Nghiên Cứu Về Ý Thức Giới Trong Thơ Nữ Việt Nam Đương Đại

Khám phá diễn ngôn về giới trong thơ nữ Việt Nam đương đại qua các trường hợp tiêu biểu, phản ánh sự đa dạng và sâu sắc trong văn học.

Trường đại học

Đại học Hồng Đức

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2021

105
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Lịch sử vấn đề

1.3. Những nghiên cứu về lý thuyết diễn ngôn

1.4. Những nghiên cứu về ý thức giới trong thơ nữ Việt Nam đương đại

1.5. Mục đích nghiên cứu

1.6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.7. Phương pháp nghiên cứu

1.7.1. Phương pháp hệ thống

1.7.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu

1.7.3. Phương pháp liên ngành

1.8. Đóng góp của luận văn

1.9. Cấu trúc luận văn

2. PHẦN NỘI DUNG

2.1. VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT DIỄN NGÔN VÀ DIỆN MẠO CỦA THƠ NỮ TRONG HÀNH TRÌNH THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

2.1.1. Vấn đề lý thuyết diễn ngôn

2.1.2. Khái niệm diễn ngôn

2.1.3. Các hướng tiếp cận diễn ngôn

2.1.3.1. Tiếp cận diễn ngôn dưới góc nhìn ngôn ngữ học
2.1.3.2. Tiếp cận diễn ngôn dưới góc nhìn phong cách học
2.1.3.3. Hướng tiếp cận xã hội học

2.1.4. Diện mạo thơ nữ trong hành trình thơ Việt Nam đương đại

2.1.4.1. Bối cảnh lịch sử - văn hóa - xã hội
2.1.4.2. Diện mạo thơ nữ Việt Nam đương đại

2.2. DIỄN NGÔN VỀ GIỚI TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.2.1. Khát vọng thể hiện thiên tính nữ hay là cuộc trở về của những tính nữ vĩnh cửu

2.2.2. Khát vọng thể hiện tình yêu

2.2.3. Ước vọng làm mẹ

2.2.4. Cảm thức về nỗi buồn và sự cô đơn

2.2.5. Khát vọng thể hiện cái Tôi thân xác trong tình yêu

2.2.5.1. Sự tự ý thức về vẻ đẹp thân thể
2.2.5.2. Khát khao tính dục – khát vọng giải phóng tính dục

2.3. DIỄN NGÔN VỀ GIỚI TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

2.3.1. Thể thơ tự do

2.3.2. Biểu tượng Đất

2.3.3. Biểu tượng Nước

2.3.4. Biểu tượng Đêm

2.3.5. Ngôn ngữ đằm thắm, tâm tình mang đậm thiên tính nữ

2.3.6. Ngôn ngữ mạnh mẽ, mang đậm tính "phồn thực"

3. PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ý Thức Giới Trong Thơ Nữ Việt Nam Đương Đại

Trong bối cảnh hội nhập và đổi mới, ý thức giới trở thành một vấn đề toàn cầu, thu hút sự quan tâm của nhiều lĩnh vực. Văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt là thơ nữ, thể hiện rõ nét sự xâm nhập của tư duy về giới. Từ sau năm 1986, sự cởi mở trong giao lưu văn hóa tạo điều kiện cho phụ nữ thể hiện bản ngã và cá tính sáng tạo. Điều này thúc đẩy ý thức giới mạnh mẽ hơn bao giờ hết trong thơ nữ Việt Nam. Sự trỗi dậy của nữ quyền, khát vọng tình yêu, giải phóng bản ngã, và cả bi kịch nhận thức được thể hiện chân xác trong sáng tác của các nhà thơ nữ. Các tác giả như Dư Thị Hoàn, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư đã đóng góp vào sự phát triển của thơ đương đại Việt Nam bằng tiếng nói đối thoại về vấn đề giớiý thức phái tính.

