phần mở đầu, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chƣơng và cuối cùng là kết luận và kiến nghị. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN 1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN Ngay từ khi các Công ƣớc của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1958 và 1982 còn chƣa hình thành, nhiều quốc gia trên thế giới đã đƣa ra các yêu sách đối với các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của mình. Với sự phát triển của Luật biển quốc tế, các quốc gia ven biển lại càng lợi dụng một cách tối đa các điều khoản của Công ƣớc để mở rộng lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Với cách giải thích khác nhau nhằm đem lại lợi ích tối đa cho mình, yêu sách của các quốc gia về các vùng biển tạo thành các vùng biển chồng lấn.
Các vùng biển chồng lấn này cần đƣợc giải quyết phân định. Các điều khoản của các công ƣớc chƣa đủ làm cơ sở pháp lý để các quốc gia có thể dễ dàng đi đến thoả thuận phân định các vùng biển có tranh chấp của mình. Phân định các vùng biển chồng lấn có thể đƣợc tiến hành thông qua đàm phán song phƣơng (khi vùng chồng lấn chỉ liên quan tới hai nƣớc) hay đa phƣơng (nếu liên quan tới nhiều nƣớc), có thể giải quyết bằng Toà trọng tài, Toà án pháp lý quốc tế hay bằng trung gian hoà giải tuỳ theo thoả thuận của các quốc gia có liên quan. Phân định biển là một quá trình phức tạp nó chứa đựng sự tác động đan xen của các yếu tố pháp lý, chính trị, ngoại giao, kỹ thuật.
Về mặt pháp lý, công ƣớc không thể định rõ các quy phạm hoặc tiêu chuẩn pháp lý cho việc phân định. Do vậy ngƣời ta phải căn cứ vào hoàn cảnh địa lý cụ thể của khu vực phân định, xem xét mọi yếu tố có liên quan, vận dụng các điều khoản thích hợp của luật pháp và thực tiễn quốc tế và quốc gia để đi tới giải pháp phân định. Các vùng biển thuộc các chế độ pháp lý khác nhau nên khi phân định ngƣời ta cũng căn cứ vào các tiêu chuẩn pháp lý thích hợp đối với từng vùng biển để phân định. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vậy phân định là gì? Theo phán quyết quyết của Toà án quốc tế trong vụ thềm lục địa biển Egée thì phân định có mục đích: “vạch một con đường chính xác hoặc nhiều con đường chính xác nơi gặp nhau của các vùng không gian tại đó thực hiện các quyền lực và quyền chủ quyền tương ứng” của hai quốc gia.
Phân định là một hoạt động mang tính quốc tế: “Việc phân định các vùng biển luôn luôn có khía cạnh quốc tế; nó không phụ thuộc vào ý chí duy nhất của quốc gia ven biển như nó được thể hiện trong luật quốc nội. Nếu tuyên bố phân định nhất thiết là một hành vi đơn phương là đúng, bởi vì chỉ quốc gia ven biển mới có tư cách để tiến hành điều đó, thì ngược lại giá trị của việc phân định đó đối với các quốc gia thứ ba thuộc về luật pháp quốc tế”.{13,60} Lý luận về việc phân vạch các vùng biển phải đƣợc bắt đầu bằng sự hiểu biết về địa vị pháp lý khác nhau của từng vùng biển theo Công ƣớc, và nhất là cách thức phân định đƣợc quy định trong công ƣớc về Luật biển. Biển là một không gian mở, các vùng biển có chế độ pháp lý khác nhau: nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.1 Phân định nội thuỷ, lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải Nội thuỷ là vùng nƣớc nằm trong đƣờng cơ sở, vùng nội thuỷ có cơ chế pháp lý nhƣ vùng nội địa. Vì vậy quy chế pháp lý của vùng nội thuỷ là quy chế lục địa.
Lãnh hải là vùng tiếp theo của nội thuỷ. Theo điều 3 và điều 4 Công ƣớc về Luật biển năm 1982 quy định “Ranh giới phía ngoài của lãnh hải là một đường mà mỗi điểm ở trên đường đó cách điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều rộng lãnh hải. Mỗi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước”. So với chủ quyền của quốc gia trên đất liền thì ở vùng lãnh hải quốc gia có chủ quyền tƣơng tự, trừ việc tàu thuyền của quốc gia có biển hay không có biển đều đƣợc hƣởng quyền qua lại vô hại (điều 17 Công ƣớc 1982).
