CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Chương này sẽ trình bày một số vấn đề cơ bản về chứng khoán và TTCK như: khái niệm chứng khoán, TTCK; đặc điểm của các loại chứng khoán trên thị trường; các yếu tố tác động làm thay đổi giá chứng khoán; các phương pháp tính chỉ số giá chứng khoán được áp dụng ở TTCK các nước và cách tính chỉ số VN-Index của TTCK Việt Nam, phần cuối cùng của chương là lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến luận văn. Khái niệm chứng khoán, thị trường chứng khoán Chứng khoán là bằng chứng xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán có thể tồn tại dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ. Chứng khoán giao dịch trên thị trường bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các công cụ có nguồn gốc chứng khoán.
Mỗi loại chứng khoán trao cho nhà đầu tư quyền và lợi ích khác nhau. Người nắm giữ cổ phiếu có quyền chủ sở hữu đối với một công ty và vì vậy, họ sẽ được hưởng lợi nhuận từ kết quả hoạt động kinh doanh công ty cũng như chia sẻ rủi ro mà công ty gặp phải. Giá trị của cổ phiếu gắn liền với giá trị của công ty. Trái phiếu trao cho người chủ sở hữu nó quyền chủ nợ, tổ chức phát hành trái phiếu có nghĩa vụ trả lãi và hoàn trả vốn gốc đúng hạn và đầy đủ.
Các công cụ có nguồn gốc chứng khoán như chứng quyền (warrants), quyền (rights), các công cụ phái sinh (hợp đồng tương lai – futures, hợp đồng quyền chọn – options), chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết đặc điểm của các loại chứng khoán này trong nội dung sau. Như vậy, chứng khoán là hàng hóa đặc biệt – hàng hóa vốn – là công cụ huy động vốn rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường, tạo nên nguồn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, cho Chính phủ, chính quyền địa phương thực hiện các dự án đầu tư. Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trung và dài hạn, là kênh bổ sung các nguồn vốn dài hạn quan trọng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho nhà nước, các doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển sản xuất. TTCK là một yếu tố hạ tầng cơ sở quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường.
Chính vì thế, ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường thì đều tồn tại và phát triển TTCK. Hàng hóa trên TTCK 1. Cổ phiếu Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Người nắm giữ cổ phiếu được gọi là cổ đông của công ty cổ phần, là người chủ sở hữu một phần công ty.
Cổ phiếu gồm 2 loại chính: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. - Cổ phiếu thường hay cổ phiếu phổ thông là loại chứng khoán thu hút sự quan tâm nhiều nhất của các nhà đầu tư trên TTCK. Nhà đầu tư nắm giữ cổ phần thường là một trong những người chủ sở hữu của công ty nên là người trực tiếp thừa hưởng thành quả từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, đồng thời cũng là người gánh chịu mọi rủi ro mà công ty gặp phải. Quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông thường tỷ lệ thuận với phần vốn mà họ đã góp và công ty.
Sở hữu cổ phiếu này nhà đầu tư sẽ được chia lợi nhuận (gọi là cổ tức) tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hàng năm, được tham gia họp Đại hội đồng cổ đông, được bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của công ty, được bầu cử và ứng cử vào Hội đồng quản trị công ty và là người cuối cùng được chia tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản. Bên cạnh những quyền lợi được hưởng thì nhà đầu tư có nghĩa vụ là không được rút vốn đã góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn cổ phần của mình. - Cổ phiếu ưu đãi còn gọi là cổ phiếu đặc quyền là loại cổ phiếu được hưởng những quyền ưu tiên hơn so với cổ phiếu thường. Người sở hữu cổ phiếu ưu đãi được hưởng một mức cổ tức cố định hàng năm theo tỷ lệ lãi suất cố định không phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, ngoài ra, còn được ưu tiên chia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cổ tức và chia tài tài sản còn lại của công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản trước cổ đông thường.Tuy nhiên, các cổ đông ưu đãi không có quyền biểu quyết tất cả các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông, không được tham gia quyết định chiến lược của công ty.
Một số vấn đề liên quan đến cổ phiếu: - Cổ tức: là số tiền hàng năm được trích từ lợi nhuận của công ty phát hành để trả cho mỗi cổ phiếu mà cổ đồng đang nắm giữ. - Tách cổ phiếu: là việc đổi một cổ phiếu đang lưu hành thành nhiều cổ phiếu hơn, tỷ lệ tách cổ phiếu có thể là 1:2, 1:3,…do công ty quyết định. Việc tách cổ phiếu thường được thực hiện khi giá cổ phiếu trên thị trường tăng quá cao làm cho các giao dịch khó thực hiện. Khi tách cổ phiếu sẽ làm tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành và làm giảm mệnh giá cổ phiếu tương ứng với tỷ lệ tách, do đó giá cổ phiếu trên thị trường cũng sẽ giảm tương ứng và giao dịch được thực hiện dễ dàng hơn.