1.1. Bối Cảnh Xã Hội và Sự Trỗi Dậy Của Thơ Nữ Việt Nam

Sự đổi mới sau năm 1986 tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thơ nữ Việt Nam. Giao lưu quốc tế và tư tưởng văn hóa cởi mở giúp phụ nữ có nhiều cơ hội hơn để thể hiện bản thân. Điều này dẫn đến sự xuất hiện bùng nổ của các cây bút nữ, những người mạnh mẽ khẳng định nữ quyềnkhát vọng nữ tính trong thơ ca. Sự thay đổi này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong văn học nữ quyền ở Việt Nam.

1.2. Diễn Ngôn Về Giới Sức Hấp Dẫn và Giá Trị Trong Thơ Nữ

Diễn ngôn về giới trong thơ nữ Việt Nam đương đại tạo nên sức hấp dẫn và giá trị nhất định. Các nhà thơ nữ không ngần ngại thể hiện khát vọng tình yêu, thiên chức làm mẹ, và cả những nỗi buồncô đơn. Sự chân thực trong cách thể hiện này thu hút sự quan tâm của giới phê bình và độc giả, khẳng định vai trò của thơ nữ trong việc phản ánh quan điểm nữ giới.

II. Thách Thức Trong Nghiên Cứu Ý Thức Giới Thơ Nữ Đương Đại

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam đương đại, nhưng phần lớn chỉ tập trung vào các trường hợp đơn lẻ hoặc một khía cạnh cụ thể. Điều này dẫn đến sự thiếu hệ thống trong việc đánh giá một đặc điểm nổi bật của thơ nữ đương đại. Việc nghiên cứu thơ nữ dưới góc nhìn diễn ngôn về giới là cần thiết để đánh giá đúng và trúng đóng góp của dòng thơ này trong hành trình đổi mới thơ Việt Nam đương đại. Đối với giáo viên Ngữ văn, việc hiểu sâu hơn về văn học Việt Nam đương đại là cần thiết để đáp ứng yêu cầu giảng dạy.

2.1. Tính Hệ Thống Trong Nghiên Cứu Về Ý Thức Giới

Các nghiên cứu hiện tại về ý thức giới trong thơ nữ Việt Nam thường thiếu tính hệ thống. Việc phân tích các tác phẩm một cách rời rạc hoặc chỉ tập trung vào một vài khía cạnh cụ thể khiến cho bức tranh toàn cảnh về diễn ngôn về giới trở nên chưa đầy đủ. Cần có một phương pháp tiếp cận toàn diện hơn để đánh giá đúng vai trò của thơ nữ trong việc thể hiện quan điểm nữ giới.

2.2. Yêu Cầu Đặt Ra Cho Giáo Viên Ngữ Văn Trong Bối Cảnh Mới

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, giáo viên Ngữ văn cần có sự hiểu biết sâu rộng về văn học Việt Nam đương đại. Việc nghiên cứu thơ nữ đương đại thông qua diễn ngôn về giới là một cơ hội để bổ sung kiến thức và nâng cao năng lực giảng dạy. Điều này giúp giáo viên truyền đạt cho học sinh những giá trị nhân văn và ý thức về bình đẳng giới một cách hiệu quả.

III. Phân Tích Diễn Ngôn Về Giới Trong Thơ Nữ Nội Dung Tiêu Biểu

Thơ nữ Việt Nam đương đại thể hiện rõ nét khát vọng thể hiện thiên tính nữ, một cuộc trở về của những tính nữ vĩnh cửu. Các nhà thơ nữ không ngần ngại bày tỏ khát vọng tình yêu, ước vọng làm mẹ, và cảm thức về nỗi buồnsự cô đơn. Bên cạnh đó, khát vọng thể hiện cái Tôi thân xác trong tình yêu cũng là một chủ đề quan trọng. Sự tự ý thức về vẻ đẹp thân thể và khát khao tính dục được thể hiện một cách mạnh mẽ, đánh dấu sự giải phóng tính dục trong thơ ca Việt Nam.

