Khóa luận tốt nghiệp thực trạng phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc tày nghiên cứu trường hợp tại xã sóc hà huyện hà quảng tỉnh cao bằng

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp thực trạng phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc tày nghiên cứu trường hợp tại xã, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

96
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HỘP

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.1.1. Mục tiêu chung

1.1.2. Mục tiêu cụ thể

1.2. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

1.2.1. Đối tượng nghiên cứu

1.2.2. Khách thể nghiên cứu

1.2.3. Phạm vi nghiên cứu

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tổng quan nghiên cứu tài liệu

2.2. Lý thuyết cấu trúc – chức năng

2.3. Lý thuyết vị thế - vai trò

2.4. Các nghiên cứu liên quan

2.4.1. Thực trạng phân công lao động trong gia đình

2.4.2. Các nghiên cứu liên quan đến phân công lao động trong hoạt động sản xuất

2.4.3. Các nghiên cứu về thực trạng phân công lao động trong hoạt động tái sản xuất

2.4.4. Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động cộng đồng

2.5. Các khái niệm liên quan

2.5.1. Khái niệm gia đình

2.5.2. Khái niệm giới

2.5.3. Khái niệm vai trò giới

2.5.4. Khái niệm Phân công lao động

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp nghiên cứu

3.2. Phương pháp thu thập thông tin

3.2.1. Thu thập thông tin thứ cấp

3.2.2. Thu thập thông tin sơ cấp

3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

3.4. Khung phân tích

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đặc điểm của các hộ gia đình dân tộc Tày

4.1.1. Độ tuổi và giới tính của chủ hộ trong các hộ gia đình dân tộc Tày

4.1.2. Trình độ học vấn của chủ hộ trong các hộ gia đình dân tộc Tày

4.1.3. Các nguồn thu nhập của hộ gia đình

4.1.4. Tình trạng kinh tế của hộ gia đình

4.2. Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất

4.2.1. Sự phân công giữa vợ và chồng trong hoạt động trồng lúa nương

4.2.2. Người quyết định công việc trong trồng lúa nương

4.2.3. Phân công giữa vợ và chồng trong hoạt động chăn nuôi dê

4.2.4. Người quyết định chính trong các hoạt động nuôi dê núi

4.3. Phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc tái sản xuất

4.3.1. Phân công công việc giữa vợ và chồng trong công việc nội trợ

4.3.2. Phân công lao động trong chăm sóc và giáo dục con

4.3.3. Quyền quyết định giữa vợ và chồng trong công việc nội trợ và giáo dục con

4.4. Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động cộng đồng

4.4.1. Tham gia hoạt động cộng đồng

4.4.2. Người quyết định trong các hoạt động cộng đồng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phân Công Lao Động Trong Hộ Gia Đình Dân Tộc Tày

Phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc Tày tại xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu xã hội học. Nghiên cứu này không chỉ phản ánh mối quan hệ giới trong gia đình mà còn thể hiện sự phát triển kinh tế hộ gia đình. Qua việc phân tích thực trạng, có thể thấy rằng sự phân công lao động giữa vợ và chồng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất và tái sản xuất trong gia đình.

1.1. Đặc Điểm Của Gia Đình Dân Tộc Tày Tại Sóc Hà

Gia đình dân tộc Tày tại Sóc Hà có những đặc điểm văn hóa và kinh tế riêng biệt. Họ chủ yếu sống bằng nông nghiệp, với các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi. Sự phân công lao động giữa các thành viên trong gia đình thường dựa trên giới tính và độ tuổi.

1.2. Vai Trò Của Phụ Nữ Trong Gia Đình Dân Tộc Tày

Phụ nữ trong gia đình dân tộc Tày thường đảm nhận vai trò chính trong các công việc nội trợ và chăm sóc gia đình. Họ cũng tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhưng thường bị hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn lực và cơ hội phát triển.

II. Vấn Đề Phân Công Lao Động Trong Gia Đình Dân Tộc Tày

Mặc dù có sự tham gia của cả vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề trong phân công lao động. Sự bất bình đẳng trong việc chia sẻ công việc giữa hai giới vẫn còn phổ biến, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của hộ gia đình.

2.1. Thách Thức Trong Phân Công Lao Động

Một trong những thách thức lớn nhất là sự phân chia công việc không đồng đều giữa vợ và chồng. Trong nhiều gia đình, người chồng thường đảm nhận các công việc nặng nhọc, trong khi người vợ chủ yếu làm các công việc nhẹ nhàng hơn.

2.2. Nhận Thức Về Vai Trò Giới Trong Gia Đình

Nhận thức về vai trò giới trong gia đình dân tộc Tày đang dần thay đổi. Nhiều người chồng đã bắt đầu tham gia vào các công việc nội trợ, nhưng vẫn còn nhiều rào cản về mặt văn hóa và xã hội.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Phân Công Lao Động

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và khảo sát để thu thập dữ liệu từ các hộ gia đình dân tộc Tày tại xã Sóc Hà. Phương pháp này giúp làm rõ thực trạng phân công lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến nó.

3.1. Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn 60 hộ gia đình và 12 phỏng vấn sâu. Phương pháp này cho phép thu thập thông tin chi tiết về thực trạng phân công lao động trong gia đình.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích để xác định các xu hướng và mẫu hình trong phân công lao động giữa vợ và chồng. Phân tích này sẽ giúp hiểu rõ hơn về vai trò của từng giới trong gia đình.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Phân Công Lao Động

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự phân công lao động rõ rệt giữa vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất và tái sản xuất. Tuy nhiên, sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động cộng đồng vẫn còn hạn chế.

4.1. Sự Tham Gia Của Vợ Trong Hoạt Động Sản Xuất

Phụ nữ thường đảm nhận các công việc như chăm sóc cây trồng và gia súc, trong khi nam giới thực hiện các công việc nặng nhọc hơn. Điều này phản ánh sự phân công lao động truyền thống trong gia đình.

4.2. Kết Quả Từ Các Hoạt Động Cộng Đồng

Mặc dù có sự tham gia của cả hai giới trong các hoạt động cộng đồng, nhưng phụ nữ vẫn thường bị hạn chế trong việc thể hiện vai trò của mình. Điều này cần được cải thiện để nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội.

V. Kết Luận Về Phân Công Lao Động Trong Gia Đình Dân Tộc Tày

Phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc Tày tại Sóc Hà cần được xem xét và cải thiện để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong sản xuất. Việc thay đổi nhận thức về vai trò giới là cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các hộ gia đình.

5.1. Tương Lai Của Phân Công Lao Động

Tương lai của phân công lao động trong gia đình dân tộc Tày sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi trong nhận thức và hành vi của cả hai giới. Cần có các chính sách hỗ trợ để thúc đẩy sự bình đẳng giới trong gia đình.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Cải Thiện

Cần có các chương trình giáo dục và tuyên truyền để nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Điều này sẽ giúp cải thiện tình hình phân công lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống cho các hộ gia đình.

15/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp thực trạng phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc tày nghiên cứu trường hợp tại xã sóc hà huyện hà quảng tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Gia đình là tế bào của xã hội, thực hiện các chức năng cơ bản như: chức năng duy trì nòi giống, chức năng kinh tế, chức năng chăm sóc giáo dục trẻ em và các chức năng xã hội khác. Trong đó, chức năng kinh tế gia đình có vai trò quan trọng nhằm tạo ra của cải, vật chất, là chức năng đảm bảo sự sống còn của gia đình. Ngoài ra, kinh tế hộ gia đình đã và đang đóng vai trò trọng yếu trong những thành công của ngành nông nghiệp. Trong đời sống nông hộ, phụ nữ và nam giới đều tham gia các hoạt động sản xuất tạo thu nhập nhằm phát triển kinh tế cho gia đình.

Các hoạt động tạo thu nhập trong nông hộ hết sức phong phú và đa dạng, từ việc làm đồng, trồng trọt, chăn nuôi đến các hoạt động mua bán nhỏ lẻ hoặc các nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn (Mai Huy Bích, 2009) Tuy nhiên, giữa nam giới và nữ giới vẫn có nhiều sự khác biệt trong phân công công việc sản xuất cũng như tái sản xuất. Lao động nữ thường là “lao động tự làm” và “lao động gia đình”. Đó là những nhóm lao động có công việc không ổn định và hầu như không được hưởng một loại hình bảo hiểm xã hội nào. Năm 2016, tỷ lệ lao động tự làm và lao động gia đình không được trả lương ở nữ giới cao hơn nam giới tới 12.

Đối với những công việc trong gia đình, phụ nữ dành trung bình mỗi tuần 20,2 giờ để dọn dẹp nhà cửa, giặt quần áo, nấu ăn và đi chợ, chăm sóc gia đình và con cái trong khi nam giới chỉ dành 10,7 giờ cho những công việc này. Gần 1/5 nam giới thậm chí không hề dành chút thời gian nào cho việc nhà (Tổ chức Lao đông Quốc tế (ILO), 2021). Đặc biệt ở nông thôn, người ta vẫn quan niệm việc nhà là việc của phụ nữ, còn nam giới ít khi làm việc nhà vì họ nghĩ rằng: Nam giới là trụ cột gia đình nên chỉ làm việc lớn; nam giới làm những công việc nhà sẽ mất thể diện với mọi người trong gia đình, bạn bè, hàng xóm; trong khi phụ nữ làm việc nhà khéo hơn nam giới. Trách nhiệm của phụ nữ là sinh đẻ, nuôi dạy con gắn với nội trợ trong gia đình.

1 Trong sản xuất nông nghiệp, lao động nữ nông thôn chiếm 58,02% lực lượng lao động trong lĩnh vực nông- lâm- ngư nghiệp, riêng nông nghiệp lao động nữ chiếm 56,29% và họ đang sản xuất ra hơn 60% sản phẩm nông nghiệp phụ vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cả nước. Nhưng phụ nữ lại hạn chế hơn so với nam giới trong việc tiếp cận nguồn lực, nguồn vốn và thị trường trong hoạt động nông- lâm- ngư nghiệp ở nông thôn. Thực tế hiện nay cho thấy nam giới lại là đối tượng chủ yếu tham gia vào các lớp tập huấn kĩ thuật, trồng trọt, trồng cây lương thực, thực phẩm, nuôi trồng thủy sản: 70% nam giới tham gia vào các buổi tập huấn các khóa học về kĩ thuật mới, trong khi chỉ có 18% người phụ nữ nông thôn được tham gia vào buổi tập huấn đó. Phụ nữ chỉ chiếm 25% số người tham gia tập huấn về chăn nuôi và 10% trong tập huấn về trồng trọt (Tống Giang, 2020).

Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, trồng ngô từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả. Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Mặc dù, phân công lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp là mô hình lâu năm từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Người vợ, người chồng và các thành viên luôn luôn có một sự sắp xếp các công việc trong sản xuất, công việc thường ngày một cách thích hợp để đảm bảo cho cuộc sống và hạnh phúc của gia đình họ. Nhưng việc phân công lao động trong các gia đình sản xuất nông nghiệp thực sự cần thiết, việc phân chia công việc trong các giai đoạn của hoạt động trồng trọt như: trồng, thu hoạch, tiêu thụ nông sản và họat động chăn nuôi giúp cho vợ chồng san sẻ gánh nặng trog công việc. Ngoài ra các công việc khác trong gia đình cũng cần có sự phân công hợp lí giữa hai giới bởi nó sẽ quyết định đến hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp. Vậy ngày nay thực hiện phân công lao động sản xuất trong hộ gia đình như thế nào? Phân công lao động trong hoạt động tái sản xuất trong hộ gia đình ra làm sao? Để trả lời cho câu hỏi ở trên em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực 2 trạng phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc Tày (Nghiên cứu trường hợp tại xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng)”.

Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Tìm hiểu thực trạng phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc tày tại xã Sóc 1. Mục tiêu cụ thể  Tìm hiểu sự Phân công lao động trong hoạt động sản xuất của hộ gia đình dân tộc Tày tại xã Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng  Tìm hiểu sự Phân công lao động trong hoạt động tái sản xuất của hộ gia đình dân tộc Tày tại xã Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng  Tìm hiểu sự Phân công lao động trong hoạt động cộng đồng của hộ gia đình dân tộc Tày tại xã Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng 1. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 1.

