Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE NỘI QUY LAO DONG VA PHAP LUAT VE NOI QUY LAO DONG 1. Một số van dé lý luận về nội quy lao động 1. Khái niệm nội quy lao động Nội quy theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt là “những quy định dé đảm bảo trật tự và kỷ luật trong một tập thể, một cơ quan” [16, tr. Như vay, su ton tại nội quy gan liền với sự tồn tại của tập thé.
Mỗi cá nhân trong quá trình sống không chỉ thực hiện các hoạt động một cách đơn lẻ mà phải có sự liên kết, gắn kết, phối hợp với các cá nhân khác. Sự liên kết, tương tác giữa các cá nhân trong các hoạt động sống tạo nên các mối quan hệ. Mỗi con người luôn là một phan trong muôn vàn các môi quan hệ như mối quan hệ giữa con cái với cha mẹ, mối quan hệ giữa các anh chị em trong cùng gia đình, mối quan hệ đồng nghiệp giữa các nhân viên cùng làm việc trong một cơ quan. Nhờ vào các mối quan hệ mà các cá nhân được kết nối với nhau, tạo thành một mạng lưới rộng lớn.
Khi nhóm các chủ thể của những mối quan hệ có cùng tính chất, cùng mục đích, trong một phạm vi nhất định, chúng ta có một “tập thể”. Từ thuở sơ khai, con người đã có xu hướng tập hợp với nhau dé sinh tồn. Các bộ lạc, thị tộc đã hình thành từ rất sớm, cùng nhau sinh sống, săn ban, hái lượm. Do hình thành từ nhiều cá thê độc lập, tập thé chỉ có thé tồn tại, duy trì khi giữa các cá nhân tồn tại một “luật lệ” chung làm phương hướng dung hòa quyền lợi của mỗi cá nhân và quyền lợi chung của tập thể.
Từ đó, mỗi tập thé đặt ra các quy tắc xử sự chung dé các thành viên trong tập thé cùng tuân thủ. Ở phạm vi quốc gia, nhà nước ban hành hệ thống luật pháp dé duy trì một hệ thống quy tắc xử sự chung, còn các tập thể nhỏ hơn ban hành các nội quy như “luật lệ” của mình. Trong đời sống xã hội, lao động là hoạt động đặc trưng, cơ bản nhất của con người dé tạo ra sản phẩm vật chat và tinh than. Lao động là một trong những hoạt động sống tạo nên sự khác biệt giữa con người và các giống loài khác.
Cũng có nghĩa là, khi xuất hiện con người thì lao động cũng xuất hiện. Cũng như ở các hoạt động sống khác, con người có xu hướng liên kết với nhau trong lao động, tạo thành các tập thể trong quá trình lao động. Hiện tượng “tập thể” trong lao động ton tai, cũng đồng nghĩa với sự t6n tại của các quy tắc sử sự chung. Như vậy, các quy tắc xử sự chung của tập thể trong lao động đã tồn tại từ những hình thái xã hội sơ khai nhất của loài người.
Nhờ có quy tắc xử sự chung mà từ xa xưa, tộc trưởng của các thị tộc, bộ lạc nguyên thủy đã thiết lập được tập thé có tổ chức, có sự phân công nhiệm vụ cho các thành viên săn bắt, hái lượm. Hiện nay, cùng sự phát triển của quan hệ lao động, có rất nhiều quy tắc xử sự chung được duy trì trong các tập thể có quan hệ lao động. Các quy tắc xử sự chung có thể tồn tại dưới dạng quy trình khai thác, số tay khai thác, quy chế hoạt động. nhằm giải quyết các vấn đề khác nhau trong quan hệ lao động hoặc trong quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị.
NQLD là loại hình quy tắc xử sự chung nhất, đóng vai trò là xương song trong quan lý lao động, điều hòa mối quan hệ lao động và duy trì cơ ché, môi trường làm việc của toàn bộ bộ máy lao động sản xuất của tô chức. Như chúng ta đã biết, lao động là “hoạt động có mục đích của con người nham tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội” [24, tr. Lao động của con người là những hoạt động cụ thể có mục đích, được thực hiện theo một quy trình nhất định nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần theo mục tiêu đặt ra trước đó. Trong cuộc sông, do nhiều lý do khác nhau như yêu cầu, điều kiện của quá trình lao động, mục đích, lợi ích, thu nhập.khiến con người không thé thực hiện các hoạt động một cách đơn lẻ mà thay vào đó con người luôn có xu hướng liên kết, tụ hợp lại dé cung thuc hién một công việc.
Chính việc nhiều người cùng lao động trong một quy trình nhất định đã đòi hỏi các cá nhân trong tập thể đó cần phải có sự phối hợp, hoạt động nhịp nhàng với nhau. Việc đảm bảo hoạt động của tập thể được diễn ra hiệu quả trong mối quan hệ hài hòa của các cá nhân với nhau, của các cá nhân với tập thê đã dẫn tới một yêu cầu khách quan — đó là sự quản lý. Các-Mác đã nhận định: Hình thức lao động mà trong đó “nhiều người làm việc bên cạnh nhau trong một quá trình sản xuất nào đó hoặc là trong những quá trình sản xuất khác nhau nhưng lại liên kết với nhau thì lao động của họ mang tính hiệp tac” [5]. Rõ ràng, mọi sự liên kết của một tập thé đều mang tính hợp tác.
