CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỀN LÝ THUYẾT NỮ QUYỀN Ở NAM BỘ 1. Nữ quyền luận phương Tây 1. Chủ nghĩa nữ quyền Pháp – Cái nôi của phong trào nữ quyền phương Tây Chủ nghĩa nữ quyền (Feminism) là khái niệm chỉ hoạt động đấu tranh chính trị của nữ giới đòi quyền lợi cho chính mình trên các lĩnh vực chính trị, xã hội dựa trên ý thức bình đẳng giới5. Nữ quyền luận là sản phẩm của phong trào đấu tranh đòi dân quyền, dân chủ ở phương Tây.
Tại Mỹ, vào những năm của thập niên 60, khi cuộc đấu tranh đòi dân chủ của những người Mỹ gốc Phi giành được nhiều thắng lợi đỉnh cao thì phong trào phụ nữ cũng bắt đầu manh nha từ năm 1963. Vào năm này, tác giả Betty Freidan đã chỉ ra rằng phụ nữ không có quyền bày tỏ cảm xúc của mình ngoài việc lấy chồng và sinh con. Năm 1966, Tổ chức Phụ nữ Quốc gia (NOW) được khai sinh nhằm thúc đẩy sự hòa nhập của phụ nữ với cộng đồng, đồng thời lên tiếng về Quyền bình đẳng trong hiến pháp Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đến năm 1970 phong trào phụ nữ gần như suy yếu dần và ngưng trệ6.
Mặc dù phong trào phụ nữ nở rộ trên toàn thế giới nhưng chính nước Pháp mới là cái nôi của chủ nghĩa nữ quyền phương Tây, bởi Pháp đã đem lại những kiến giải nền tảng thúc đẩy sự ra đời của lý thuyết nữ quyền ở Anh và Mỹ. Tư tưởng của họ đa phần tập trung vào vấn đề giới tính dựa trên cơ sở phân tâm học, sinh học luận, ngôn 5 Th. Hồ Khánh Vân, Từ lý thuyết phê bình nữ quyền (feminist criticism) nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay (Luận văn Thạc sĩ), Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia TP. 6 Khái quát về lịch sử nước Mỹ http://vietnamese.gov/doc_ushistory_1.html 8 ngữ học, lý thuyết giải cấu trúc,…Bốn gương mặt đại diện cho chủ nghĩa nữ quyền Pháp bao gồm: Simone de Beauvoir, Julia Kristeva, Luce Irigaray, Hélène Cixous.
Mặc dù tiểu luận “Căn phòng riêng” (A room of one’s own) của Virginia ra đời vào năm 1929, tức trước sự có mặt của “Giới tính thứ hai” (Le Deuxième Sexe) (1949) nhưng người ta vẫn nhớ đến Simone de Beauvoir như “mẹ đẻ” của chủ nghĩa nữ quyền, bởi quyển sách của Virginia chỉ mới là sự khơi mở cho những tư tưởng hoàn chỉnh của Simone de Beauvoir. Bà kịch liệt phản đối sự áp đặt của chế độ phụ quyền bằng kết luận có tính tiền đề “Người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ”. Luận điểm này đã bác bỏ hoàn toàn cái vô thức nam quyền neo chắc vào tinh thần phụ nữ đến mức người ta ngày càng khó nhận ra sự bất hợp lý của nó. Thông qua kết luận này, bà muốn khẳng định không phải bản chất tự nhiên quy định phụ nữ mà chính là hoàn cảnh xã hội quy định họ, bởi phụ nữ cũng là một thực thể xã hội.
Quan điểm của Kristeva, nhà nữ quyền học gốc Bulgaria, lại chú trọng vào thiên chức mẫu của phụ nữ. Bà cho rằng người phụ nữ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức và sự trưởng của con người. Điều này trái với quan điểm của Freud và Lacan bởi họ cho rằng mọi đứa trẻ chịu ảnh hưởng uy quyền ở người bố mạnh mẽ hơn ở người mẹ. Tuy nhiên vấn đề ở đây là Kristeva muốn đưa một quan điểm mới của mình về vai trò của “thân thể người mẹ”.
