CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây Sâm dây 1. Giới thiệu về phân bố địa lý Cây Sâm dây hay Đảng sâm có tên khoa học là Codonopsis sp.
là loài cây dược liệu sử dụng củ. Cây thân leo, sống lâu năm, thường phân bố tại các vùng núi cao có khí hậu mát mẻ quanh năm. Cây sâm dây thuộc họ Hoa chuông (Campanulaceae). Đảng sâm phân bố nhiều ở vùng Đông Bắc Á.
Ở Việt Nam, trong thời gian 1961-1985 viện Dược liệu đã phát hiện Đảng sâm ở 14 tỉnh vùng núi phía Bắc; còn ở phía Nam chỉ thấy xuất hiện ở vùng Tây Nguyên. Vùng phân bố tập trung nhất ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam, Đà Nẵng, Lâm Đồng. Phân loại Giới : Plantae Phân giới : Tracheobionta Nhóm lớn : Spermatophyta Nhóm : Magnoliopsida Bộ : Campanulales Họ : Campanulaceae Loài : Codonopsis sp. Cây Sâm dây (Nguồn: http://www.
Hình thái Sâm dây là cây thảo sống lâu năm, có xu hướng leo bằng thân quấn, phân nhánh nhiều, phía dưới hơi có lông, phía ngọn nhẵn (Hình 1. Toàn thân có mủ trắng. Lá mọc đối, ít khi mọc so le; gốc lá hình tim; đầu lá nhọn, phiến lá mỏng hình trứng rộng, dài 3 - 8 cm, rộng 2 – 4 cm; mép nguyên lượn sóng hoặc hơi 4 download by : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Đình Trọng khía răng cưa; mặt trên màu lục nhạt; mặt dưới màu trắng xám, nhẵn hoặc có lông rải rác. Hoa mọc riêng ở kẽ lá.
Có cuống dài 2 – 6 cm. Đài có 5 phiến hẹp; tràng hình chuông, màu trắng hoặc hơi vàng, có vân tím ở họng; chia 5 thuỳ, nhị 5, chỉ nhị hơi dẹt; bao phấn dính gốc; bầu hình cầu có 5 ô. Quả nang hình cầu, có 5 cạnh mờ, đầu bẹt, phía trên có một núm nhỏ hình nón, đường kính 1 – 2 cm, có đài tồn tại; khi chín màu tím hoặc đỏ; hạt nhiều, màu vàng nhạt, bóng. Rễ hình trụ dài, đường kính có thể đạt 1 – 1,7 cm.
Đầu rễ phình to, trên có nhiều vết sẹo lồi của thân cũ, phía dưới thường phân nhánh; mặt ngoài màu vàng nhạt, khi khô màu vàng xám (Đỗ Tất Lợi, 2005). Tác dụng dược lý của cây Sâm dây Tác dụng dược lý của cây Sâm dây đã được công bố rộng rãi trên thế giới thông qua nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về điều trị bệnh tiểu đường, khả năng tăng cường sức khoẻ, tác dụng với hệ tiêu hoá, tác dụng với hệ tim mạch, tác dụng đối với máu và hệ thống tạo máu, đối với điều hoà huyết áp, chống mệt mỏi, chống oxy hoá, kháng ung thư, kháng khuẩn và tăng cường hệ thống miễn dịch (Ueda et al., 2002; Li et al., 2004; Chan et al., 2009; Wang et al., 1996; Luo et al., 2007; Liu et al., 1988; Yongxu et al., 2008; He et al., 2015; He et al. Các dược tính của Codonopsis sp. có thể là do các thành phần hợp chất có trong cây có khả năng cải thiện sức khoẻ con người, bao gồm: cacbohydrates, glycosides, steroids, alkaloids, terpenes… Theo C.
Fu và cs (2007) ở loài Codonopsis lanceolata có 6 flavonoids, 4 alkaloids, 12 triterpenes và sterol, 10 loại hợp chất dễ bay hơi, 12 nguyên tố vi lượng và 17 acid amin (Fu et al. Dịch chiết Codonopsis sp. có thể ngăn ngừa và bảo vệ tế bào gan chống lại tổn thương do rượu (Bai et al., 2008; Zhang et al., 2007), và có tác dụng chống đột biến, chống oxy hoá, chống lão hoá, cải thiện khả năng miễn dịch, chống mệt mỏi, buồn ngủ, giảm đau , hạ huyết áp… (Peng et al. 5 download by : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Đình Trọng Thành phầ n saponin đã làm nên công du ̣ng chın ́ h của Đảng sâm cũng như các vi ̣thuố c sâm khác.
