hay không. Đối với nhà cung cấp tín dụng: nhà cung cấp tín dụng quan tâm đến các chỉ tiêu về khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định nên hay không cho doanh nghiệp vay.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước: cơ quan quản lý nhà nước sử dụng thông tin phân tích bảo cáo tài chính của doanh nghiệp để kiểm tra, đưa ra các kế hoạch quản lý vĩ mô. Đối với đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp: đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp quan tâm đến phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp để đưa ra phương án kinh doanh phù hợp, tìm ra những biện pháp cạnh tranh. Đối với người lao động: người lao động quan tâm đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có tình hình kinh doanh ổn định, các chỉ tiêu tài chính tốt sẽ thu hút người lao động.
Ngược lại, với những doanh nghiệp tình hình kinh doanh ảm đạm, các chỉ tiêu tài chính xấu sẽ không thu hút được người lao động. Nguồn dữ liệu dùng cho phân tích báo cáo tài chính Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin cho người sử dụng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Đây là nguồn dữ liệu dùng cho phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính, hệ thống báo cáo tài chính bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính.
Bảng cân đối kế toán phản ảnh tổng quát tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại thời điểm cuối kỳ kế toán. Dựa vào bảng cân đối kế toán các cơ quan nhà nước, nhà đầu tư,… có thể nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp từ đó đề ra các chính sách phát triển, các quyết định kinh doanh. Báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Báo cáo kết quả kinh doanh giúp người sử dụng đánh giá được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
5 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho biết tiền của doanh nghiệp sử dụng cho mục đích gì, tiền của doanh nghiệp thu về từ đâu và sau mỗi kỳ kế toán lượng tiền còn lại là bao nhiêu. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo từng hoạt động: hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính và hoạt động kinh doanh, trong đó trình bày lượng tiền tăng, giảm sau một thời kỳ, lượng tiền có sẵn cuối kỳ. Thuyết minh báo cáo tài chính dùng để giải thích các số liệu, thông tin trình bày ở báo cáo tình hình tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo thu nhập và cung cấp các chính sách kế toán doanh nghiệp đang áp dụng. Kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính 2.
Kỹ thuật so sánh Kỹ thuật so sánh là kỹ thuật được sử dụng phổ biến trong phân tích, sử dụng kỹ thuật so sánh để đánh giá kết quả, sự biến động và mức độ biến động của các chỉ tiêu. Khi sử dụng kỹ thuật so sánh, các chỉ tiêu thường được so sánh với kỳ trước, đối thủ cạnh tranh và bình quân ngành. Các nội dung cơ bản khi sử dụng kỹ thuật so sánh: điều kiện so sánh được, gốc so sánh, các dạng so sánh và hình thức so sánh. Điều kiện so sánh được của các chỉ tiêu Để đảm bảo tính chất so sánh được của các chỉ tiêu phân tích, cần phải đảm bảo những điều kiện sau: - Sự thống nhất về nội dung kinh tế.
- Sự thống nhất về phương pháp tính. - Sự thống nhất về đơn vị tính. - Cùng phương hướng kinh doanh. - Điều kiện kinh doanh tương tự nhau.
Gốc so sánh Gốc so sánh là chỉ tiêu được lựa chọn làm căn cứ để so sánh. Tùy thuộc vào nhu cầu và mục đích sử dụng, gốc so sánh được lựa chọn sao cho phù hợp. Một số gốc so sánh được lựa chọn: số liệu của kỳ trước, số liệu dự toán, số liệu trung bình ngành,… 2. Các dạng so sánh Các kỹ thuật so sánh chủ yếu được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính là: kỹ thuật so sánh bằng số tuyệt đối, kỹ thuật so sánh bằng số tương đối và kỹ thuật so sánh bằng số bình quân.
- Kỹ thuật so sánh bằng số tuyệt đối: So sánh số tuyệt đối là so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ (kỳ phân tích và kỳ gốc), từ đó thấy được sự biến động, mức độ tăng giảm của các chỉ tiêu.1) Nguồn: Nguyễn Văn Công, 2023, tr.34 Trong đó: + ∆y là mức độ tăng (+) hoặc giảm (-) của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích và kỳ gốc. + y1 là trị số chỉ tiêu nghiên cứu tại kỳ phân tích (kỳ báo cáo). + y0 là trị số chỉ tiêu nghiên cứu tại kỳ gốc. - Kỹ thuật so sánh bằng số tương đối: So sánh số tương đối là so sánh trị số của chỉ tiêu kỳ này với kỳ gốc, đã được điều chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu liên quan.
Có nhiều kỹ thuật so sánh bằng số tương đối, tùy theo mục đích phân tích, sử dụng để lựa chọn kỹ thuật phù hợp. Kỹ thuật so sánh giản đơn dùng để thấy được mức độ đạt được của chỉ tiêu so với kỳ gốc, thấy được tỷ lệ % thay đổi của chỉ tiêu so với kỳ gốc.2) y0 Nguồn: Nguyễn Văn Công, 2019, tr.35 Trong đó: + T(%) là chỉ tiêu tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu phân tích so với kỳ gốc. + y1 và y0 là trị số chỉ tiêu phân tích tại kỳ phân tích và kỳ gốc. - Kỹ thuật so sánh bằng số bình quân: Số bình quân phản ánh những đặc điểm phổ biến, chung nhất của một tổ chức, một đơn vị, một bộ phận,…Ngoài ra, số bình quân còn phản ánh mức độ mà doanh nghiệp đạt được so với bình quân của ngành.
Điều đó giúp nhà quản trị nắm được vị trí của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp cùng ngành. Hình thức so sánh Hai hình thức được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính là so sánh ngang và so sánh dọc: So sánh ngang là so sánh các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính theo thời gian, kỳ phân tích so với kỳ gốc. So sánh ngang cho biết sự biến động về quy mô (so sánh bằng số tuyệt đối), sự biến động về tốc độ tăng trưởng (so sánh bằng tương đối giản đơn), sự biến đổi về tỷ trọng của từng chỉ tiêu. Ngoài ra, so sánh ngang còn phản ánh được mức biến động về quy mô, mức độ ảnh hưởng của từng chỉ 7 tiêu nhân tố đến chỉ tiêu phân tích.
So sánh dọc là việc sử dụng các hệ số, tỷ lệ được tạo ra từ việc xác định mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu có mối liên hệ với nhau trên báo cáo tài chính để phân tích sự biến động về cơ cấu, những mối quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu.