Đặt vấn đề Gia đình là tế bào của xã hội, thực hiện các chức năng cơ bản như: chức năng duy trì nòi giống, chức năng kinh tế, chức năng chăm sóc giáo dục trẻ em và các chức năng xã hội khác. Trong đó, chức năng kinh tế gia đình có vai trò quan trọng nhằm tạo ra của cải, vật chất, là chức năng đảm bảo sự sống còn của gia đình. Ngoài ra, kinh tế hộ gia đình đã và đang đóng vai trò trọng yếu trong những thành công của ngành nông nghiệp. Trong đời sống nông hộ, phụ nữ và nam giới đều tham gia các hoạt động sản xuất tạo thu nhập nhằm phát triển kinh tế cho gia đình.
Các hoạt động tạo thu nhập trong nông hộ hết sức phong phú và đa dạng, từ việc làm đồng, trồng trọt, chăn nuôi đến các hoạt động mua bán nhỏ lẻ hoặc các nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn (Mai Huy Bích, 2009) Tuy nhiên, giữa nam giới và nữ giới vẫn có nhiều sự khác biệt trong phân công công việc sản xuất cũng như tái sản xuất. Lao động nữ thường là “lao động tự làm” và “lao động gia đình”. Đó là những nhóm lao động có công việc không ổn định và hầu như không được hưởng một loại hình bảo hiểm xã hội nào. Năm 2016, tỷ lệ lao động tự làm và lao động gia đình không được trả lương ở nữ giới cao hơn nam giới tới 12.
Đối với những công việc trong gia đình, phụ nữ dành trung bình mỗi tuần 20,2 giờ để dọn dẹp nhà cửa, giặt quần áo, nấu ăn và đi chợ, chăm sóc gia đình và con cái trong khi nam giới chỉ dành 10,7 giờ cho những công việc này. Gần 1/5 nam giới thậm chí không hề dành chút thời gian nào cho việc nhà (Tổ chức Lao đông Quốc tế (ILO), 2021). Đặc biệt ở nông thôn, người ta vẫn quan niệm việc nhà là việc của phụ nữ, còn nam giới ít khi làm việc nhà vì họ nghĩ rằng: Nam giới là trụ cột gia đình nên chỉ làm việc lớn; nam giới làm những công việc nhà sẽ mất thể diện với mọi người trong gia đình, bạn bè, hàng xóm; trong khi phụ nữ làm việc nhà khéo hơn nam giới. Trách nhiệm của phụ nữ là sinh đẻ, nuôi dạy con gắn với nội trợ trong gia đình.
1 Trong sản xuất nông nghiệp, lao động nữ nông thôn chiếm 58,02% lực lượng lao động trong lĩnh vực nông- lâm- ngư nghiệp, riêng nông nghiệp lao động nữ chiếm 56,29% và họ đang sản xuất ra hơn 60% sản phẩm nông nghiệp phụ vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cả nước. Nhưng phụ nữ lại hạn chế hơn so với nam giới trong việc tiếp cận nguồn lực, nguồn vốn và thị trường trong hoạt động nông- lâm- ngư nghiệp ở nông thôn. Thực tế hiện nay cho thấy nam giới lại là đối tượng chủ yếu tham gia vào các lớp tập huấn kĩ thuật, trồng trọt, trồng cây lương thực, thực phẩm, nuôi trồng thủy sản: 70% nam giới tham gia vào các buổi tập huấn các khóa học về kĩ thuật mới, trong khi chỉ có 18% người phụ nữ nông thôn được tham gia vào buổi tập huấn đó. Phụ nữ chỉ chiếm 25% số người tham gia tập huấn về chăn nuôi và 10% trong tập huấn về trồng trọt (Tống Giang, 2020).
Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, trồng ngô từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả. Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Mặc dù, phân công lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp là mô hình lâu năm từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Người vợ, người chồng và các thành viên luôn luôn có một sự sắp xếp các công việc trong sản xuất, công việc thường ngày một cách thích hợp để đảm bảo cho cuộc sống và hạnh phúc của gia đình họ. Nhưng việc phân công lao động trong các gia đình sản xuất nông nghiệp thực sự cần thiết, việc phân chia công việc trong các giai đoạn của hoạt động trồng trọt như: trồng, thu hoạch, tiêu thụ nông sản và họat động chăn nuôi giúp cho vợ chồng san sẻ gánh nặng trog công việc. Ngoài ra các công việc khác trong gia đình cũng cần có sự phân công hợp lí giữa hai giới bởi nó sẽ quyết định đến hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp. Vậy ngày nay thực hiện phân công lao động sản xuất trong hộ gia đình như thế nào? Phân công lao động trong hoạt động tái sản xuất trong hộ gia đình ra làm sao? Để trả lời cho câu hỏi ở trên em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực 2 trạng phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc Tày (Nghiên cứu trường hợp tại xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng)”.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Tìm hiểu thực trạng phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc tày tại xã Sóc 1. Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu sự Phân công lao động trong hoạt động sản xuất của hộ gia đình dân tộc Tày tại xã Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng Tìm hiểu sự Phân công lao động trong hoạt động tái sản xuất của hộ gia đình dân tộc Tày tại xã Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng Tìm hiểu sự Phân công lao động trong hoạt động cộng đồng của hộ gia đình dân tộc Tày tại xã Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng 1. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc Tày tại xã Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng 1. Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình sản xuất nông nghiêp 1. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện với những hộ gia đình dân tộc Tày sản xuất nông nghiệp từ năm 2019 trở lại đây. Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại các hộ gia đình dân tộc Tày xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu phân công lao động trong gia đình là chủ đề được nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau: tìm hiểu phân công lao động giữa vợ và chồng, phụ nữ và nam giới trong các hoạt động theo các vai trò giới. Hoạt động phân công lao động có thể tìm hiểu dưới quan điểm của vợ và chồng, 3 của người chồng hoặc vợ. Trong phạm vi nội dung nghiên cứu, đề tài nghiên cứu phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình được nghiên cứu theo vai trò giới: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất, vai trò cộng đồng. Đề tài nghiên cứu phân công lao động giữa vợ và chồng dưới quan điểm của người chồng, để tìm hiểu sự tham gia giữa vợ và chồng trong sản xuất nông nghiệp 4 PHẦN 2.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan nghiên cứu tài liệu 2. Lý thuyết cấu trúc – chức năng Lý thuyết cấu trúc chức năng ra đời vào những năm 40 – 50 của thế kỷ XX. Lý thuyết này cho rằng phụ nữ và nam giới là những bộ phận khác nhau tạo nên hệ thống xã hội và có quan hệ về mặt xã hội hết sức chặt chẽ.
Việc thực hiện chức năng và vai trò xã hội giữa phụ nữ và nam giới trong phạm vi gia đình và cộng đồng là một trong những yếu tố thể hiện mối quan hệ xã hội giữa họ. Trong thuật ngữ vai trò giới, các nhà chức năng tranh luận rằng trong các xã hội tiến công nghiệp, ví dụ xã hội phụ thuộc vào săn bắn phụ thuộc vào săn bắn, hái lượm, nam giới và phụ nữ hoàn toàn khác nhau trong các vai trò và thực hiện những nhiệm vụ khác nhau bởi vì điều đó hữu ích cho xã hội. Với vai trò đi săn, nam giới thường xuyên di chuyển khỏi nhà, do vậy, trọng tâm vai trò của họ là trách nhiệm đem lương thực, thực phẩm về gia đình. Phụ nữ bị hạn chế nhiều hơn trong việc di chuyển vì phụ nữ còn phải thực hiện chức năng sinh sản nên phụ nữ thường ở nhà và thực hiện chức năng chăm sóc con cái và nội trợ.
Ngay cả khi phụ nữ có thể tham gia sản xuất nông nghiệp thì họ vẫn phải phụ thuộc nhiều vào nam giới về lương thực và sự bảo vệ. Vai trò chủ đạo của nam giới được thừa nhận, tạo nên một hình mẫu mà ở đó các hoạt động của nam giới trở nến có giá trị cao hơn các hoạt động của nữ giới. Chính vì vậy , những hình mẫu đó trở nên khó biến đổi, dựa trên một niềm tin rằng sự phân tầng theo giới là không thể tránh khỏi liên quan đến sự khác biệt giới tính sinh học (Hoàng Bá Thịnh, 2008). Mặc dù sự phân công lao động nam - nữ là hình thức tổ chức lao động trong xã hội đã có từ rất lâu đời nhưng điều đó không có nghĩa là nó không bị biến đổi.
Trái lại, vị trí, vai trò của phụ nữ phụ thuộc rất nhiều vào cách phân công lao động theo giới và cách tổ chức lao động trong xã hội hiện đại đã có những thay đổi rất to lớn. Xu thể ngày nay, sự phân công lao động trong gia đình được nhận thức rõ ràng hơn vì thế, bắt đầu giảm đi sự bất bình đẳng về phân công lao động trong gia 5 đình. Về lý thuyết và trên nguyên tắc, phụ nữ có thể làm mọi việc mà nam giới làm và được trả công lao động theo nguyên tắc bình đẳng (Mai Huy Bích, 2009) Lý thuyết cấu trúc chức năng vận dụng vào đề tài phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc Tày. Theo đó đời sống gia đình gồm nhiều hoạt động và thực hiện chức năng quan trọng để đảm bảo duy trì và ổn định trong gia đình.
Những hoạt động đó bao gồm hoạt động sản xuất, tái sản xuất, hoạt động cộng đồng. Mỗi hoạt động đều có vai trò quan trọng trong gia đình. Vì vậy, trong gia đình đều cần thiết có sự tham gia của các thành viên đặc biệt là vợ - chồng. Lý thuyết vị thế - vai trò Lý thuyết này nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của xã hội và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định được thừa nhận trong cơ cấu xã hội và gắn liền với những quyền lợi, nghĩa vụ mà một người phải đối mặt và thực hiện đầy đủ.