ĐẶT VẤN ĐỀ Ô nhiễm môi trường hiện nay vẫn là vấn đề bức xúc của mỗi quốc gia, trong đó bảo vệ môi trường đang là thách thức lớn đối với chúng ta cũng như toàn nhân loại. Hành tinh của chúng ta chưa bao giờ phải đối mặt với những vấn đề môi trường nghiêm trọng như hiện nay, nó không những ảnh hưởng xấu mà còn đe dọa trực tiếp đến sự phát triển và tồn tại cả nhân loại [5], [25], [11], [22]. Vấn đề ô nhiễm môi trường đã trở thành nỗi lo của toàn dân. Hầu hết dân số trên thế giới từng ngày từng giờ tiếp nhận vào cơ thể nhiều chất độc hại qua con đường tiêu hóa, hô hấp, trong đó có một số kim loại độc hại như chì, thủy ngân, asen…Từ những năm 1970 trở lại đây, khối lượng Pb, Cd, As được con người đào thải vào vào môi trường đã tăng gấp bội.
Chúng làm ô nhiễm nhiều vùng trên thế giới, xâm nhập vào thức ăn qua môi trường nước tưới và nước sinh hoạt.000 người bị nhiễm độc nông dược, 70.000 người bị mắc bệnh vì uống nước không hợp vệ sinh [20], [24]. Kết quả kiểm tra môi trường năm 2007 của gần 200 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khu công nghiệp trên cả nước cho thấy trên 70% cơ sở có nước thải ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. Hơn 80% cơ sở không thực hiện đúng nội dung đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường. Hầu hết các cơ sở có phát sinh chất thải nhưng không có hệ thống xử lý chất thải hoặc có nhưng không đạt tiêu chuẩn.
Các ngành công nghiệp, đặc biệt là kim loại phát triển nhanh trong khi cơ sở hạ tầng và khả năng kiểm soát ô nhiễm không bắt kịp nên ô nhiễm môi trường có nguy cơ tăng nhanh và ngày càng trầm trọng. Các ngành luyện kim thải ra nhiều khí độc sinh ra trong quá trình luyện chì, kẽm và kim loại màu khác như asen, thủy ngân…[1]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 2 Theo kết quả điều tra của Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên năm 2008, có tới 31 cơ sở gây ô nhiễm môi trường và 17 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân [26]. Trong các khu công nghiệp lớn của chúng ta, khu công nghiệp khai khoáng, tuyển quặng kim loại màu là một trong những ngành công nghiệp chính.
Xung quanh vùng tiếp giáp với khu vực này có rất nhiều dân cư sinh sống, bất kỳ một cơ sở sản xuất kinh doanh nào hoạt động đều đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân, cho nền kinh tế quốc dân thì mặt trái của nó vẫn có thể tác động, gây ô nhiễm môi trường các khu vực xung quanh, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cộng đồng dân cư. Đã có những công trình nghiên cứu và nhiều tác giả đề cập vấn đề ô nhiễm môi trường bởi các khu vực sản xuất của nhà máy, xí nghiệp và ảnh hưởng đến sức khỏe công nhân. Tuy nhiên, việc đánh giá khả năng phát tán các chất ô nhiễm ra xung quanh khu vực dân cư vùng tiếp giáp đặc biệt là chì cùng với sự ảnh hưởng của nó đến sức khỏe của người dân xung quanh xí nghiệp kẽm chì là chưa hệ thống [1]. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ô nhiễm môi trường nước giếng do chì và bệnh tật người trưởng thành sống xung quanh xí nghiệp kẽm chì Làng Hích, Thái Nguyên” với các mục tiêu sau: 1.
Xác định mức độ ô nhiễm chì trong nước giếng của người dân sống xung quanh xí nghiệp kẽm chì Làng Hích, Thái Nguyên, năm 2011. Mô tả thực trạng bệnh tật của người trưởng thành sống xung quanh xí nghiệp kẽm chì Làng Hích, Thái Nguyên, năm 2011. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Ô nhiễm môi trƣờng Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật [33].
Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hóa chất độc hại, các loại vi khuẩn gây bệnh, vi rút, ký sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau như chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất…được đẩy ra các ao, hồ, sông, suối hoặc ngấm xuống nước dưới đất mà không qua xử lý hoặc khối lượng quá lớn vượt quá khả năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại ao, hồ, sông, suối. Ô nhiễm môi trường do sản xuất nói chung Từ thế kỷ XIX nhiều nhà vật lý học, y học như Ericman, Parscelus, Genman (1800 - 1915) đã phát hiện ra các hoá chất và dung môi độc hại được sử dụng trong chế biến các kim loại màu, tác giả đã cho thấy có rất nhiều kim loại có nhiễm chì, asen, thuỷ ngân. Bước vào đầu thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện các công trình nghiên cứu về điều kiện môi trường làm việc, các yếu tố độc hại cũng như các bệnh nghề nghiệp. Đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Lanphear, Succop, P.
