mở đầu tại Tây Bengal, 92.000 người (bao gồm cả trẻ em) đã được kiểm tra tại 7 trong 9 vùng bị ảnh hưởng. Có ít nhất 100 ca ung thư và hàng trăm trường hợp nghi ngờ mắc các bệnh đường ruột.000 mẫu vi sinh tại các làng bị ô nhiễm, trung bình 78% mẫu đều có chứa Asen trên mức thông thường (theo Chakraborti, 2004) [33], Như vậy, rất nhiều rigười sổng tại các khu vực đó có thể bị nhiễm độc. Ngoài Tây Bengal, tại Án Độ còn có nhiều khu vực bị ô nhiễm Asen. Các vùng như Bihar, Behala, Calcuta, Hyderabad, Andhra Pradesh, Bắc Án Độ.
cũng đang phải đối mặt với vấn nạn ô nhiễm Asen trong nước ngầm [30] [33] [39]. Đài Loan nổi lên như là một trong những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất của ô nhiễm Asen, từ khi bùng phát bệnh “bàn chân đen” tại vùng tây nam nước này. Một vài trường hợp mấc bệnh “bàn chân đen” được tìm thấy từ thời kỳ đầu thế kỷ 20 và hé lộ tỷ lệ đáng chú ý giữa những năm 1956 và 1960 với tỷ lệ phổ biến từ 6,51 đến 18,85 trên 1.000 dân trong những ngôi làng có điều kiện dịch tễ khác nhau tại tây nam Đài Loan (theo Tseng, 2003) [27] [40]. Theo Blackwell, 1961, nồng độ Asen trong 13 giếng phun nằm trong khoảng 0,24 —0,9 mg/1.
Theo một nghiên cứu khác của Chen, 1962, điều tra 34 giếng phun, nồng độ Asen đo được từ 0,35 -1,1 mg/1. 1968, Kuo thực hiện một nghiên cứu lớn hơn với 97 giếng phun tại 42 ngôi làng của sáu quận/huyện trong vùng dich tễ ô nhiễm Asen, và đã thấy được độ tập trung Asen trong nước giếng là từ 0,01-1 mg/1, nông độ trung bình là 0,5 mg/l. Tại khu vực tây nam, nồng độ Asen trong nước giếng phun cao hơn nước lấy từ giếng nông, hệ số tương quan r=0,627 (p<0,01). As+5 là dạng chủ yếu của Asen trong nước giếng phun [39] [40].
Các nước châu Á như Nhật Bản, Nepal, Iran, Srilanka và Việt Nam cũng nàm trong vùng ảnh hưởng cùa ô nhiễm Asen trong nước ngầm [30] [32] [33], Phát biểu tại 11 cuộc hội thảo bàn về giải pháp giảm nhẹ hàm lượng Asen do UNICEF tổ chức, diễn ra tại thủ đô Bangladesh năm 2006, chuyên gia về nguồn nước, môi trường và vệ sinh cùa UNICEF, Risk Johnson, nhận định rằng chất Asen trong nước uống đang ảnh hường tới hơn 137 triệu người trên thế giới, 60 triệu người trong số đó bị ảnh hưởng nặng nề và trên 80% sổng ở châu Ă [18] [26]. Không chì riêng .các quốc gia châu Á, rất nhiều quốc gia châu Mỹ và châu Âu cũng đã và đang phải chịu tác động ô nhiễm Asen. Hàng trăm nghìn người tại Mexico, mà phần lớn sống ở nông thôn bị phơi nhiễm Asen với nồng độ trên 50 p. Những tỉnh thành tại Argentina có nồng độ Asen trong nước giếng cao: Cordoba, Salta, Lapampa.
Một mô tả vùng ô nhiễm rõ nhất là Cordoba, nồng độ Asen trong nước giếng có thể lên tới 2 mg/1 [33] [39]. Tại Canada, Asen được tìm thấy ở các giếng khoan vùng núi Rocky bang Ontario và hạt Halifax bang Nova Scotia. Chile, khu vực được xác định là bị ô nhiễm Asen Antofagasta, nguồn nước có chửa lượng Asen cao là sông Tocance. Nồng độ Asen dao động từ 0,06 - 4,0 mg/1 trong nước giếng tại Hungary (theo Egyedi và Pataky, 1978; Nagy và Korom, 1983).