Đƣờng ranh giới ngoài lãnh hải đƣợc nhiều ngƣời gọi là đƣờng biên giới quốc gia trên biển. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc phân định vùng lãnh hải thƣờng áp dụng các phƣơng pháp sau đƣợc đƣa ra trong hội nghị lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1958: * Phƣơng pháp cách đều * Phƣơng pháp đƣờng vuông góc so với xu thế chung của bờ biển * Đƣờng phân giác góc tạo bởi hai bờ biển tiếp giáp nhau, * Đƣờng biên giới trên bộ kéo dài ra biển * Đƣờng kinh tuyến hoặc vĩ tuyến Điều 12 khoản 1 Công ƣớc Giơnevơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải năm 1958 quyết định về việc phân định ranh giới lãnh hải giữa các quốc gia bờ biển đối diện hay tiếp giáp: “Khi bờ biển của hai quốc gia đối diện hoặc tiếp giáp nhau và giữa các quốc gia đó không có những thoả thuận khác, thì không một quốc gia nào có quyền mở rộng lãnh hải của mình ra ngoài đường trung tuyến mà mỗi điểm nó cách đều điểm gần nhất của đường cơ sở để đo chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, điều khoản này không áp dụng trong trường hợp có danh nghĩa lịch sử hoặc các hoàn cảnh đặc biệt để phân định lãnh hải của hai quốc gia theo cách khác”. Đƣờng cách đều trong trƣờng hợp hai quốc gia có bờ biển tiếp giáp nhau và đƣờng trung tuyến trong trƣờng hợp hai quốc gia đối diện nhau là đƣờng mà tất cả các điểm cách đều các điểm gần nhất của đƣờng cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của những quốc gia.
Ngoài ra, theo Uỷ ban luật quốc tế năm 1958 các hoàn cảnh đặc biệt trong phân định lãnh hải là: * Hình dạng bất thƣờng của bờ biển * Sự hiện diện của các đảo * Luồng hàng hải Con đƣờng tạm thời quản lý và là đƣờng đầu tiên đƣa ra trong đàm phán là đƣờng cách đều. Các hoàn cảnh đặc biệt có ý nghĩa sửa chữa lại những bất công mà đƣờng cách đều có thể mang lại trong phân định để đạt đƣợc một giải pháp công bằng. Do vậy, phƣơng pháp phân định lãnh hải chính là: Đƣờng cách đều và thoả thuận. Điều 15 công ƣớc 1982 về phân định lãnh hải của hai hay 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều nƣớc có bờ biển liền kề hoặc đối diện vẫn giữ nguyên nguyên tắc phân định này.
Tiếp theo lãnh hải là vùng tiếp giáp lãnh hải. Điều 33 Công ƣớc 1982 quy định “Trong một vùng tiếp giáp với lãnh hải của mình gọi là vùng tiếp giáp, quốc gia ven biển có thể thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm: Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật các quy phạm hải quan, thuế khoá, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay lãnh hải của mình tương tự những vi phạm đối với luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ. Vùng tiếp giáp không thể mở quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”. Vùng lãnh hải thƣờng đƣợc coi là vùng đệm để bảo vệ cho vùng nƣớc chủ quyền của quốc gia ven biển tức là vùng lãnh hải.
Việc phân định ranh giới vùng tiếp giáp lãnh hải cũng đƣợc quy định tƣơng tự phân định lãnh hải. Không một quốc gia nào có quyền, trừ phi có các thoả thuận khác giữa họ, mở rộng vùng tiếp giáp ra ngoài đƣờng trung tuyến (điều 24 khoản 3 công ƣớc Giơnevơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958). Nhƣ vậy, phƣơng pháp phân định vùng tiếp giáp lãnh hải là: Thoả thuận và đƣờng trung tuyến (cách đều). Công ƣớc 1982 không có những quy định riêng biệt về việc phân định nội thuỷ và vùng tiếp giáp.
Về việc phân định nội thuỷ có thể áp dụng các quy định của điều 15 của công ƣớc và việc áp dụng này đã đƣợc coi là hợp pháp trong cả học thuyết lẫn thực tiễn pháp luật quốc tế. Đối với việc phân định vùng tiếp giáp thì vấn đề có phức tạp hơn. Mặc dù cho đến nay trƣờng hợp các quốc gia ven biển quy định vùng tiếp giáp không nhiều. Song nhu cầu phân định vùng tiếp giáp giữa các quốc gia ven biển láng giềng cũng nhƣ phân định vùng tiếp giáp với vùng đặc quyền kinh tế sẽ vẫn đƣợc đặt ra và cần phải giải quyết.
Mặt khác, do đƣợc coi là một phần của vùng đặc quyền kinh tế về kinh tế, nên phân định vùng tiếp giáp lãnh hải sẽ tuân thủ nguyên tắc phân định vùng đặc quyền kinh tế đƣợc quy định trong Điều 83 Công ƣớc năm 1982.2 Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng không quá 200 hải lý tính từ đƣờng cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Nói cách khác, chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế là 188 hải lý. Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định pháp lý mới, lần đầu tiên đƣợc ghi nhận trong Công ƣớc 1982, là một vùng mà trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế, đƣợc quy định bởi công ƣớc, mà không chia sẻ với quốc gia khác trừ trƣờng hợp không khai thác hết. Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dƣới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đƣờng cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn.