Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, tôm ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, tăng trưởng không những về quy mô mà còn là mô hình nuôi được đa dạng hóa. Trong năm nay, ngành tôm Việt được dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn. Có thê thấy, trong thời gian gần đây tình trạng giá tôm liên tục giảm, thời tiết không thuận lợi, dịch bệnh trên tôm diễn biến phức tạp. Những hộ nuôi tôm thường chỉ đạt lợi nhuận cao trong khoảng từ 2 - 4 năm đầu, sau đó sẽ có xu hướng môi trường ao nuôi suy thoái, tôm con dé nhiễm bệnh, khó kiểm soát dịch bệnh bùng phát gây thiệt hại to lớn cho người nuôi từ đó diện tích nuôi tôm cũng như sản lượng giảm.
Theo Tổng cục Thuỷ sản, trong quá trình nuôi trồng, sự phát triển nóng nảy, tập trung vào việc mở rộng diện tích nuôi và tăng sản lượng đã dẫn đến các vấn đề nước thải không được xử lý, chất thải trong ao phát sinh trong quá trình nuôi, các điều kiện về vật lý, hóa học, sinh học trong ao ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng tôm rất nhiều. Việc nghiên cứu dé kiêm soát nồng độ các chat ô nhiễm nito vô cơ là yếu tố được đặt lên hàng đầu bởi nó là yếu tổ then chốt quyết định đến năng suất và chất lượng nuôi trồng góp phan giảm thiểu những tác động tiêu cực của nguồn nước thải thủy sản. Trong nuôi tôm, độc tính của nitrite trong nước ao có thê làm suy giảm chất lượng nước, giảm tăng trưởng, tăng tiêu thụ oxy và bài tiết ammonia, thậm chí gây chết tôm. Đối với nitrate, ở nồng độ cao nitrate hoàn toàn có thé gây độc cho tôm ở giai đoạn ấu trùng, làm tôm căng thang, tỷ lệ chết tăng, trao đối chất kém và suy nhược cơ thé, đồng thời hàm lượng nitrate tích luỹ càng nhiều khi càng về cuối vụ nuôi.
Chính vì những ảnh hưởng của nitrate và nitrite đến tôm là không hề nhỏ nên các nghiên cứu trong việc loại bỏ nitrate và nitrite trong ao nuôi tôm cũng ngày càng được quan tâm và góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của nguồn nước thải thủy sản. Với xu hướng sử dụng các nhóm vi sinh vật có lợi nhằm nâng cao chất lượng nước và ức chế đối với các nhóm vi khuẩn gây bệnh. Trước tình hình đó, biện pháp xử lý có nguồn gốc từ các loài vi sinh vật như Pseudomonas, Achromobacter xylosoxidans, Thiobacillus denitrifcans, Paracoccus denitrificans,.có tác dụng làm giảm hàm lượng nitrate và nitrite là bước đi tiên phong trong việc xử lý nước thải, góp phần duy trì chất lượng nước và cả màu nước trong ao hô. Nêu như trước đây các nghiên cứu vệ việc chuyền hóa NH," thành NOx va NOx thành NO; đã đạt được những kết quả khả quan và được ứng dụng vào thực tế dé sản xuất chế phẩm thì việc nghiên cứu khử các chất độc hại này thành nito phân tử (khí N›) trong quá trình khử nitrate còn khá ít và gặp nhiều khó khăn.
Chính vi lý do đó và ý nghĩa khoa học trên mà dé tài “Phân lập, tuyển chọn các dòng vi khuẩn khử nitrate trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng” đã được thực hiện. Mục tiêu của đề tài Phân lập và tuyên chọn các chủng vi khuẩn có khả năng khử nitrate với hiệu suất cao và đánh giá ảnh hưởng của độ mặn đến khả năng khử nitrate của các chủng vi khuẩn tuyển chọn. Nội dung thực hiện Phân lập và tuyển chọn các đòng vi khuan khử nitrate. Sang lọc các chủng vi khuẩn khử nitrate bằng phương pháp định tính với thuốc thử Griess - Ilosway và thuốc thử diphenylamine.