Theo Ichikawa và cs (2009) khi phân tı́ch HPLC pha đảo kế t hơ ̣p đầ u dò khố i phổ ion hóa tia điê ̣n phát hiê ̣n trong rễ Codonopsis lanceolata chứa 7 saponin gồ m: lancemaside A, lancemaside B, lancemaside C, lancemaside E, lancemaside G, Foetidissimoside A và aster saponin Hb. Hàm lươ ̣ng lancemaside A thay đổ i từ 2,65 đế n 3,64 mg/g rễ khô đố i với mẫu Codonopsis Hàn Quố c, nhưng chı̉ đa ̣t 0,101 mg/g đố i với mẫu có nguồ n gố c từ Nhâ ̣t Bản (Ichikawa et al. Cấ u trúc hóa học saponin trong sâm dây (Ichikawa et al. Cấ u trúc hóa học 7 saponin trong Codonopsis lanceolata (Ichikawa et al., 2009) Hơ ̣p chất Aglycone R1 R2 β–Xyl-(13)-β–Xyl-(14)-α- Lancemaside A I β-GlcA Rha-(12)-α-Ara β-Xyl-(13)-β–Xyl-(14)-α- Lancemaside B I β-GlcA Rha-(12)-α-Ara-(13)-Glc-β β-Xyl-(14)-α-Rha-(12)-α- Lancemaside C I β-GlcA Ara-(13)-Glc-β β- β-Xyl-(13)-β-Xyl-(14)-α- Lancemaside E I Glc(13)- Rha-(12)-α-Ara-(13) β-GlcA β-Xyl-(13)-β-Xyl-(14)-α- Lancemaside G II β-GlcA Rha-(12)-α-Ara-(13) Foetidissimoside A I β-GlcA β-Xyl-(14)-α-Rha-(12)-α-Ara aster saponin Hb I β-GlcA α-Rha-(12)-α-Ara 6 download by : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Đình Trọng Joh và cs (2010) cho thấy Lancemaside A có khả năng tăng tính kháng viêm gây ra bởi các lipopolysaccharide ở trên chuột thử nghiệm.
Lancemaside A làm giảm sự hoạt động của các tác nhân gây viêm, bên cạnh đó, nhóm tác giả cho thấy hoạt chất này có khả năng kháng viêm dựa trên cơ chế kết hợp với tác nhân gây viêm là lipopoly saccharide và TLR4 (một protein tham gia vào quá trình phát hiện tác nhân gây bệnh ở người và động vật) (Joh et al. Kim và cs (2014) cho thấy Lancemaside A tách chiết từ rễ cây Codocopsis lanceolata có khả năng điều khiển cơ chế đáp ứng viêm gián tiếp qua bạch cầu và đại thực bào (Kim et al. Ngoài khả năng, tăng khả năng kháng viêm ở động vật thử nghiệm, năm 2013 Hyam và cs cho thấy Lancemaside A có khả năng gây ức chế đối với TNBS- một tác nhân gây viêm ruột kết ở chuột thí nghiệm (Hyam et al. Bên cạnh các saponin, rễ Codonopsis sp.
còn chứa các polysaccharide có dược tính quý trong điều trị một số bệnh ở người, tính gây độc đối với các khối u, tăng cường khả năng miễn dịch ở người. Hoạt động chống khối u: Polysaccharide từ C. pilosula có thể ức chế sự hoạt động của các tế bào ung thư dạ dày người và các tế bào ung thư gan (Yang et al. Một pectic polysaccharide ở rễ Codonopsis sp.
có khả năng gây độc với tế bào ung thư phổi người (Yang et al. Một nghiên cứu in vitro sử dụng tế bào HO- 8910 (ung thư buồng trứng) cho thấy một polysaccharide có tính axit có nguồn gốc từ rễ C. pilosula có thể làm giảm sự xâm nhập và di căn của các tế bào khối u thông qua việc giảm biểu hiện CD44 (Xin et al. Khả năng gây ức chế sự phát triển khối u đã được ghi nhận ở những con chuột được tiêm tế bào khối u và uống 50 hoặc 100mg/kg một trong hai polysaccharides của C.
pilosula sẽ làm ức chế khoảng 22,86 - 56,73 % sự phát triển của khối u (Xu et al. 7 download by : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Đình Trọng Bảng 1. Khả năng ức chế khối u ở chuột của CPPW1 và CPPW1B (Xu et al., 2012) Trọng lượng Trọng lượng Trọng lượng Tỷ lệ ức chế tuyến ức TT lá lách tương khối u (g) (%) tương đối đối (mg/g) (mg/g) NC 2,45 ± 0,24 6,01 2,16 PC 0,89b 63,67 5,12 1,90 CL 1,64b 33,06 7,34b 2,45a CH 1,06b 56,73 8,46b 2,61b CBL 1,89a 22,86 6,14 2,24 CBH 1,56b 36,33 6,35 2,31 NC: Đối chứng âm; PC: đối chứng dương; CL: CPPW1 (50 mg/kg); CH: CPPW1 (100 mg/kg); CBL: CPPW1B (50 mg/kg); CBH: CPPW1B (100 mg/kg); aP<0,05 và bP<0,01. Tác dụng trên hệ miễn dịch, chống viêm: Zhang và Wang thấy rằng 6 ngày uống polysaccharide (800 mg/kg/ngày) từ C.
pilosula có tác dụng trên chuột suy giảm miễn dịch gây ra bởi cyclophosphamide, bao gồm tăng cường hoạt động các tuyến ức, lách và các hoạt động thực bào của các đại thực bào phúc mạc và phục hồi hoạt động của α - naphthyl - acetate esterase trong tế bào lympho ngoại vi. Trong một nghiên cứu miễn dịch in vitro, một polysaccharide tan trong nước ở liều 50, 100 và 200 mg/mL có thể tăng sinh tế bào lympho kích thích bởi concanavalin A- hoặc lipopolysaccharide (LPS) (Sun, 2009). Ngoài ra, chiết xuất methanol của C. pilosula gây ức chế cảm ứng nitric oxide synthase và oxy hóa protein trong quá trình kích thích LPS ở dòng tế bào đại thực bào chuột RAW 264.7 (Yoo et al.
Một nghiên cứu in vitro khác cho thấy, một polysaccharide từ C. pilosula có thể kích thích sự biệt hóa của tế bào lách trong chống viêm kích thích bởi LPS (Yongxu et al. Vai trò chống viêm còn được chứng minh khi một polysaccharide từ C. pilosula biểu hiện tăng sản xuất kháng nguyên khi dùng chung với một loại vắc-xin, cho thấy polysaccharide này có thể được sử dụng như một chất bổ trợ (Sun, 2009).
Một nghiên cứu đánh giá 8 download by : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Đình Trọng hoạt động của các đại thực bào thực bào cho thấy một polysaccharide có khả năng tăng hoạt động thực bào, sau khi uống 50 hoặc 100mg/kg dịch chiết C. pilosula mỗi ngày, có thể làm tăng khả năng thực bào tương ứng là 15,6% và 28,7% (Xu et al. Trong kết quả nghiên cứu về hiệu quả tác dụng chống oxi hóa của dịch chiết các cây Panax quinquefolium, Panax notoginseng, Codonopsis pilosula, Pseudostellaria heterophylla và Glehnia littoralis của nhóm tác giả T. Ng và cs (2004) cho thấy dịch chiết từ cây Codonopsis pilosula và Glehnia littoralis có tác dụng cao nhất trong việc ức chế hiện tượng huyết tán.
Các kết quả cũng cho thấy nếu chỉ quan tâm đến hoạt động chống oxi hóa thì các cây Panax notoginseng, Codonopsis pilosula, Pseudostellaria heterophylla và Glehnia littoralis là các đối tượng thay thế rẻ hơn cây nhân sâm. Nghiên cứu của Chen và cs (2013) cho thấy dịch chiết từ cây Codonopsis javanica có khả năng làm giảm dần hiện tượng insulin cao và quá trình peroxide hóa ở những con chuột kháng insulin được nuôi bằng fructose. Yang và cs (2013), đã tách chiết và xác định được cấu trúc một pectic polysaccharide (CPP1b) từ cây Codonopsis pinocuda. Theo nghiên cứu này, CPP1b được tách chiết bằng phương pháp sắc kí cột cellulose DEAE, phân tử này có khối lượng khoảng 1,45x 105 Da.
Pectic CPP1b có khả năng kháng khối u do pectic này thể hiện tính gây độc với các tế bào ung thư phổi A549 (Yang et al. Khi thử nghiệm đánh giá hiệu quả chống lại bệnh béo phì của cây Codonopsis lanceolata ở những con chuột bị béo phì. Các kết quả nghiên cứu gợi ý rằng cây Codonopsis lanceolata có một tiềm năng lớn để ứng dụng trong việc chống lại bệnh béo phì vì nó giảm sự hình thành và tích lũy quá mức các chất béo. Cây Codonopsis lanceolata có tiềm năng là thực phẩm chức năng có thể sử dụng trong kiểm soát và điều trị bệnh béo phì (Choi et al.