Các công trình nghiên cứu về điều kiện lao động và các yếu tố độc hại của các tác giả trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề bệnh lý, giúp cho các nhà lâm sàng tìm ra nguyên nhân và phương thức điều trị những trường hợp bệnh nghề nghiệp và nhiễm độc [44]. Ô nhiễm môi trường nước do khai thác mỏ Đặc điểm qui trình khai thác, tuyển quặng tại các khu vực mỏ khai thác, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 4 khu chế biến khoáng sản, tuyến đường vận chuyển đất đá thải, sản phẩm, mức độ gây ô nhiễm môi trường là rất lớn, ô nhiễm môi trường do nguồn nước thải phát sinh từ quá trình chế biến, tuyển rửa với đặc thù ô nhiễm về kim loại nặng, chất rắn lơ lửng,.[50] Hoạt động khai thác mỏ: Kim loại nặng và các loại hóa chất nguy hại phát sinh trong khai thác mỏ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của những người tiếp xúc và gây ra các bệnh có liên quan tới mắt, da, mũi họng; những bệnh tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn máu, thận, gan; thậm chí có thể gây ra các bệnh ung thư, phá hủy hệ thần kinh trung ương, gây ra các dị dạng bẩm sinh. Nguồn nước mặt và nước ngầm cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi hoạt động này [39]. Các chất độc hại, kim loại nặng theo các nguồn nước từ mỏ gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm khu dân cư, có khi gần thậm chí có sự xen kẽ với khu vực dân cư sinh sống và thường chưa có các biện pháp bảo vệ hữu hiệu, nên các chất độc hại được thải từ khu khai thác, ảnh hưởng trực tiếp không chỉ với công nhân mà cả cư dân sống tiếp giáp với khu vực khai thác và chế biến.
Các kết quả nghiên cứu của Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường cho thấy môi trường các khu vực khai thác, chế biến kim loại màu ở phía Bắc nước ta như mỏ kẽm chì Làng Hích, mỏ chì kẽm Bản Thi, mỏ Mangan Cao Bằng, mỏ thiếc Sơn Dương…thường có hàm lượng kim loại nặng vượt giới hạn cho phép từ 2-10 lần về chì, 1,5-5 lần về Asen, 2-15 lần về kẽm…Tại mỏ than lộ thiên Khánh Hòa nồng độ bụi than và bụi đá trong môi trường có lúc lên tới 42mg/m3 1. Ô nhiễm môi trƣờng do chì 1. Đặc điểm lý, hóa của chì Chì là kim loại nặng màu xanh xám dễ dát thành lá mỏng và kéo thành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 5 sợi, nhiệt độ chảy của chì bằng 2370C và nhiệt độ sôi của chì bằng 1525 0C. Chì bị hòa tan nhanh bởi acid nitric; chì dễ tan trong các chất hữu cơ (như acid acetic, thực phẩm có môi trường acid) và trong nước có chứa muối nitrat Chì được con người phát hiện và khai thác cách đây 8.000 năm dưới dạng quặng như galen [12], [28].
Chì là kim loại có ích và được biết đến từ thời thượng cổ cùng với các kim loại khác như vàng, bạc, đồng, thủy ngân, sắt. Chì tác dụng trên bề mặt dung dịch H2SO4 ở nồng độ thấp hơn 80% tạo thành lớp muối khó tan. Con người sử dụng tính chất này để sản xuất ắc quy chì. Ngoài ra, chì còn được sử dụng để sản xuất vỏ dây cáp, đầu đạn, ống dẫn nước và chế tạo các thiết bị bảo vệ khỏi tia phóng xạ [38].
Chì có trong thành phần của nhiều hợp kim như hợp kim cho ổ trục, hợp kim in, que hàn. PbO được dùng làm nguyên liệu trong các nhà máy sản xuất ắc quy chì, trong nhà máy sản xuất dụng cụ quang học, chế tạo thủy tinh [10]. Pb3O4 (Minium) được dùng chủ yếu trong sản xuất thủy tinh, men đồ sứ và trong công nghiệp chế tạo sơn. Chì Axetat được sử dụng trong ngành nhuộm và trong y học.
Chì cacbonat là chất bột màu trắng không tan trong nước được dùng để làm sơn dầu màu trắng nên được gọi là “trắng chì”. Tetraetyl chì là chất lỏng, nặng, độc. Nó là hợp chất cơ kim, là chất chống kích nổ, một lượng nhỏ Tetraetyl chì làm giảm mạnh sự nổ. Các hợp chất cả chì IV đều là chất ô xi hóa mạnh, trong đó PbO2 (oxyt chì) được ứng dụng thực tế trong công nghiệp hóa học.
Chì cromat (PbCrO4) màu vàng đẹp dùng pha sơn. Chì được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, y tế và đời sống hàng ngày vì vậy nguy cơ ô nhiễm môi trường do chì là không tránh khỏi. Chì là một chất gây ô nhiễm, sự ô nhiễm chì bắt đầu xuất hiện cùng kỹ thuật khai thác mỏ và nấu quặng chì. Thực tế cho thấy sự ô nhiễm chì trên bề mặt trái đất đã tăng gấp 10 lần so với lượng chì vốn có quá trình hình thành đất.
Chì có nhiều trong lớp vỏ trái đất với hàm lượng 10 -20 mg/kg [19], [25]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.vn download by : skknchat@gmail. Sự tồn lưu và các con đường xâm nhập của chì vào cơ thể con người Môi trường luôn bị đe dọa ô nhiễm chì từ các hoạt động trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông…Con người tiếp xúc với chì thông qua không khí, đất, nước theo hai loại hình tiếp xúc là nguồn tiếp xúc nghề nghiệp và không nghề nghiệp [12]. NƢỚC THẢI ĐẤT NƯỚC NGẦM Nƣớc bề mặt Cây Động vật THỨC ĂN Đồ uống CON NGƢỜI Sơ đồ 1.