Với Irigaray, bà có cùng mối bận tâm về vấn đề xóa bỏ áp bức cho phụ nữ như Simone de Beauvoir nhưng quan điểm của bà lại trái ngược. Simone de Beauvoir cho rằng muốn xóa bỏ bất bình đẳng, người phụ nữ phải nam hóa mình để sánh ngang vị trí của nam giới. Nhưng Irigaray lại cho rằng “Không phải đồng hóa mà là dị biệt”. Chính sự khác biệt về giới đã giúp cho những người phụ nữ mang quyền năng sinh sôi, tạo ra con người, trong đó có cả nam giới.
Nhưng họ đã chối bỏ sự dị biệt ấy. Vì thế, phụ nữ càng phải chứng minh điều ấy để chống lại bất bình đẳng. Riêng Cixious, bà nêu quan điểm về vấn đề lối viết nữ (L’ecriture feminine). Bà đưa ra hai kết luận sau về tư tưởng của mình: phụ nữ có thể viết được khi họ biết tự 9 khám phá những cảm xúc về thể xác của mình và sau đó tìm cách thể hiện nó bằng diễn ngôn phụ nữ; hệ thống ngôn ngữ của phụ nữ sẽ có thể biến chuyển linh hoạt khi họ được cởi trói khỏi trung tâm diễn ngôn nam giới đang buộc chặt lấy họ7.
Lịch sử ba phong trào nữ quyền tiêu biểu Chủ nghĩa nữ quyền trên thế giới mon men ra đời từ ngay từ những năm của thế kỷ XVIII, khi phong trào nữ quyền thế giới bắt đầu lớn mạnh. Chủ nghĩa nữ quyền trải qua ba bước phát triển nền tảng: Giai đoạn: Tiên phong và nữ quyền nguyên sơ. Nằm trong khoảng thời gian từ thế chiến thứ II trở về trước, các tư tưởng giai đoạn này mang tính chất bước đệm, gợi mở cho giai đoạn sau và cho phê bình nữ quyền hiện đại. Bà tổ của chủ nghĩa nữ quyền chính là Mary Wollstonecraft.
Bà đã phản ứng lại việc xác lập tính nữ của nữ giới bởi quyền lực của nam giới. Bà khẳng định rằng “viết và nghĩ không thể vượt khỏi thân xác và không thể loại phụ nữ ra khỏi vị trí xã hội”8. Sau đó, năm 1929, “Căn phòng riêng” của Virginia Woolf ra đời, khai sáng cho các lý thuyết nữ quyền thời kỳ sau mà tiêu biểu là Simone de Beauvoir. Giai đoạn: Nữ quyền hiện hành Giai đoạn này thuộc thời kỳ hậu chiến, những năm của thập niên từ 1960 đến 1970.
Các tác giả chính của thời kỳ này là Marie olympe de Gouge và Simone de Beauvoir. Tác phẩm của Marie được xem như là bản tuyên ngôn nhân quyền về giới nữ. Bởi những lời kêu gọi quyền giải phóng người da đen mà về sau bà đã bị kết án vì hoạt động đấu tranh cho nữ quyền. Giai đoạn này còn xuất hiện một nhà nữ quyền có sức ảnh hưởng lớn là Simone de Beauvoir, tác giả của bản tuyên ngôn nữ quyền.
Bà đã luận giải những vấn đề về giới tính, đặc tính tự yêu mình, tình dục,…dựa trên các lĩnh vực khác nhau như thần thoại học, sinh học, nhân học. Đặc biệt hơn, Simone de Beauvoir đã nêu ra một quan 7 Nguyễn Việt Phương, Nhận diện chủ nghĩa nữ quyền pháp thế kỷ XX qua một số đại diện tiêu biểu, 12/12/2014. 8 Hà Hằng, Chủ nghĩa nữ quyền trong văn học. 10 điểm lớn về những áp đặt của văn hóa phụ quyền lên phụ nữ: “Người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ”.
