Luận văn về nơi chốn trong điện ảnh Nhật Bản qua Perfect Days và Evil Does Not Exist (2023)

Luận văn phân tích vấn đề nơi chốn trong điện ảnh Nhật Bản đương đại qua hai tác phẩm tiêu biểu Perfect Days (2023) và Evil Does Not Exist (2023).

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lí luận và lịch sử điện ảnh, truyền hình

Tác giả

Nguyễn Sỹ Hiếu

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2026

166
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nơi chốn trong điện ảnh Nhật Bản đương đại

Nơi chốn giữ vai trò trung tâm trong cấu trúc tự sự điện ảnh Nhật Bản đương đại. Khái niệm này không đơn thuần chỉ bối cảnh địa lý. Nơi chốn đại diện cho không gian sống mang đậm tính hiện sinh và văn hóa. Lý thuyết hiện tượng học xem nơi chốn như ngôi nhà nền tảng của con người trên Trái Đất. Ở đó, nhân vật thiết lập mối quan hệ mật thiết với môi trường chung quanh. Hai tác phẩm Perfect Days và Evil Does Not Exist ra mắt năm 2023 thể hiện rõ nét tư duy này. Bộ phim thứ nhất đặt điểm nhìn vào đời sống đô thị Tokyo hiện đại. Bộ phim thứ hai hướng ống kính về vùng nông thôn Harasawa yên tĩnh. Cả hai đạo diễn đều khai thác sâu sắc mối liên kết giữa con người và hoàn cảnh cư ngụ. Không gian trên màn ảnh trở thành phương tiện phản ánh chiều sâu nội tâm. Nơi chốn lưu giữ ký ức, định hình thói quen và bộc lộ căn tính của từng nhân vật. Sự tương tác giữa con người và nơi chốn tạo nên nhịp điệu tự sự đặc thù. Điện ảnh Nhật Bản thế kỷ hai mươi mốt không ngừng làm mới những giá trị thẩm mỹ truyền thống qua không gian hình ảnh.

1.1. Khung lý thuyết hiện tượng học và địa hạt nơi chốn

Lý thuyết nơi chốn bắt nguồn từ hiện tượng học Tây phương của Martin Heidegger. Triết gia nhấn mạnh khái niệm cư ngụ như điều kiện tiên quyết của tồn tại. Edward Relph tiếp tục phát triển luận điểm này trong nghiên cứu địa lý nhân văn. Ông khẳng định cội rễ nơi chốn đem lại điểm tựa vững chắc cho nhận thức con người. Nơi chốn mang giá trị tinh thần, đạo đức và tính thẩm mỹ sâu sắc. Bên cạnh đó, John Agnew phân tách nơi chốn thành ba bình diện chính. Ba yếu tố đó gồm địa điểm cụ thể, vị trí địa lý và cảm thức nơi chốn. Cảm thức nơi chốn hình thành qua sự gắn bó tình cảm lâu dài. Điện ảnh sử dụng các yếu tố này để tạo dựng thế giới quan nghệ thuật hoàn chỉnh.

1.2. Sự dịch chuyển không gian trong điện ảnh Nhật Bản

Điện ảnh Nhật Bản có truyền thống gắn bó mật thiết với không gian địa phương. Những năm 1990 chứng kiến sự trỗi dậy của làn sóng đạo diễn độc lập. Các nhà làm phim đưa bối cảnh đời thường lên màn ảnh quốc tế. Hình ảnh Hokkaido hay Kamakura trở thành biểu tượng văn hóa thu hút thế giới. Bước sang thập niên 2020, cách tiếp cận không gian có sự thay đổi rõ rệt. Đạo diễn đương đại chú trọng hơn vào xung đột giữa phát triển và bảo tồn. Họ khám phá sâu mối quan hệ giữa bản địa và toàn cầu. Perfect Days ghi nhận nhịp sống tĩnh lặng giữa lòng siêu đô thị. Evil Does Not Exist lại tái hiện nguy cơ biến mất của làng quê truyền thống. Không gian điện ảnh phản chiếu trực tiếp những chuyển dịch của xã hội.