Đánh giá khả năng khử nitrate của các chủng vi khuẩn chọn lọc. Định lượng nitrate bằng phương pháp nitrate hoá với axit salicylic. Đánh giá khả năng khử nitrite của các chủng vi khuẩn chọn lọc. Định lượng nitrite bằng phương pháp trắc quang 4500-NOz.
Đánh giá ảnh hưởng của độ mặn đến khả năng khử nitrate của các chủng vi khuẩn chọn lọc. Định danh các chủng vi khuẩn chon lọc bằng kỹ thuật sinh học phân tử. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về tôm thé chân trắng Tôm thé chân trang (Penaeus vannamei hoặc Litopenaeus vannamei) là loài tôm nhiệt đới phân bố đọc theo bờ biển phía Tây Thái Bình Dương và châu Mỹ, từ bờ biển Mexico đến miền trung Peru, phổ biến nhất là ở vùng biển Ecuador.
Tôm thé chân trang có ty lệ sống cao, sinh trưởng tốt trong điều kiện độ mặn biến động lớn (thậm chí khi độ mặn bang 0), có khả năng kháng bệnh cao, dé sinh sản và gia hoá, nên được nhiều nước ưu tiên phát triển (nhất là các nước châu Á). Đến nay, tôm thẻ chân trắng được nuôi ở nhiều nước Đông Á và Đông Nam Á như Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Philipines,. Tại Việt Nam, tôm thẻ chân trắng đã được du nhập và nuôi thương phẩm, phô biến tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Kiên Giang, Trà Vinh,.phuc vụ nhu cầu trong và ngoài nước. Phan loại khoa học Tên tiếng anh: Whileleg Shrimp Tên khoa học: Litopenaeus vannamei Tên gọi trước đây: Penaeus vannamei Tên Việt Nam: Tôm thẻ chân trắng Giới (regnum) Animalia Ngành (phylum) Arthropoda Phân ngành (subphylum) Crustacea Lớp (class) Malacostraca Bộ (ordo) Decapoda Phân bộ (subordo) Dendrobranchiata Ho (familia) Penaeidae sò A ( \ CHÍ (genus) ;Àjopohatr Hình 2.
Tôm thẻ chân trắng. vannamei Nguon: www. Nhìn bề ngoài tôm thé chân trang gan giống với tôm trắng Trung Quốc (Fenneropenaeus chinensis) và tôm bạc thẻ (Fenneropenaeus meirguiensis). Cá thé lớn nhất có thể dài đến 23 em.
Tôm có màu trắng đục, trên thân không có đốm van, chân bò có màu trắng ngà nên gọi là tôm chân trắng. Các vành chân đuôi có màu đỏ nhạt và xanh. Vỏ tôm mỏng có thê nhìn đường ruột rat rõ. Rau tôm có màu đỏ dai gap 1,5 lân chiêu dai than.
Cơ thé chia làm hai phan: đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen). Phần đầu ngực có 14 đôi phần phụ bao gồm: Chùy tôm gồm có hai răng cưa ở bụng và 8 - 9 răng cưa ở lưng; một đôi mắt kép có cuống mắt; hai đôi râu: anten 1 (A1) và anten 2 (A2). Al ngắn, đốt 1 lớn và có hốc mắt, hai nhánh ngắn. A2 có nhánh ngoài biến thành vay râu (Antennal scale), nhánh trong kéo dài.
Hai đôi râu này giữ chức năng khứu giác và giữ thăng bang; ba đôi ham: đôi ham lớn, đôi hàm nhỏ 1 va đôi hàm nhỏ 2; ba đôi chân ham (Maxilliped) có chức nang giữ mối, ăn mối và hỗ trợ hoạt động bơi lội của tôm; năm đôi chân bỏ hay chân ngực (walking legs), giúp cho tôm bò trên mặt đáy. Ở tôm cái, giữa sốc chân ngực 4 và 5 có thelycum (co quan sinh dục ngoài, nơi nhận va giữ túi tinh từ con đực chuyên sang). Phan bụng có 7 đốt: 5 đốt đầu, mỗi đốt mang một đôi chân bơi hay còn gọi là chân bụng (Pleopds hay Swimming legs). Mỗi chân bụng có một đốt chung bên trong.
