Phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung luận văn gồm ba chƣơng : - Chƣơng 1. Vấn đề lí thuyết diễn ngôn và diện mạo của thơ nữ trong hành trình thơ Việt Nam đƣơng đại - Chƣơng 2. Diễn ngôn về giới trong thơ nữ Việt Nam đƣơng đại - nhìn từ phƣơng diện nội dung - Chƣơng 3. Diễn ngôn về giới trong thơ nữ Việt Nam đƣơng đại - nhìn từ phƣơng diện nghệ thuật 13 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT DIỄN NGÔN VÀ DIỆN MẠO CỦA THƠ NỮ TRONG HÀNH TRÌNH THƠ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI 1. Vấn đề lý thuyết diễn ngôn 1. Khái niệm diễn ngôn Một trong những khuynh hƣớng, phƣơng pháp nghiên cứu nổi bật trong các khoa học xã hội hiện đại là lý thuyết diễn ngôn. Vì vậy, trong nhiều năm trở lại đây, khái niệm diễn ngôn đã xuất hiện tƣơng đối nhiều trong các bài viết, các công trình nghiên cứu.
Tuy nhiên, việc xác định các nội hàm và các nội dung cơ bản của nó dƣờng nhƣ vẫn chƣa đƣợc minh định. Mỗi nhà nghiên cứu tìm cho mình những quan niệm và những dấu hiệu biểu hiện khác nhau về diễn ngôn. Chính vì thế, khó có thể có một định nghĩa duy nhất, chính xác nhất về thuật ngữ này. Nhiều nhà khoa học xác nhận đó là khái niệm còn bỏ ngỏ.
Theo nghiên cứu của Manfred Frank, diễn ngôn (discourse) đƣợc bắt nguồn từ tiếng Latinh "discuorus", mà từ này có gốc động từ là "discoursere" có nghĩa là tán chơi và nói huyên thuyên. Hiểu nhƣ vậy, diễn ngôn là một lối nói, cách nói, hoặc một lƣợt nói có độ dài không xác định, sự triển khai không bị hạn định. Trong tiếng Pháp, nghĩa của từ diễn ngôn gần với từ tán gẫu, nói chuyện phiếm, kể chuyện,. Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học tập 2, tác giả Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa diễn ngôn nhƣ sau: "Diễn ngôn là một thuật ngữ chung chỉ cách dùng ngôn ngữ, tức chỉ các sản phẩm ngôn ngữ đƣợc tạo ra do một hành động giao tiếp nào đấy" [15].
Trần Đình Sử trong Khái niệm diễn ngôn đã nhận xét: "Thời gian gần đây, trong nghiên cứu văn học, xã hội học, khái niệm diễn ngôn đã đƣợc sử dụng nhiều, song nhìn kĩ các tài liệu tiếng Việt khi sử dụng khái niệm này hiện còn có phần lúng túng" [84]. 14 Diễn ngôn, hiểu một cách khái quát nhất, là thực tiễn giao tiếp của con ngƣời trong xã hội. (Tác giả nhấn mạnh thực tiễn giao tiếp xã hội để phân biệt với lời nói cá nhân. Mọi lời nói của cá nhân đều phụ thuộc vào diễn ngôn xã hội.
Hoạt động diễn ngôn xã hội thể hiện trạng thái ngôn ngữ, quyền lực, tri thức trong xã hội của diễn ngôn đó mà các cá nhân đều phụ thuộc vào). Diễn ngôn là cách nói năng, phƣơng thức biểu đạt về con ngƣời, về thế giới và về các sự việc trong đời sống. Diễn ngôn biểu hiện thành các hình thức ngôn ngữ nhƣ các cuộc hội thảo, diễn thuyết, tranh tụng, phát biểu, diễn đạt thành các khái niệm, cụm từ, hệ thống các từ ngữ, các thuật ngữ, phạm trù, các từ then chốt, thể hiện hệ thống tri thức thịnh hành, chân lý phổ biến trong xã hội. Do đó khi nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu ngôn ngữ.
Nhƣng diễn ngôn không phải là cách nói thế nào trong tƣơng quan với nói cái gì, không phải là hình thức. Diễn ngôn là hiện tƣợng tƣ tƣởng. Diễn ngôn không phải là công cụ diễn đạt, mà là bản thể tƣ tƣởng, bản thân tƣ tƣởng, mọi tƣ tƣởng đều đƣợc biểu hiện thành diễn ngôn. Và diễn ngôn là điều kiện tồn tại của tƣ tƣởng.