Giai đoạn: Lý thuyết nữ quyền Cao trào nữ quyền thứ ba nằm trong khoảng từ thập niên 1980 đến 1990. Đây là giai đoạn quan trọng nhất, hình thành nên khung lý thuyết của chủ nghĩa nữ quyền. Các tác giả tiêu biểu giai đoạn này là Doris Lessing với “Cuốn sổ tay vàng” (1962), Mary Eagleton với “Lý thuyết văn học nữ quyền” (1996), Toril Moi với “Chính kiến văn bản/giới tính” (2002) Có thể nói, chủ nghĩa nữ quyền giai đoạn này có ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu cấu trúc và hậu hiện đại. Phê bình nữ quyền Chủ nghĩa nữ quyền ra đời làm sản sinh ra một hình thức phê bình mới trong văn học, gọi là phê bình nữ quyền, bên cạnh các loại hình phê bình trước đó như phê bình Mới, phê bình xã hội học, phê bình phân tâm học.
Phê bình nữ quyền là một trường phái phê bình nghiên cứu cách tiếp cận với một tác phẩm nữ giới bao gồm: lối viết nữ, đặc tính giới nữ, diễn ngôn phụ nữ,…trong tác phẩm văn học nhằm mục đích xác lập một nền mỹ học, lý luận văn học và sáng tác văn học cho riêng nữ giới. Có nhiều cách khác nhau để tiếp cận các tác phẩm nữ quyền. Theo chúng tôi, sau đây là ba phương pháp chính giúp tiếp cận các tác phẩm văn học dưới góc nhìn nữ: + Tiếp cận trên phương diện khác biệt giới Sở dĩ có sự phân biệt giới tính là bởi nữ giới được nhìn nhận trong sự đối sánh với một giới khác được cho là giá trị tiêu chuẩn - nam giới. Dựa trên những tiêu chí của thang đo ấy, nữ giới bị xem bị là lệch chuẩn và trở thành giới tính thứ hai, đứng sau nam giới.
Tuy nhiên, sự khác biệt bản chất giới làm nảy sinh những nét riêng biệt trong tư duy văn học, thế giới nghệ thuật, phương thức và tâm lý sáng tác. Đây chính là những vấn đề mà các nhà phê bình muốn hướng đến nhằm nghiên cứu không chỉ bản thân tác phẩm hay cá nhân tác giả mà còn là đặc trưng về giới của cả một nền văn học. 11 Nhà nghiên cứu Elane Showalter đã chỉ ra bốn mô hình của sự khác biệt: mô hình sinh vật học, mô hình sinh lý, mô hình ngôn ngữ, mô hình văn hóa9. Trong đó, mô hình sinh vật học là đỉnh cao của sự khác biệt.
Khao khát các yếu tố thể xác được xem là một đặc trưng của bản chất nữ. + Tiếp cận trên phương diện diễn ngôn Mô hình quyền lực nam giới đã áp đặt lên nữ giới quá lâu khiến cho chế độ gia trưởng ảnh hưởng sâu đậm trong các tác phẩm của họ. Muốn vùng dậy và thiết lập một nền văn học cho chính mình cần phải tự cởi trói khỏi lớp diễn ngôn nam quyền và xác định một lối viết nữ riêng. Vì vậy nghiên cứu diễn ngôn nữ quyền là phát hiện ra phương thức mới trong thể hiện những tâm tư, tình cảm của phụ nữ.
Văn học nữ mang một số phương diện đặc thù trong lối viết: Tự thuật – mô thức tự sự đặc thù của văn học nữ Văn phong của các nhà văn nữ hầu hết là văn phong tác giả. Họ phô bày chân dung cuộc sống của chính trên khắp các trang giấy. Đó là một thuộc tính làm nên văn học văn học nữ mà lý luận văn học gọi là hiện tượng “tự ăn mình”. Mặc dù có nhiều ý kiến trái chiều cho rằng lối viết này gây nhiều hạn chế, “khiến tiểu thuyết của họ đọc không hay”10 như phát biểu của nhà văn Pháp Flaubert nhưng thế mạnh của họ lại là ở đấy, “đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trang sách”11.
Vì thế mà hàng loạt các cây bút nữ ồ ạt nổi lên. Lực lượng đông đảo nhất chính là những tác giả của dòng văn học Linglei Trung Quốc. Yếu tố tính dục và lối viết thân thể 9 Th.