Sự hợp tác này ton tại mọi lúc, mọi nơi. Dé sự hợp tác này đạt được hiệu quả, mục đích chung thì tất yếu cần có sự quản lý, như Các- Mac đã viết: “Tát cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiễn hành trên quy mô tương đối lớn thì ít, nhiều cũng can đến một sự chỉ dao dé điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Trong quá trình lao động, quyền quản lý lao động của NSDLĐ xuất phát từ vai trò là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất của NSDLĐ. Dé đảm bảo lợi ích của NSDLĐ cũng như trật tự lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh nói chung, NSDLĐ có quyền ban hành ra những nguyên tắc, quy tắc ứng xử đối với những hành vi cua NLD khi tham gia vào quan hệ lao động.
Trên cơ sở đó, NLD có trách nhiệm phải tuân thủ những quy định này của NSDLD. Các quy tắc này được thể hiện trong văn bản pháp lý nhất định, đó chính là nội quy lao động. Theo Từ điển Luật học nội quy lao động là “văn bản quy định việc tuân theo thời gian, công nghệ, trật tự trong đơn vị lao động và sự điều hành công việc của người su dụng lao dong. 10 Giáo trình Luật Lao động — Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái nệm: Nội quy lao động là văn bản quy định do người sử dụng lao động ban hành, gồm những quy tắc xử sự chung và xử sự riêng biệt cho từng loại lao động hoặc khu vực sản xuất; các hành vi vi phạm kỷ luật lao động và các biện pháp xử lý đối với những người có hành vi vi phạm kỷ luật lao động [25].
Như vậy, dưới góc độ pháp lý với tư cách là chế định của luật lao động, khái niệm nội quy lao động có thể được hiểu như sau: Nội quy lao động là văn bản do người sử dụng lao động ban hành dựa trên các quy định của pháp luật, quy định về các quy tắc xử sự mà người lao động phải tuân thủ khi tham gia quan hệ lao động, các hành vi vi phạm kỷ luật lao động, cách thức xu lý và trách nhiệm vật chất đối với người có hành vi vi phạm kỷ luật lao động. Các đặc trưng của nội quy lao động Thứ nhất, nội quy lao động do NSDLĐ ban hành thể hiện ý chí của NSDLD thông qua việc quy định các nghĩa vụ mà NLD phải thực hiện Nội quy lao động bản chất là công cụ thé hiện sự quản lý lao động của NSDLĐ. Sự quản lý lao động của NSDLĐ xuất phát từ vai trò là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất. Người sử dụng lao động có quyền kiểm tra, giám sát, quản lý khối lượng tài sản của mình.
Nếu như thỏa ước lao động tập thé ra đời dựa trên sự thỏa thuận giữa tập thể NLĐ và NSDLĐ; hợp đồng lao động được ký kết với sự tự nguyện và thống nhất ý chí giữa các bên thi NQLD do NSDLĐ soạn thảo và ban hành — thé hiện ý chí, quan điểm của NSDLĐ trong quá trình vận hành, quan lý doanh nghiệp, tuy nhiên, trong quá trình soạn thảo NQLD, NSDLD có tham khảo ý kiến của tập thể NLĐ. Trao quyền tự chủ trong việc soạn thảo, ban hành NQLĐ chính là sự thừa nhận của Nhà nước đối với quyền tự chủ trong lĩnh vực tổ chức và quản lý lao động của NSDLD. Day là một đặc trưng nổi bật của NQLD so với các loại văn bản nội bộ khác trong doanh nghiệp. lãi Chính từ quyền tự chủ nay, NQLD luôn thé hiện ý chí, quan điểm định hướng quản lý lao động của NSDLD.
Nếu thỏa ước lao động tập thé ký kết dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình dang va theo hướng có lợi cho NLD thì NQLD lại thể hiện ý chí của NSDLĐ. Nội quy lao động quy định những quy tắc xử sự mà NLĐ phải thực hiện, trong đó bao gồm các nội dung chủ yếu như: Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; trật tự nơi làm việc; an toàn, vệ sinh lao động ở nơi làm việc; các hành vi vi phạm kỷ luật của NLD và các hình thức xử lý kỷ luật. Những nội dung này sẽ căn cứ trên đặc điểm ngành nghề sản xuất, kinh doanh, môi trường lao động của từng doanh nghiệp mà có những quy định khác nhau. Tùy theo đặc trưng của từng ngành nghề sản xuất kinh doanh mà NSDLĐ sẽ đề ra những tiêu chuẩn, quy định riêng để áp dụng tại doanh nghiệp nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra hiệu quả nhất.
Thứ hai, nội quy lao động mang tính quy phạm Đặc điểm này của NQLĐ thể hiện trên hai phương diện: nội quy lao động là văn bản có tính bắt buộc đối với NLD và nội quy lao động phải được ban hành theo nội dung, trình tự, thủ tục không trái với các quy định của pháp luật lao động. Tính bắt buộc của nội quy lao động thê hiện khi NQLĐ được ban hành theo đúng quy định của pháp luật thì tất cả NLĐ trong doanh nghiệp phải tuân theo các quy tắc đã được nêu trong nội quy. Nếu NLĐ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nội dung quy định trong nội quy lao động, NLD sẽ phải chịu xử lý kỷ luật lao động.