MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Hiện nay, quá trình khởi nghiệp dựa trên ý tưởng sáng tạo, tạo ra sản phẩm mới hoặc sản phẩm cũ có những đặc điểm khác nổi trội, ưu việt hơn so với những sản phẩm, dịch vụ đã từng có trên thị trường và được phát triển nhanh chóng được gọi là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nhờ có việc khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, nó đã tạo động lực không nhỏ cho sự tiến bộ kinh tế và sức mạnh cạnh tranh của mỗi quốc gia và diễn ra ở cả 2 lĩnh vực thương mại và phi thương mại. Một nền kinh tế không thể tăng trưởng bền vững nếu nền kinh tế đó không có sự cạnh tranh và tạo ra được nhiều giá trị gia tăng.
Chính vì thế việc khuyến khích cho khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo là điều tất yếu để tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ mới có sự tiến bộ vượt bậc về chất lượng đem đến sự cạnh tranh cho nền kinh tế và giá trị về mặt thương mại. Không chỉ tạo ra môi trường cạnh tranh cho nền kinh tế mỗi nước, việc khởi nghiệp nói chung và khởi nghiệp sáng tạo nói riêng còn tạo ra nhiều công ăn việc làm cho một lượng lao động lớn của xã hội. Đây là vai trò không kém phần quan trọng để thực hiện hóa được các mục tiêu phát triển bền vững trong thời gian sắp tới, tạo ra một môi trường làm việc bình đẳng và hiện đại, đáp ứng đủ nhu cầu việc làm cho toàn bộ lực lượng lao động. Với việc phát triển việc đầu tư cho khởi nghiệp mà hệ thống sinh thái các doanh nghiệp khởi nghiệp có quy mô vừa và nhỏ đang dần được đổi mới và cải thiện.
Điều đó đã đáp ứng được các yêu cầu về việc làm và đảm bảo cho việc phát triển của một quốc gia khi có sự cạnh tranh giữa nhiều doanh nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam cũng không còn phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp lớn và lâu đời nữa mà có nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ từ những DNVVN mới khởi nghiệp còn nhiều triển vọng. Hàng năm các DNVVN đóng góp khoảng 40% GDP cho nước ta, nộp ngân sách chiếm 30%, đóng góp giá trị sản lượng công nghiệp vào khoảng 33%, lượng hàng hóa xuất khẩu chiếm 30% và thu hút khoảng 60% lao động. Tuy nhiên, quy mô của nhiều DNVVN khởi nghiệp còn có quy mô “li ti” tỷ lệ doanh nghiệp có quy mô vừa còn ít chưa tạo nên được môi trường tốt để phát triển.
Một trong những nguyên nhân khiến cho tỷ lệ các DNVVN mới khởi nghiệp có tỷ lệ quy mô nhỏ là do các yếu tố ảnh hưởng từ khách quan đến chủ quan như các DNVVN hầu như xuất phát từ các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, kinh doanh gia đình và đi lên thành doanh nghiệp. Thứ hai là do tuổi đời, thời gian thành lập của các DNVVN còn ngắn và vẫn chưa tạo được môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển quy mô doanh nghiệp. Ngoài ra là các ảnh hưởng từ bên ngoài như chưa có các giải pháp cụ thể cho phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp vừa và nhỏ, môi trường các DNVVN ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Đặc biệt trong số các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình khởi nghiệp của các DNVVN nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ và đáng kể đó là các yếu tố về môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Không chỉ có môi trường trong nước mà đó còn là môi trường cạnh tranh liên quốc gia giữa các nước có cùng trình độ phát triển hoặc giữa các doanh nghiệp của các nước phát triển với các nước đang phát triển để tạo điều kiện cạnh tranh phát triển tối ưu. Tại Việt Nam, một đất nước đang phát triển việc tập trung vào phát triển môi trường kinh doanh cho quá trình khởi nghiệp của các DNVVN là tất yếu. Các yếu tố về chính sách hỗ trợ của nhà nước về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế hàng hóa đầu vào và đầu ra, thuế xuất nhập khẩu. Ngoài ra còn là các hiệp định kinh tế của nước ta trong những năm gần đây.
Cụ thể với các hiệp định mà nước ta tham gia như: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), EVFTA hiệp định hợp tác giữa Việt Nam và liên minh châu âu EU, … Các hiệp định này đã đem lại nhiều cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp đặc biệt với quá trình khởi nghiệp của các DNVVN trong việc tạo lập môi trường để kinh doanh và phát triển các loại mặt hàng hàng hóa, dịch vụ không những trong nước mà còn phát triển ra các nước như châu Âu hay Mỹ. Bên cạnh đó còn là các yếu tố khác của môi trường kinh doanh như các yếu tố của kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng là các yếu tố mang tính khách quan bên ngoài. đó còn là các yếu tố từ bên trong chủ quan như trình độ, kiến thức của người đứng đầu các DNVVN, các mối quan hệ của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp. Tất cả các yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến việc hoạt động của không chỉ doanh nghiệp bình thường mà còn là các yếu tố quyết định đến thành công của các doanh nghiệp nói chung và quá trình khởi nghiệp của các DNVVN nói riêng 2.