Ngoài diễn ngôn tƣ tƣởng không tồn tại. Vì vậy khi nghiên cứu diễn ngôn chính là nghiên cứu tƣ tƣởng. Chức năng chính của diễn ngôn là kiến tạo bức tranh thế giới bằng ngôn từ, là gọi tên các hiện tƣợng, sự vật, là kiến tạo sự thật và chân lý. Là hiện tƣợng giao tiếp, vì thế diễn ngôn là tiếng nói của một chủ thể quyền lực trong xã hội.
Các chủ thể diễn ngôn có một trật tự diễn ngôn khác nhau do địa vị khác nhau. Họ có chiến lƣợc diễn ngôn khác nhau để có thể thuyết phục, từ ra lệnh, tuyên bố, cho đến đối thoại, trao đổi hay trình bày, diễn giải quan điểm của mình. Và vì vậy, nghiên cứu diễn ngôn chính là quá trình đi tìm xem các chủ thể đứng đằng sau diễn ngôn, xem đó là tiếng nói của ai, vào thời điểm nào. Diễn ngôn là hiện tƣợng liên văn bản, siêu văn bản, nó thể hiện trong các văn bản nhƣng không đồng nhất với văn bản và bị không giới hạn trong các văn bản.
Diễn ngôn là một hiện tƣợng xã hội có tính liên tục, tính chỉnh thể, 15 tính hệ thống, tính thống nhất. Ngƣời ta có thể dùng ý thức hệ để gọi tên diễn ngôn vì diễn ngôn gắn với ý thức hệ xã hội: ví dụ diễn ngôn tƣ sản, vô sản, diễn ngôn hiện đại, hậu hiện đại. Diễn ngôn cũng đồng thời gắn với các lĩnh vực tri thức cho nên có: diễn ngôn văn học, diễn ngôn thi ca, diễn ngôn vật lý, diễn ngôn tính dục. Tóm lại, khái niệm diễn ngôn đã và đang đƣợc tìm hiểu, xem xét ở nhiều lĩnh vực và là một vấn đề tạo đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Mỗi lĩnh vực, mỗi cá nhân khi tiếp cận khái niệm diễn ngôn và nghiên cứu diễn ngôn lại nhìn dƣới một góc nhìn khác nhau. Và nhƣ vậy, ngày một, diễn ngôn lại đƣợc bồi đắp thêm những nét nghĩa mới. Các hướng tiếp cận diễn ngôn Trong lý luận hiện nay, nhìn chung có ba cách tiếp cận cơ bản về khái niệm diễn ngôn. Một là, tiếp cận diễn ngôn từ góc nhìn ngôn ngữ học, do các nhà ngôn ngữ học đề xuất, tiêu biểu là F.
Hai là quan điểm của nhà triết học, lý luận văn học do M.Bakhtin nêu ra, cho rằng diễn ngôn là các thể loại lời nói. Ba là tiếp cận diễn ngôn ở góc độ xã hội học, lịch sử tƣ tƣởng mà tiêu biểu là Foucault (Tƣ tƣởng của Foucault về diễn ngôn hiện đang trở thành một nền tảng cho rất nhiều các trƣờng phái lý thuyết hiện đại và gợi mở một con đƣờng đầy triển vọng cho các nhà lý luận văn học cũng nhƣ văn học sử).Tiếp cận diễn ngôn dưới góc nhìn ngôn ngữ học Diễn ngôn đƣợc đề xuất nhƣ là một đối tƣợng mới của ngữ học. Bởi vì, một số nhà ngữ học thấy không thể nghiên cứu văn bản, diễn ngôn (ngôn bản) nhƣ là những đơn vị biểu đạt trên câu tồn tại trong thực tiễn đời sống. Và nền tảng cơ sở của hƣớng tiếp cận diễn ngôn từ phƣơng diện ngôn ngữ học là những luận điểm của F.de Saussure trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương.