II. Phân tích vấn đề nơi chốn trong điện ảnh Nhật Bản qua hai phim

Sự đối lập giữa nơi chốn và phi nơi chốn bộc lộ rõ qua hai bộ phim. Trong Perfect Days, đạo diễn Wim Wenders khắc họa một Tokyo vừa quen thuộc vừa khác lạ. Nhân vật Hirayama làm nghề dọn dẹp các nhà vệ sinh công cộng hiện đại. Những công trình công cộng này vốn dĩ mang đặc tính phi nơi chốn theo lý thuyết của Marc Augé. Đó là nơi người qua lại không để lại danh tính. Tuy nhiên, Hirayama biến đổi các công trình này thành chốn thân thuộc. Ông chăm chút từng góc tường bằng sự kính cẩn và thấu cảm. Trong khi đó, Ryusuke Hamaguchi mang đến góc nhìn đối nghịch trong Evil Does Not Exist. Ngôi làng Harasawa đứng trước nguy cơ bị xâm lấn bởi dự án cắm trại nghỉ dưỡng. Doanh nghiệp thành phố xem vùng đất này như một địa điểm kinh doanh thương mại. Dân làng lại xem cánh rừng là cội nguồn của sự sống và nguồn nước sạch. Mâu thuẫn nảy sinh giữa tư duy vụ lợi và ý thức sinh thái bản địa. Sự đứt gãy quan hệ giữa con người và tự nhiên dẫn đến xung đột bi kịch. Cả hai tác phẩm đều chỉ ra sự mong manh của chốn cư ngụ.

2.1. Cảm thức nơi chốn đô thị trong tác phẩm Perfect Days

Nhân vật Hirayama xác lập cảm thức nơi chốn thông qua kỷ luật sinh hoạt hàng ngày. Mỗi buổi sáng bắt đầu bằng tiếng chổi quét đường bên ngoài căn hộ cũ. Chu trình di chuyển qua các trạm vệ sinh tạo nên bản đồ cá nhân độc đáo. Hirayama không cảm thấy cô độc trong không gian đô thị Tokyo rộng lớn. Ông tìm thấy niềm an lạc khi ngắm nhìn ánh sáng komorebi xuyên qua kẽ lá. Những bức ảnh chụp bóng cây thể hiện sự gắn kết thầm lặng với tự nhiên. Chiếc xe tải nhỏ và băng cassette cũ trở thành không gian cư ngụ ấm cúng di động. Sự bình yên này là kết quả của lựa chọn sống chậm rãi và chú tâm.

2.2. Xung đột sinh thái và nguy cơ bật rễ trong Evil Does Not Exist

Evil Does Not Exist đặt ra vấn đề mất gốc và suy thoái môi trường. Ngôi làng Harasawa vốn có hệ sinh thái cân bằng qua nhiều thế hệ. Người dân sống dựa vào nguồn nước đầu nguồn tinh khiết và rừng thông già. Sự xuất hiện của dự án glamping đe dọa trực tiếp đến mạch sống tự nhiên. Dự án này phản ánh tư duy thực dân hóa không gian của chủ nghĩa tư bản. Đất đai bị biến thành hàng hóa tiêu khiển phục vụ du khách đô thị. Takumi và dân làng hiểu rõ hậu quả ô nhiễm đối với hạ lưu. Bộ phim cảnh báo nguy cơ hủy diệt cội rễ văn hóa bản địa khi môi trường bị xâm phạm.

III. Phương pháp tiếp cận nơi chốn trong điện ảnh Nhật Bản hiện nay

Nghiên cứu nơi chốn trong điện ảnh đòi hỏi sự kết hợp đa ngành. Phương pháp địa văn hóa học và phân tích ngữ cảnh phim giữ vai trò chủ đạo. Người nghiên cứu cần quan sát cách bố cục khung hình tái hiện không gian vật lý. Góc máy, ánh sáng và thiết kế âm thanh đều tham gia kiến tạo cảm thức địa phương. Trong Perfect Days, Wim Wenders sử dụng khung hình vuông cổ điển tỷ lệ 4:3. Tỷ lệ này gom tụ sự chú ý vào hành động cá nhân và chi tiết vật thể. Ống kính tập trung vào các bề mặt gạch men và phản chiếu kính. Ngược lại, Ryusuke Hamaguchi áp dụng cú máy lia dài chuyển động chậm theo ngọn cây trong Evil Does Not Exist. Âm nhạc của Eiko Ishibashi đột ngột đứt đoạn để nhấn mạnh sự bất an rình rập. Các thủ pháp này giải phóng không gian khỏi tính thụ động thông thường. Cảnh quan trở thành một nhân vật độc lập có tiếng nói và cảm xúc riêng. Việc đọc hiểu phim qua lăng kính nơi chốn giúp phát hiện các tầng nghĩa xã hội ẩn sâu dưới bề mặt hình ảnh.