Đốt ngoài chia làm hai nhánh: nhánh trong và nhánh ngoài, đốt bụng thứ 7 biến thành telson hợp với đôi chân đuôi phân thành nhánh tạo thành đuôi giúp cho tôm chuyên động lên xuống và búng nhảy. Ở tôm đực, hai nhánh đôi bụng 2 biến thành đôi phụ bộ đực - là bộ phận sinh dục bên ngoài của tôm (Nguyễn Trọng Nho, Tạ Khắc Tường, Lục Minh Diệp, 2006). Tình hình nuôi tôm thé chân trắng tại huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu Bạc Liêu có đường bờ biển khá bằng phẳng dài 56 km cùng với hệ thống sông ngòi chang chit thông ra biển, nên việc dan nước mặn về nội đồng rất thuận tiện, cùng với hệ sinh thái nước mặn, nước lợ đa dạng, phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho các loài thủy sinh vật phát triển. Do đó, nghề nuôi tôm ở Bạc Liêu phát triển mạnh với diện tích nuôi tôm thân thâm canh - bán thâm canh và siêu thâm canh lớn.
Bên cạnh cây lúa, tôm được ghi nhận là vật nuôi quan trọng, đóng vai trò chủ đạo, trụ cột trong ngành kinh tế và góp phan quan trọng duy trì, tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu. Nhiều năm liền, Bạc Liêu giữ vị trí thứ hai khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long về sản lượng và điện tích nuôi tôm nước lợ. Theo Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu (2019) tỉnh hiện có hơn 135 ngàn ha diện tích nuôi tôm, đứng thứ 2 cả nước với sản lượng tôm năm sau luôn cao hơn năm trước. sản lượng năm 2019 đạt 155 nghìn tấn.
Tinh Bạc Liêu hiện có 188 cơ sở sản xuất tôm giống va 108 cơ sở ương dưỡng tôm giống, hàng năm sản xuất khoảng 30 tỷ con giống. Đặc biệt, Bạc Liêu có nhiều mô hình tôm đa dạng, hiệu quả cao, nhất là các mô hình nuôi thâm canh, siêu thâm canh ứng dụng khoa học công nghệ cao, tiên tiên hàng đầu (Bộ Nông 4 nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015). Bạc Liêu là một trong những tinh có nguồn nguyên liệu tôm lớn xuất khẩu sang các nước trên thế giới, góp phần tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn huyện Đông Hải (2021), một trong những thế mạnh của ngành kinh tế được huyện Đông Hải định hướng phát triển mạnh là mô hình nuôi trồng thủy sản.
Điển hình mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh, diện tích gần 450 ha được phát triển và nhân rộng, chủ yếu tập trung ở các xã khu vự phía Đông của huyện như: Long Điền Đông, Long Điền Đông A, Điền Hải và Long Điền và thị tran Ganh Hào với năng suất từ 20 - 25 tan/ha và cho lợi nhuận từ 600 - 800 triệu đồng/ha/năm. Bên cạnh đó, mô hình nuôi tôm thâm canh - bán thâm canh cũng được người dân áp dụng, toàn huyện có trên 3,519 ha áp dụng mô hình này và chủ yếu tập trung ở các xã phía Đông của huyện cùng với năng suất 3 - 3,5 tắn/ha/vụ và lợi nhuận mang lại từ 120 - 200 triệu đồng/ha. Còn đối với mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiễn kết hợp phát triển tương đối ôn định với điện tích hơn 35,410 ha. Với cách thức đánh tỉa thả bù, nuôi ghép các loại thủy sản khác, phát triển sản xuất kết hợp với tiêu thụ sản phẩm năng suất của mô hình này đạt từ 600 - 700 kg/ha/năm, lợi nhuận từ 60 - 70 triệu đồng/ha/năm.
Cá biệt, có hộ lợi nhuận trên 80 triệu đồng/ha. Van dé 6 nhiễm tại huyện Đông Hải: Việc nuôi trồng thủy sản đang gặp phải rat nhiều các vấn đề về môi trường, tình trạng ô nhiễm môi trường nuôi ở mức đáng báo động.