16 Trong công trình này, F.de Saussure phân biệt ngôn ngữ và lời nói. Ngôn ngữ là một hệ thống, một kết cấu tinh thần trừu tƣợng, khát quát trong khi đó lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh cụ thể đƣợc tạo nên từ các cá nhân cụ thể. Ngôn ngữ là bản thể xã hội, thuộc về cộng đồng trong khi lời nói thuộc về cá nhân. Ngôn ngữ là những cấu trúc tiên nghiệm và bất biến trong khi đó lời nói lại là bình diện sinh thành.
Ông chỉ rõ đối tƣợng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngôn ngữ, sản phẩm của xã hội kết đọng lại trong óc mỗi ngƣời chứ không phải lời nói. Từ đó, chúng ta nhận thấy đƣợc sự khác biệt giữa diễn ngôn và văn bản. Diễn ngôn là cấu trúc lời nói mang tính động còn văn bản là cấu trúc ngôn ngữ mang chất tĩnh. David Crystal cho rằng: "Phân tích diễn ngôn tập trung vào cấu trúc của ngôn ngữ nói xuất hiện một cách tự nhiên trong các diễn ngôn nhƣ đàm thoại, phỏng vấn, bình luận và lời nói.
Phân tích văn bản tập trung vào các cấu trúc của ngôn ngữ viết, trong các văn bản nhƣ tiểu luận, thông báo, biển chỉ đƣờng và các chƣơng sách" [79]. Vào những thập niêm 60 của thế kỉ XX, trên cơ sở sự đối lập giữa văn bản và diễn ngôn, ngôn ngữ học đã rẽ sang hai hƣớng: một hƣớng đi sâu nghiên cứu cấu trúc nội tại của các văn bản nhƣ một hệ thống chỉnh thể, khép kín và biệt lập, và hƣớng chuyên nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn trong mối quan hệ với ngữ cảnh phát ngôn, nhân vật phát ngôn. Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu thuộc hai khuynh hƣớng này, không phải lúc nào diễn ngôn và văn bản cũng đƣợc các tác giả phân biệt một cách rạch ròi. Cũng thời gian này, ngôn ngữ học của F.de Sausure và chủ nghĩa cấu trúc của Bloomfield phát triển đến giai đoạn cực thịnh.
Lúc này, ngƣời ta cảm thấy sự chật chội, hạn hẹp của ngôn ngữ học lấy câu làm đơn vị lớn nhất và đề xuất đơn vị nghiên cứu lớn hơn câu. Cũng từ đây, nghiên cứu văn bản trở thành một khuynh hƣớng nghiên cứu phát triển hết sức rầm rộ. Văn bản đƣợc coi nhƣ là sự nối dài của câu. Ngƣời ta đã dùng những công cụ phân tích cấu trúc câu để phân tích văn bản.
17 Năm 1968, trong công trình nghiên cứu Ngữ pháp kể chuyện, Todorov đã cho rằng mỗi tác phẩm văn học là sự hiện thực hóa của một cấu trúc lớn hơn, mỗi văn bản văn học là một ví dụ và là chất liệu để nghiên cứu thuộc tính chung, trừu tƣợng của văn học. Trên cơ sở đó, việc phân tích văn bản văn học bao gồm phân tích các phƣơng diện: phương diện ngữ nghĩa (đƣợc phát triển thành hai nhóm: nhóm các yếu tố cùng hiện diện trong một văn bản và nhóm các yếu tố vắng mặt); những kiểu ghi của văn bản; tính đơn trị văn bản; phương diện từ; phương diện cú pháp. Dƣới cái nhìn của các nhà cấu trúc, tất cả các hành động của con ngƣời và các cơ cấu tổ chức của xã hội đều có liên quan đến ngôn ngữ, và có thể tìm hiểu nhƣ một hệ thống gồm các yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhƣ thế, diễn ngôn đƣợc xem là một cấu trúc khép kín, nội tại, đƣợc cấu thành từ những yếu tố bất biến là các phạm trù ngữ pháp nhƣ thời, thức, thể, giọng, ngôi.Cách tiếp cận này khiến cho các nhà nghiên cứu, trong quá trình phân tích diễn ngôn, đặc biệt chú trọng đến phƣơng diện cấu trúc và cố gắng kiếm tìm những mô hình ngôn ngữ mang tính chất tĩnh - cái cơ chế ẩn tàng của tổ chức ngôn từ trong văn bản cũng nhƣ diễn ngôn.