3.1. Khát Vọng Thể Hiện Thiên Tính Nữ và Tình Yêu

Thơ nữ Việt Nam thường tập trung vào việc thể hiện thiên tính nữ, những phẩm chất đặc trưng của người phụ nữ. Khát vọng tình yêu là một chủ đề phổ biến, được thể hiện qua nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, từ sự lãng mạn, say đắm đến những trăn trở, đau khổ. Các nhà thơ nữ không ngần ngại bày tỏ những cảm xúc chân thật nhất về tình yêu.

3.2. Cái Tôi Thân Xác và Sự Giải Phóng Tính Dục

Một trong những điểm mới của thơ nữ đương đại là sự thể hiện cái tôi thân xác một cách táo bạo. Các nhà thơ nữ không còn e dè khi nói về vẻ đẹp thân thểkhát khao tính dục. Điều này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc giải phóng phụ nữ khỏi những định kiến xã hội và khẳng định quyền tự do cá nhân.

3.3. Nỗi Buồn và Sự Cô Đơn Trong Thơ Nữ Đương Đại

Bên cạnh những khát vọng và niềm vui, thơ nữ Việt Nam cũng không thiếu những nỗi buồnsự cô đơn. Các nhà thơ nữ thường cảm thấy lạc lõng, cô đơn trong cuộc sống hiện đại, và họ tìm đến thơ ca như một cách để giải tỏa những cảm xúc tiêu cực. Sự chân thành trong cách thể hiện này giúp người đọc đồng cảm và thấu hiểu hơn về thân phận người phụ nữ.

IV. Nghệ Thuật Thể Hiện Ý Thức Giới Trong Thơ Nữ Đương Đại

Thơ nữ Việt Nam đương đại sử dụng nhiều hình thức nghệ thuật đa dạng để thể hiện ý thức giới. Thể thơ tự do được ưa chuộng vì nó cho phép các nhà thơ nữ tự do thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình. Các biểu tượng Đất, Nước, Đêm thường được sử dụng để tượng trưng cho nữ tínhsự sinh sôi. Ngôn ngữ trong thơ nữ vừa đằm thắm, tâm tình, vừa mạnh mẽ, mang đậm tính "phồn thực", tạo nên sự độc đáo và hấp dẫn.

4.1. Thể Thơ Tự Do Sự Giải Phóng Trong Hình Thức

Thể thơ tự do là một lựa chọn phổ biến của các nhà thơ nữ vì nó cho phép họ tự do thể hiện cảm xúc và suy nghĩ mà không bị ràng buộc bởi các quy tắc truyền thống. Điều này giúp cho thơ nữ trở nên đa dạng và phong phú hơn về mặt hình thức.

4.2. Biểu Tượng Đất Nước Đêm Khám Phá Nữ Tính

Các biểu tượng Đất, Nước, Đêm thường được sử dụng trong thơ nữ để tượng trưng cho nữ tính, sự sinh sôi, và những bí ẩn của cuộc sống. Những biểu tượng này giúp cho thơ ca trở nên giàu hình ảnh và gợi cảm hơn, đồng thời thể hiện sự kết nối sâu sắc giữa người phụ nữ và thiên nhiên.

4.3. Ngôn Ngữ Đằm Thắm và Mạnh Mẽ Sự Kết Hợp Độc Đáo

Ngôn ngữ trong thơ nữ vừa đằm thắm, tâm tình, vừa mạnh mẽ, mang đậm tính "phồn thực". Sự kết hợp này tạo nên một phong cách độc đáo, thể hiện sự phức tạp và đa dạng trong tâm hồn người phụ nữ. Các nhà thơ nữ không ngần ngại sử dụng những từ ngữ táo bạo và gợi cảm để diễn tả những cảm xúc sâu kín nhất.

V. Ứng Dụng Nghiên Cứu Ý Thức Giới Trong Giảng Dạy Văn Học

Nghiên cứu về ý thức giới trong thơ nữ Việt Nam đương đại có thể được ứng dụng trong giảng dạy văn học ở trường phổ thông. Việc giới thiệu các tác phẩm thơ nữ giúp học sinh hiểu rõ hơn về vai trò của người phụ nữ trong xã hội và những vấn đề liên quan đến giới. Đồng thời, nó cũng giúp học sinh phát triển tư duy phản biệný thức về bình đẳng giới.