- Gộp cổ phiếu: ngược lại với tách cổ phiếu, việc gộp cổ phiếu sẽ làm giảm số lượng cổ phiếu đang lưu hành, theo đó mệnh giá và giá thị trường của cổ phiếu cũng tăng lên tương ứng với tỷ lệ gộp cổ phiếu. Tách và gộp cổ phiếu là việc làm tăng hoặc giảm số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty cổ phần mà không làm thay đổi vốn điều lệ, vốn cổ phần hay toàn bộ giá trị thị trường tại thời điểm tách hoặc gộp cổ phiếu. Tùy theo mục đích của công ty và tình hình thị trường mà công ty có thể tiến hành tách hay gộp cổ phiếu. Trái phiếu Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
Tổ chức phát hành trái phiếu có trách nhiệm trả lãi trái phiếu định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn. Trên tờ trái phiếu có các nội dung sau: tên đơn vị phát hành, mệnh giá trái phiếu, thời hạn đáo hạn của trái phiếu, lãi suất. Trái phiếu có các đặc điểm cơ bản như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trái phiếu là giấy nợ do Chính phủ, chính quyền địa phương hay doanh nghiệp phát hành để huy động vốn, có thời hạn nhất định. - Người mua trái phiếu là chủ nợ của chủ thể phát hành, được thu hồi vốn gốc bằng mệnh giá trái phiếu ở thời điểm đáo hạn.
- Trái phiếu có lợi tức cố định, không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty nên ít rủi ro. - Khi công ty bị giải thể hoặc phá sản, người cầm trái phiếu được ưu tiên trả nợ trước các cổ đông. Từ những đặc điểm trên cho thấy trái phiếu là loại chứng khoán có tính ổn định và ít rủi ro. Các loại trái phiếu: - Trái phiếu chính phủ (Government bonds): là trái phiếu do Chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp sự thiếu hụt ngân sách, tài trợ cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, hoặc quản lý lạm phát.
Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu an toàn nhất vì được đảm bảo hoàn trả từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước, bù lại trái phiếu chính phủ thường có lãi suất thấp. Trái phiếu chính phủ cũng bao gồm nhiều loại, tiêu biểu có các loại trái phiếu sau: + Trái phiếu kho bạc (Treasury bonds): là trái phiếu có thời hạn từ 1 năm trở lên, do kho bạc phát hành với mục đích huy động vốn theo kế hoạch ngân sách nhà nước hàng năm. + Trái phiếu đô thị (Municipal bonds): do Chính phủ hay chính quyền địa phương phát hành nhằm huy động vốn tài trợ cho các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, thường có thời hạn từ 1 năm trở lên. + Công trái (State bonds): là loại trái phiếu dài hạn đặc biệt do Chính phủ phát hành nhằm huy động vốn trong nhân dân để đầu tư xây dựng những công trình quan trọng quốc gia tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước.
Công trái có thời hạn từ 5 năm trở lên, lãi suất tương đối thấp nhưng hầu như không có rủi ro. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trái phiếu công ty (Corporate bonds): là trái phiếu do các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành nhằm mục đích huy động vốn đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp, mở rộng qui mô, phát triển sản xuất kinh doanh. Trái phiếu công ty có những loại đặc trưng sau: + Trái phiếu thế chấp (Mortgage bonds): còn gọi là trái phiếu bảo đảm (secured bonds) là loại trái phiếu khi phát hành công ty phải đem tài sản hoặc chứng khoán thuộc sở hữu của công ty làm thế chấp nhằm đảm bảo khả năng thanh toán lãi và vốn cho nhà đầu tư. Công ty cũng có thể phát hành trái phiếu dưới sự bảo lãnh thanh toán của một tổ chức tài chính, tín dụng.
+ Trái phiếu tín chấp (Debenture): ngược lại với trái phiếu thế chấp, trái phiếu tín chấp được phát hành dựa vào tiếng tăm, uy tín của công ty. Công ty không cần thế chấp bất cứ tài sản nào mà chính uy tín của công ty là một đảm bảo có giá trị cho trái phiếu phát hành. + Trái phiếu thu nhập (Income bonds): thường phát hành khi công ty gặp khó khăn về tài chính. Người mua trái phiếu chỉ được thanh toán lãi khi công ty thực sự có lãi.
Tùy theo lợi nhuận công ty thu được sẽ trả lãi cho trái chủ, tuy nhiên, tỷ lệ lãi không lớn hơn lãi suất qui định trên trái phiếu.