Đối tượng nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc Tày tại xã Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng 1. Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình sản xuất nông nghiêp 1. Phạm vi nghiên cứu  Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện với những hộ gia đình dân tộc Tày sản xuất nông nghiệp từ năm 2019 trở lại đây.  Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại các hộ gia đình dân tộc Tày xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

 Phạm vi nội dung: Nghiên cứu phân công lao động trong gia đình là chủ đề được nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau: tìm hiểu phân công lao động giữa vợ và chồng, phụ nữ và nam giới trong các hoạt động theo các vai trò giới. Hoạt động phân công lao động có thể tìm hiểu dưới quan điểm của vợ và chồng, 3 của người chồng hoặc vợ. Trong phạm vi nội dung nghiên cứu, đề tài nghiên cứu phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình được nghiên cứu theo vai trò giới: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất, vai trò cộng đồng. Đề tài nghiên cứu phân công lao động giữa vợ và chồng dưới quan điểm của người chồng, để tìm hiểu sự tham gia giữa vợ và chồng trong sản xuất nông nghiệp 4 PHẦN 2.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan nghiên cứu tài liệu 2. Lý thuyết cấu trúc – chức năng Lý thuyết cấu trúc chức năng ra đời vào những năm 40 – 50 của thế kỷ XX. Lý thuyết này cho rằng phụ nữ và nam giới là những bộ phận khác nhau tạo nên hệ thống xã hội và có quan hệ về mặt xã hội hết sức chặt chẽ.

Việc thực hiện chức năng và vai trò xã hội giữa phụ nữ và nam giới trong phạm vi gia đình và cộng đồng là một trong những yếu tố thể hiện mối quan hệ xã hội giữa họ. Trong thuật ngữ vai trò giới, các nhà chức năng tranh luận rằng trong các xã hội tiến công nghiệp, ví dụ xã hội phụ thuộc vào săn bắn phụ thuộc vào săn bắn, hái lượm, nam giới và phụ nữ hoàn toàn khác nhau trong các vai trò và thực hiện những nhiệm vụ khác nhau bởi vì điều đó hữu ích cho xã hội. Với vai trò đi săn, nam giới thường xuyên di chuyển khỏi nhà, do vậy, trọng tâm vai trò của họ là trách nhiệm đem lương thực, thực phẩm về gia đình. Phụ nữ bị hạn chế nhiều hơn trong việc di chuyển vì phụ nữ còn phải thực hiện chức năng sinh sản nên phụ nữ thường ở nhà và thực hiện chức năng chăm sóc con cái và nội trợ.

Ngay cả khi phụ nữ có thể tham gia sản xuất nông nghiệp thì họ vẫn phải phụ thuộc nhiều vào nam giới về lương thực và sự bảo vệ. Vai trò chủ đạo của nam giới được thừa nhận, tạo nên một hình mẫu mà ở đó các hoạt động của nam giới trở nến có giá trị cao hơn các hoạt động của nữ giới. Chính vì vậy , những hình mẫu đó trở nên khó biến đổi, dựa trên một niềm tin rằng sự phân tầng theo giới là không thể tránh khỏi liên quan đến sự khác biệt giới tính sinh học (Hoàng Bá Thịnh, 2008). Mặc dù sự phân công lao động nam - nữ là hình thức tổ chức lao động trong xã hội đã có từ rất lâu đời nhưng điều đó không có nghĩa là nó không bị biến đổi.

Trái lại, vị trí, vai trò của phụ nữ phụ thuộc rất nhiều vào cách phân công lao động theo giới và cách tổ chức lao động trong xã hội hiện đại đã có những thay đổi rất to lớn. Xu thể ngày nay, sự phân công lao động trong gia đình được nhận thức rõ ràng hơn vì thế, bắt đầu giảm đi sự bất bình đẳng về phân công lao động trong gia 5 đình. Về lý thuyết và trên nguyên tắc, phụ nữ có thể làm mọi việc mà nam giới làm và được trả công lao động theo nguyên tắc bình đẳng (Mai Huy Bích, 2009) Lý thuyết cấu trúc chức năng vận dụng vào đề tài phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc Tày. Theo đó đời sống gia đình gồm nhiều hoạt động và thực hiện chức năng quan trọng để đảm bảo duy trì và ổn định trong gia đình.

Những hoạt động đó bao gồm hoạt động sản xuất, tái sản xuất, hoạt động cộng đồng. Mỗi hoạt động đều có vai trò quan trọng trong gia đình. Vì vậy, trong gia đình đều cần thiết có sự tham gia của các thành viên đặc biệt là vợ - chồng. Lý thuyết vị thế - vai trò Lý thuyết này nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của xã hội và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định được thừa nhận trong cơ cấu xã hội và gắn liền với những quyền lợi, nghĩa vụ mà một người phải đối mặt và thực hiện đầy đủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