5.1. Giới Thiệu Thơ Nữ Trong Chương Trình Ngữ Văn

Việc đưa các tác phẩm thơ nữ vào chương trình Ngữ văn là một cách hiệu quả để giúp học sinh tiếp cận với văn học nữ quyền và hiểu rõ hơn về những vấn đề liên quan đến giới. Các tác phẩm này có thể được sử dụng để minh họa cho các bài học về vai trò của người phụ nữ trong xã hội và những thách thức mà họ phải đối mặt.

5.2. Phát Triển Tư Duy Phản Biện và Ý Thức Bình Đẳng Giới

Nghiên cứu về ý thức giới trong thơ nữ giúp học sinh phát triển tư duy phản biệný thức về bình đẳng giới. Học sinh có thể phân tích các tác phẩm để nhận ra những định kiến xã hội và những bất công mà người phụ nữ phải chịu đựng. Từ đó, họ có thể hình thành những quan điểm riêng về bình đẳng giớivai trò của người phụ nữ trong xã hội.

VI. Kết Luận Tương Lai Của Nghiên Cứu Ý Thức Giới Trong Thơ Nữ

Nghiên cứu về ý thức giới trong thơ nữ Việt Nam đương đại vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Trong tương lai, cần có những nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, xã hội đến diễn ngôn về giới trong thơ ca. Đồng thời, cần mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tác giả và tác phẩm khác để có một cái nhìn toàn diện hơn về thơ nữ Việt Nam.

6.1. Ảnh Hưởng Của Văn Hóa và Xã Hội Đến Diễn Ngôn Về Giới

Các yếu tố văn hóaxã hội có ảnh hưởng lớn đến diễn ngôn về giới trong thơ nữ Việt Nam. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố này và cách chúng tác động đến cách các nhà thơ nữ thể hiện ý thức giới trong tác phẩm của mình.

6.2. Mở Rộng Phạm Vi Nghiên Cứu và Đánh Giá Toàn Diện

Để có một cái nhìn toàn diện hơn về thơ nữ Việt Nam, cần mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tác giả và tác phẩm khác. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự đa dạng và phong phú của thơ nữ và những đóng góp của nó cho văn học Việt Nam.

05/06/2025
Diễn ngôn về giới trong thơ nữ việt nam đương đại khảo sát qua một số trường hợp tiêu biểu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung luận văn gồm ba chƣơng : - Chƣơng 1. Vấn đề lí thuyết diễn ngôn và diện mạo của thơ nữ trong hành trình thơ Việt Nam đƣơng đại - Chƣơng 2. Diễn ngôn về giới trong thơ nữ Việt Nam đƣơng đại - nhìn từ phƣơng diện nội dung - Chƣơng 3. Diễn ngôn về giới trong thơ nữ Việt Nam đƣơng đại - nhìn từ phƣơng diện nghệ thuật 13 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.

VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT DIỄN NGÔN VÀ DIỆN MẠO CỦA THƠ NỮ TRONG HÀNH TRÌNH THƠ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI 1. Vấn đề lý thuyết diễn ngôn 1. Khái niệm diễn ngôn Một trong những khuynh hƣớng, phƣơng pháp nghiên cứu nổi bật trong các khoa học xã hội hiện đại là lý thuyết diễn ngôn. Vì vậy, trong nhiều năm trở lại đây, khái niệm diễn ngôn đã xuất hiện tƣơng đối nhiều trong các bài viết, các công trình nghiên cứu.

Tuy nhiên, việc xác định các nội hàm và các nội dung cơ bản của nó dƣờng nhƣ vẫn chƣa đƣợc minh định. Mỗi nhà nghiên cứu tìm cho mình những quan niệm và những dấu hiệu biểu hiện khác nhau về diễn ngôn. Chính vì thế, khó có thể có một định nghĩa duy nhất, chính xác nhất về thuật ngữ này. Nhiều nhà khoa học xác nhận đó là khái niệm còn bỏ ngỏ.

Theo nghiên cứu của Manfred Frank, diễn ngôn (discourse) đƣợc bắt nguồn từ tiếng Latinh "discuorus", mà từ này có gốc động từ là "discoursere" có nghĩa là tán chơi và nói huyên thuyên. Hiểu nhƣ vậy, diễn ngôn là một lối nói, cách nói, hoặc một lƣợt nói có độ dài không xác định, sự triển khai không bị hạn định. Trong tiếng Pháp, nghĩa của từ diễn ngôn gần với từ tán gẫu, nói chuyện phiếm, kể chuyện,. Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học tập 2, tác giả Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa diễn ngôn nhƣ sau: "Diễn ngôn là một thuật ngữ chung chỉ cách dùng ngôn ngữ, tức chỉ các sản phẩm ngôn ngữ đƣợc tạo ra do một hành động giao tiếp nào đấy" [15].

Trần Đình Sử trong Khái niệm diễn ngôn đã nhận xét: "Thời gian gần đây, trong nghiên cứu văn học, xã hội học, khái niệm diễn ngôn đã đƣợc sử dụng nhiều, song nhìn kĩ các tài liệu tiếng Việt khi sử dụng khái niệm này hiện còn có phần lúng túng" [84]. 14 Diễn ngôn, hiểu một cách khái quát nhất, là thực tiễn giao tiếp của con ngƣời trong xã hội. (Tác giả nhấn mạnh thực tiễn giao tiếp xã hội để phân biệt với lời nói cá nhân. Mọi lời nói của cá nhân đều phụ thuộc vào diễn ngôn xã hội.

Hoạt động diễn ngôn xã hội thể hiện trạng thái ngôn ngữ, quyền lực, tri thức trong xã hội của diễn ngôn đó mà các cá nhân đều phụ thuộc vào). Diễn ngôn là cách nói năng, phƣơng thức biểu đạt về con ngƣời, về thế giới và về các sự việc trong đời sống. Diễn ngôn biểu hiện thành các hình thức ngôn ngữ nhƣ các cuộc hội thảo, diễn thuyết, tranh tụng, phát biểu, diễn đạt thành các khái niệm, cụm từ, hệ thống các từ ngữ, các thuật ngữ, phạm trù, các từ then chốt, thể hiện hệ thống tri thức thịnh hành, chân lý phổ biến trong xã hội. Do đó khi nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu ngôn ngữ.

Nhƣng diễn ngôn không phải là cách nói thế nào trong tƣơng quan với nói cái gì, không phải là hình thức. Diễn ngôn là hiện tƣợng tƣ tƣởng. Diễn ngôn không phải là công cụ diễn đạt, mà là bản thể tƣ tƣởng, bản thân tƣ tƣởng, mọi tƣ tƣởng đều đƣợc biểu hiện thành diễn ngôn. Và diễn ngôn là điều kiện tồn tại của tƣ tƣởng.

Ngoài diễn ngôn tƣ tƣởng không tồn tại. Vì vậy khi nghiên cứu diễn ngôn chính là nghiên cứu tƣ tƣởng. Chức năng chính của diễn ngôn là kiến tạo bức tranh thế giới bằng ngôn từ, là gọi tên các hiện tƣợng, sự vật, là kiến tạo sự thật và chân lý. Là hiện tƣợng giao tiếp, vì thế diễn ngôn là tiếng nói của một chủ thể quyền lực trong xã hội.

Các chủ thể diễn ngôn có một trật tự diễn ngôn khác nhau do địa vị khác nhau. Họ có chiến lƣợc diễn ngôn khác nhau để có thể thuyết phục, từ ra lệnh, tuyên bố, cho đến đối thoại, trao đổi hay trình bày, diễn giải quan điểm của mình. Và vì vậy, nghiên cứu diễn ngôn chính là quá trình đi tìm xem các chủ thể đứng đằng sau diễn ngôn, xem đó là tiếng nói của ai, vào thời điểm nào. Diễn ngôn là hiện tƣợng liên văn bản, siêu văn bản, nó thể hiện trong các văn bản nhƣng không đồng nhất với văn bản và bị không giới hạn trong các văn bản.