Tương tự như nhiều quốc gia khác, tại Iran, nguồn gây ô nhiễm nước uống là Asen trong tự nhiên. Một vài ngôi làng, lượng Asen trong nước cung cấp cao hơn 1,0 mg/1, trung bỉnh là 0,29 mg/1 [33]. Trong suốt những năm 1963 - 1983, phơi nhiễm lâu dài Asen trong nước uống ờ 6 vùng của Lagunera, trung tâm phía bắc Mexico, với dân số 200. Asen dạng vô cơ với hóa trị 5 chiếm phần lớn, tới 93% các mẫu nước giếng được kiểm tra, tống nồng độ Asen trong khoảng 0,008 — 0,624 mg/1 (theo Del Razo, 1990).
Ô nhiễm Asen trong nước ngầm còn có ở các nước New Zealand, Ba Lan, Tây Ban Nha, Mỹ [33] [39]. Rất nhiều vùng/lãnh thổ trên thế giới có thể bị ô nhiễm Asen do các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp. Cạc quá trình khai thác mỏ, sàn xuất thủy tỉnh, sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật. đều khiến cho môi trường bị ô nhiễm Asen.
0 nhiễm Asen theo cách này đã được phát hiện ở úc, Bulgaria, Canada, Trung Quốc, Cộng hòa Séc và Slovakia, Đức, I ■ 12 Ghana, Hy Lạp, Nhật Bản, Mexico, Bắc Thụy Điển, Philipines, Thái Lan, Anh, Mỹ [33] [39] [40], 1. Thực trạng ô nhiễm Asen trong nước ngầm ờ Việt Nam 1. Phạm vi ô nhiễm Asen trong nước ngẩm Theo tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống mới của tổ chức Y tế thế giới (WHO) (ban hành năm 2001), hàm lượng Asen trong nước sinh hoạt không được vượt quá 0,01 mg/1. Từ 18/4/2002, Bộ Y tế Việt Nam đã đưa vào áp dụng tiêu chuẩn này của WHO (trước đây ỉà <0,05mg/l) [15].
Với tiêu chuẩn mới này, nguồn nước ngầm tại nhiều tỉnh thành tại Việt Nam đã được xác định là có nhiễm Asen. Theo ước tính thì có 13,5% dân số Việt Nam đang sử dụng nước ăn từ giếng khoan - nguồn nước dễ bị ô nhiễm Asen nhất [8]. Điều này đồng nghĩa với việc hàng chục triệu người Việt Nam đang có nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến nhiễm độc Asen. Do đó, việc nghiên cứu về hiện trạng ô nhiễm Asen tại Việt Nam là vô cùng quan trọng.
Nghiên cứu về Asen đã được tiến hành ở Việt Nam từ trước khi hàm lượng Asen cao trong nước được phát hiện ở Bangladesh. Tuy nhiên, khi đó vấn đề này chưa được quan tâm đầy đủ vì khối lượng mẫu nhỏ và tỳ lệ ô nhiễm phát hiện thấp. Sau sự phát hiện một số lớn những giếng khoan bị nhiễm Asen ờ Bangladesh, Việt Nam đã tập trung vào nghiên cứu về sự ô nhiễm của Asen vì điều kiện địa chất giữa Bangladesh và các vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long của Việt Nam rất giống nhau. Vào đầu những năm 1990, vấn đề ô nhiễm Asen được biết đen qua các nghiên cứu của Viện Địa chất và các Liên đoàn địa chất về đặc điểm địa chất thủy văn và đặc điểm phân bố Asen trong tự nhiên, các dị thường Asen.
Theo nghiên cứu khảo sát phân tích nước bề mặt và các nguồn nước đổ ra sông Mã ở khu vực Đông - Nam bàn Phúng (tỉnh Sơn La), hàm lượng Asen trong các mẫu nướ.c đều vượt quá 0,05mg/l (tiêu chuẩn cũ) [6] [26], Từ 1995 đến 2000, nhiều công trình nghiên cửu điều tra về nguồn gốc Asen có trong nước ngầm, mức độ ô nhiễm, chu trinh vận chuyển. đã tìm thấy nồng độ Asen trong các mẫu nước khảo sát ở khu vực thượng lưu sông Mã, Sơn La, Phú Thọ, Bắc Giang, Hưng Yên, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa. đều vượt TCCP đổi với nước sinh hoạt của quốc tế và Việt Nam. Từ tháng 11/2003 đến tháng 4/2004, khảo sát trên diện rộng ở 12 tỉnh với 12.461 mẫu phân tích từ các giếng khoan cho thấy các tỉnh thuộc lưu vực sông 13 Hồng là Hà Nam, Nam Định, Hà Tây, Hưng Yên, Hài Dương đều bị ô nhiễm Asen ờ các mức độ từ nhẹ đến nặng.
Biểu đồ khảo sát mức độ ó nhiễm Asen trong nước giếng khoan ở 12 tình thành trong cả nước - tháng 4/2004 (Nguồn: Arsenic. Chương trình Nước sạch, Vệ sinh và Môi trường UNICEF Việt Nam [2]) Không chì ờ các tỉnh đồng bang Bắc Bộ, theo khảo sát của các cơ quan chức nàng, nguồn nước ngầm tại một sổ tinh đồng bàng sông Cửu Long như Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Long An. cũng đang có độ ô nhiễm Asen ờ mức báo động. Cục Quàn lý Tài nguyên nước đã điểu tra tại một số tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Bạc Liêu, Kiên Giang và Sóc Trăng.
Kết quà, trong tồng sổ 14.119 mẫu phân tích ớ 484 xã được điều tra có 7,1% số mẫu có hàm lượng asen từ 0,01 mg/1 trờ lên, sé mẫu có hàm lượng từ 0,05 mg/1 trở lên chiếm 5,7%. Tại huyện An Phú (An Giang), trong 260 mẫu phân tích có 253 mẫu vượt TCCP chiếm 92% số mẫu, trong đó tỳ lệ vượt tiêu chuẩn 0,05 mg/1 là 97,3%. Hoặc tại huyện Thanh Bình (Đồng Tháp) cũng có tới 63% vượt TCCP 0,05 mg/1 [15] [35], 1. Mức độ ỏ nhiễm Asen trong nước ngầm Ô nhiễm Asen ở nước ta nổi lên một vài điểm nóng với mức ô nhiễm trầm trọng.
Điển hỉnh là các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Hà Tây. Ti lệ mẫu có hàm lượng Asen vượt quá tiêu chuẩn ờ Hà Tây là 46,8%, ở Nam Định là gần 30% riêng ở Hà Nam là 57%. Ở Hà Nam, trong lúc nước mặt bị ô nhiễm trầm trọng bởi sản xuất và sinh hoạt thì ô nhiễm nước ngầm do Asen cũng thuộc hàng cao nhất toàn quốc, có nơi gấp 100 — 500 lần mức cho phép. Theo “Những xét nghiệm Asen trong nước ngâm ờ 3 xã Hoà Hậu, Bô Đê, Vĩnh Trụ, năm 2003” cho thấy hàm lượng Asen thực tế dao động khác nhau ở 3 xã, tuy nhiên, có tới 94,4% số giếng khoan có nồng độ Asen cao hơn 0,01mg/l và 62% số giếng khoan có nồng độ trên 0,05mg/l.
Điều đáng lo ngại là hơn 57% sổ mẫu đều có hàm lượng Asen từ 0,lmg/1 đến trên 0,5mg/l. Ở một số nơi hàm lượng Asen vượt quá l,25mg/l. UNICEF khẳng định mức độ ô nhiễm Asen của Hà Nam nghiêm trọng như ở Bangladesh - nơi được đánh giá là có độ ô nhiễm Asen cao trên thế giới. Bên cạnh Hà Nam, khu vực phía nam Hà Nội cũng phải gánh chịu sự ô nhiễm Asen nặng nề.
Vào thời điểm năm 2000-2001, ô nhiễm Asen ở khu vực nam Hà Nội là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất ở Việt Nam. Có khoảng 34% số mẫu nghiên cửu tại đây có hàm lượng Asen vượt quá TCCP. Đáng chú ý, hàm lượng Asen trong nước ở khu vực Hà Nội có xu hướng cao hơn so với 5-6 năm trước. Trong khảo sát của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường năm 2006, huyện Thanh Trì và những quận nội thành phía Nam có tỳ lệ cao giếng khoan với nồng độ Asen cao hơn tiêu chuẩn quốc gia là 0,01 mg/1 và 60% số giếng khoan nhiễm Asen nghiêm trọng ở Thanh Trì vượt tiêu chuẩn được chap nhận là 0,05mg/l.
Những quận nội thành phía Nam đều có tình trạng như ở Thanh Tri với rất nhiều giếng khoan bị nhiễm Asen với hàm lượng cao. Các huyện Gia Lâm, Từ Liêm có ít vấn đề hơn nhưng cũng có một so đáng kể giếng nước bị ô nhiễm Asen. Tại Sóc Sơn và Đông Anh ít gặp tình trạng nước ngầm nhiễm Asen hơn [13]. Năm 2006, trong tổng số 17.