Tổng quan nghiên cứu các công trình nghiên cứu 2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài: Nghiên cứu về hoạt động khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp của các doanh nghiệp thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Jerzy Cieślik (2016) đã đề cập đến những vấn đề lý luận về khởi nghiệp như: Các khái niệm liên quan đến khởi nghiệp, các quan điểm về vai trò của khởi nghiệp đối với sự phát triển kinh tế xã hội, sự đa dạng của doanh nghiệp khởi sự,. Ở phần 2 của tài liệu, tác giả đã chỉ ra sự phát triển của các quan điểm về bản chất của khởi nghiệp và vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội thế kỷ 20 và 21, từ đó phân tích những vai trò đó tác động như thế nào đến phát triển kinh tế xã hội. Elena Vasiljevna Yaluner và các cộng sự (2019 lại tập trung nghiên cứu, phân tích về bản chất môi trường kinh tế xã hội của khởi sự kinh doanh và triển vọng đối với sự tương tác của môi trường kinh tế xã hội với doanh nghiệp khởi nghiệp.
Bài viết chứng minh sự liên quan của việc nghiên cứu môi trường kinh tế xã hội với việc khởi nghiệp kinh doanh. Ján Dvorský và các cộng sự (2021) tập trung nghiên cứu các yếu tố quan trọng của năng lực cạnh tranh tác động đến khởi nghiệp trong một bộ phận DNVVN. Thông qua nghiên cứu, nhóm tác giả kết luận rằng môi trường cạnh tranh và môi trường kinh doanh đều có tác động đến hoạt động khởi nghiệp của DNVVN. Bài nghiên cứu cũng đồng thời chỉ ra nguồn nhân công lao động chính là chỉ tiêu quan trọng nhất trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp khởi sự.
Nghiên cứu của Wineaster Anderson (2017) đã tổng hợp, nghiên cứu và phân tích những yếu tố tác động đến khởi sự kinh doanh và phát triển của DNVVN ở Tanzania. Kết quả nghiên cứu cho thấy người chủ sở hữu kiêm quản lý cần phải sáng tạo và đổi mới, có tầm nhìn để đạt được tham vọng khởi nghiệp. Những phẩm chất (tính linh hoạt, khả năng lãnh đạo, sự chăm chỉ, khả năng giải quyết vấn đề, độc lập, chấp nhận rủi ro, nhu cầu đạt được thành tích và niềm tin vào việc kiểm soát bản thân) nên được trau dồi trong sự kết hợp giữa cam kết phát triển và tinh thần kinh doanh. Ľubica Lesáková (2012) nghiên cứu về vai trò của vườn ươm doanh nghiệp đối với khởi nghiệp ở DNVVN.
Qua nghiên cứu, tác giả cho rằng, vườn ươm doanh nghiệp là một phần quan trọng của cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa khởi nghiệp ở Slovakia. Ươm tạo doanh nghiệp giúp đáp ứng những nhu cầu kinh tế và chính sách xã hội của một quốc gia, có thể bao gồm khởi sự kinh doanh và duy trì, thương mại hóa công nghệ, tạo công việc làm và của cải đồng thời thúc đẩy môi trường kinh doanh của cộng đồng. Tập trung xem xét về sự ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến hoạt động của DNNVV, PÉREZ-DE-LEMA, HANSEN, MADRID-GUJJARRO, & SILVA-SANTOS (2019) nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đối với chiến lược đổi mới, hoạt động đổi mới và hiệu quả hoạt động trong các DNNVV. Môi trường kinh doanh đã được xem xét, có tính đến tính năng động và sự thù địch của nó.
Một nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trên một mẫu bao gồm 302 công ty Tây Ban Nha. Kết quả cho thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phản ứng trong môi trường kinh doanh năng động và thù địch bằng cách tăng cường chiến lược đổi mới của họ. Chiến lược đổi mới cho phép các công ty thực hiện các cấp độ cao hơn về đổi mới sản phẩm và quy trình, điều này sẽ tạo ra tác động tích cực đến hiệu suất. Kết quả đưa ra ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, như vậy là phù hợp để củng cố tầm quan trọng của việc phát triển một chiến lược đổi mới trong khuôn khổ hoạch định chiến lược chính thức của họ.
Tương tự, HERLINAWATI & MACHMUD (2020) cho thấy đổi mới có tác động tích cực và đáng kể đến hiệu quả kinh doanh. Hàm ý của nghiên cứu này là hiệu suất của Doanh nghiệp SME có thể được cải thiện thông qua tăng cường đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình và đổi mới phân phối. Các kết luận tương tự được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu khác. Ramadan & Ahmad (2018) thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm về tác động của môi trường kinh doanh đến Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Palestine.
Sự không chắc chắn về môi trường và hiệu suất được đo lường trên cơ sở dữ liệu mở rộng. Số lượng Bảng câu hỏi được sử dụng để thu thập dữ liệu từ những người được hỏi là 341. Những người được hỏi đến từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất ở Bờ Tây Palestine. Các phát hiện chỉ ra rằng có một mối quan hệ có ý nghĩa tiêu cực giữa sự không chắc chắn về môi trường và hiệu suất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp chế tạo.