Diễn ngôn là một hiện tƣợng xã hội có tính liên tục, tính chỉnh thể, 15 tính hệ thống, tính thống nhất. Ngƣời ta có thể dùng ý thức hệ để gọi tên diễn ngôn vì diễn ngôn gắn với ý thức hệ xã hội: ví dụ diễn ngôn tƣ sản, vô sản, diễn ngôn hiện đại, hậu hiện đại. Diễn ngôn cũng đồng thời gắn với các lĩnh vực tri thức cho nên có: diễn ngôn văn học, diễn ngôn thi ca, diễn ngôn vật lý, diễn ngôn tính dục. Tóm lại, khái niệm diễn ngôn đã và đang đƣợc tìm hiểu, xem xét ở nhiều lĩnh vực và là một vấn đề tạo đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.

Mỗi lĩnh vực, mỗi cá nhân khi tiếp cận khái niệm diễn ngôn và nghiên cứu diễn ngôn lại nhìn dƣới một góc nhìn khác nhau. Và nhƣ vậy, ngày một, diễn ngôn lại đƣợc bồi đắp thêm những nét nghĩa mới. Các hướng tiếp cận diễn ngôn Trong lý luận hiện nay, nhìn chung có ba cách tiếp cận cơ bản về khái niệm diễn ngôn. Một là, tiếp cận diễn ngôn từ góc nhìn ngôn ngữ học, do các nhà ngôn ngữ học đề xuất, tiêu biểu là F.

Hai là quan điểm của nhà triết học, lý luận văn học do M.Bakhtin nêu ra, cho rằng diễn ngôn là các thể loại lời nói. Ba là tiếp cận diễn ngôn ở góc độ xã hội học, lịch sử tƣ tƣởng mà tiêu biểu là Foucault (Tƣ tƣởng của Foucault về diễn ngôn hiện đang trở thành một nền tảng cho rất nhiều các trƣờng phái lý thuyết hiện đại và gợi mở một con đƣờng đầy triển vọng cho các nhà lý luận văn học cũng nhƣ văn học sử).Tiếp cận diễn ngôn dưới góc nhìn ngôn ngữ học Diễn ngôn đƣợc đề xuất nhƣ là một đối tƣợng mới của ngữ học. Bởi vì, một số nhà ngữ học thấy không thể nghiên cứu văn bản, diễn ngôn (ngôn bản) nhƣ là những đơn vị biểu đạt trên câu tồn tại trong thực tiễn đời sống. Và nền tảng cơ sở của hƣớng tiếp cận diễn ngôn từ phƣơng diện ngôn ngữ học là những luận điểm của F.de Saussure trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương.

16 Trong công trình này, F.de Saussure phân biệt ngôn ngữ và lời nói. Ngôn ngữ là một hệ thống, một kết cấu tinh thần trừu tƣợng, khát quát trong khi đó lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh cụ thể đƣợc tạo nên từ các cá nhân cụ thể. Ngôn ngữ là bản thể xã hội, thuộc về cộng đồng trong khi lời nói thuộc về cá nhân. Ngôn ngữ là những cấu trúc tiên nghiệm và bất biến trong khi đó lời nói lại là bình diện sinh thành.

Ông chỉ rõ đối tƣợng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngôn ngữ, sản phẩm của xã hội kết đọng lại trong óc mỗi ngƣời chứ không phải lời nói. Từ đó, chúng ta nhận thấy đƣợc sự khác biệt giữa diễn ngôn và văn bản. Diễn ngôn là cấu trúc lời nói mang tính động còn văn bản là cấu trúc ngôn ngữ mang chất tĩnh. David Crystal cho rằng: "Phân tích diễn ngôn tập trung vào cấu trúc của ngôn ngữ nói xuất hiện một cách tự nhiên trong các diễn ngôn nhƣ đàm thoại, phỏng vấn, bình luận và lời nói.

Phân tích văn bản tập trung vào các cấu trúc của ngôn ngữ viết, trong các văn bản nhƣ tiểu luận, thông báo, biển chỉ đƣờng và các chƣơng sách" [79]. Vào những thập niêm 60 của thế kỉ XX, trên cơ sở sự đối lập giữa văn bản và diễn ngôn, ngôn ngữ học đã rẽ sang hai hƣớng: một hƣớng đi sâu nghiên cứu cấu trúc nội tại của các văn bản nhƣ một hệ thống chỉnh thể, khép kín và biệt lập, và hƣớng chuyên nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn trong mối quan hệ với ngữ cảnh phát ngôn, nhân vật phát ngôn. Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu thuộc hai khuynh hƣớng này, không phải lúc nào diễn ngôn và văn bản cũng đƣợc các tác giả phân biệt một cách rạch ròi. Cũng thời gian này, ngôn ngữ học của F.de Sausure và chủ nghĩa cấu trúc của Bloomfield phát triển đến giai đoạn cực thịnh.

Lúc này, ngƣời ta cảm thấy sự chật chội, hạn hẹp của ngôn ngữ học lấy câu làm đơn vị lớn nhất và đề xuất đơn vị nghiên cứu lớn hơn câu. Cũng từ đây, nghiên cứu văn bản trở thành một khuynh hƣớng nghiên cứu phát triển hết sức rầm rộ. Văn bản đƣợc coi nhƣ là sự nối dài của câu. Ngƣời ta đã dùng những công cụ phân tích cấu trúc câu để phân tích văn bản.

17 Năm 1968, trong công trình nghiên cứu Ngữ pháp kể chuyện, Todorov đã cho rằng mỗi tác phẩm văn học là sự hiện thực hóa của một cấu trúc lớn hơn, mỗi văn bản văn học là một ví dụ và là chất liệu để nghiên cứu thuộc tính chung, trừu tƣợng của văn học. Trên cơ sở đó, việc phân tích văn bản văn học bao gồm phân tích các phƣơng diện: phương diện ngữ nghĩa (đƣợc phát triển thành hai nhóm: nhóm các yếu tố cùng hiện diện trong một văn bản và nhóm các yếu tố vắng mặt); những kiểu ghi của văn bản; tính đơn trị văn bản; phương diện từ; phương diện cú pháp. Dƣới cái nhìn của các nhà cấu trúc, tất cả các hành động của con ngƣời và các cơ cấu tổ chức của xã hội đều có liên quan đến ngôn ngữ, và có thể tìm hiểu nhƣ một hệ thống gồm các yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhƣ thế, diễn ngôn đƣợc xem là một cấu trúc khép kín, nội tại, đƣợc cấu thành từ những yếu tố bất biến là các phạm trù ngữ pháp nhƣ thời, thức, thể, giọng, ngôi.Cách tiếp cận này khiến cho các nhà nghiên cứu, trong quá trình phân tích diễn ngôn, đặc biệt chú trọng đến phƣơng diện cấu trúc và cố gắng kiếm tìm những mô hình ngôn ngữ mang tính chất tĩnh - cái cơ chế ẩn tàng của tổ chức ngôn từ trong văn bản cũng nhƣ diễn ngôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Ý Thức Giới Trong Thơ Nữ Việt Nam Đương Đại" mang đến cái nhìn sâu sắc về cách mà ý thức giới được thể hiện trong thơ ca của các nhà thơ nữ Việt Nam hiện đại. Tác phẩm không chỉ phân tích các chủ đề và hình tượng mà còn khám phá những trải nghiệm và cảm xúc của phụ nữ trong bối cảnh xã hội hiện đại. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về vai trò của phụ nữ trong văn học, cũng như cách mà thơ ca có thể phản ánh và định hình ý thức giới.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ ngữ văn vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi việt nam đương đại qua sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu biểu, nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về nữ quyền trong văn học. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết việt nam đương đại qua một số trường hợp tiêu biểu cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tôn giáo trong văn học hiện đại, từ đó làm phong phú thêm kiến thức về bối cảnh văn hóa và xã hội mà các tác phẩm này được sáng tác. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của văn học Việt Nam đương đại.