3.1. Phương pháp phân tích thi pháp thị giác và âm thanh

Thi pháp thị giác đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng chất thơ của nơi chốn. Nhà phân tích cần khảo sát kỹ lưỡng cách điều phối ánh sáng tự nhiên. Các đạo diễn Nhật Bản luôn đề cao khoảnh khắc chuyển giao giữa ngày và đêm. Âm thanh môi trường cũng tạo dựng chiều sâu cảm giác vượt trội so với lời thoại. Tiếng lá xào xạc hay tiếng nước chảy mang lại trải nghiệm nhập vai sinh động. Sự cộng hưởng giữa âm thanh nền và hình ảnh giúp khán giả cảm nhận không khí thực tế. Phương pháp này biến không gian màn ảnh thành một thực thể rung động đầy sống động.

3.2. Vận dụng phê bình sinh thái học trong nghiên cứu điện ảnh

Phê bình sinh thái học mở ra hướng tiếp cận mang tính phản tư sâu sắc. Hướng đi này chất vấn hành vi chiếm dụng cảnh quan để mưu cầu lợi ích kinh tế. Mối quan hệ giữa con người và nơi chốn không chỉ dừng lại ở cảm xúc lãng mạn. Đó còn là trách nhiệm đạo đức đối với sự sinh tồn của muôn loài. Việc giải mã các tín hiệu thiên nhiên trong phim giúp vạch trần ảo tưởng thống trị của nhân loại. Tự nhiên trong điện ảnh Nhật Bản không bao giờ đóng vai trò phông nền câm lặng. Rừng cây và muông thú luôn phản kháng lại những can thiệp thô bạo từ bên ngoài.

IV. Kết luận và giá trị nơi chốn trong điện ảnh Nhật Bản hiện đại

Nghiên cứu nơi chốn khẳng định vị thế độc đáo của điện ảnh xứ sở hoa anh đào. Hai bộ phim năm 2023 mang đến hai thái cực bổ trợ lẫn nhau về nghệ thuật không gian. Perfect Days tôn vinh khả năng kiến tạo nơi chốn từ những địa điểm đời thường nhất. Tác phẩm nhắc nhở con người tìm kiếm ý nghĩa sống qua việc trân trọng hiện tại. Ngược lại, Evil Does Not Exist gióng lên hồi chuông cảnh báo trước làn sóng thương mại hóa môi trường. Tác phẩm thúc giục xã hội gìn giữ những vùng sinh thái nguyên sơ. Cả hai đạo diễn đều chứng minh rằng không gian định hình số phận nhân vật. Nơi chốn không bao giờ đứng yên mà luôn vận động cùng biến thiên lịch sử. Tư duy điện ảnh này truyền cảm hứng mạnh mẽ cho khán giả toàn cầu. Người xem học cách lắng nghe cảnh quan chung quanh bằng sự đồng cảm và bao dung. Giá trị nhân văn của phim nằm ở việc tái lập cảm thức gắn kết với thế giới.

4.1. Ứng dụng nghiên cứu nơi chốn vào du lịch điện ảnh

Nghiên cứu nơi chốn mở ra triển vọng lớn cho ngành du lịch văn hóa. Khán giả quốc tế thường tìm kiếm địa danh thực tế sau khi thưởng thức phim Nhật Bản. Các địa điểm quay phim tại Tokyo hay Nagano thu hút du khách nhờ chiều sâu câu chuyện. Việc quảng bá địa phương thông qua điện ảnh đòi hỏi bảo tồn tính nguyên bản của văn hóa. Chính quyền cần quản lý lưu lượng khách nhằm tránh gây tổn hại đời sống bản địa. Sự cân bằng giữa khai thác du lịch và giữ gìn môi trường là bài học quý giá. Điện ảnh trở thành cầu nối bền vững thúc đẩy phát triển kinh tế vùng.

4.2. Định hướng sáng tác cho các nhà làm phim trẻ

Các nhà làm phim trẻ có thể rút ra nhiều kinh nghiệm nghệ thuật từ hai tác phẩm. Không gian tự sự không nên chỉ đóng vai trò phông nền minh họa đơn thuần. Biên kịch và đạo diễn cần xây dựng bối cảnh như một chủ thể sống động. Việc tìm tòi chất liệu từ đời sống thường nhật mang lại tính chân thực cho câu chuyện. Điện ảnh độc lập cần dũng cảm đối diện với các xung đột môi trường và căn tính xã hội. Sự gắn kết chân thành với không gian bản địa sẽ tạo ra sức hút phổ quát đối với công chúng toàn cầu. Tác phẩm thành công khi chạm tới cảm thức cư ngụ của người xem.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

05/11/2026
Vấn đề nơi chốn trong điện ảnh nhật bản đương đại qua khảo sát perfect days 2023 và evil does not exist 2023

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Như tên gọi, chương này trình bày những vấn đề lí luận và thực tiễn của đề tài. Theo đó, với mục 1.1, chúng tôi tiến hành khảo xét các định thuyết về nơi chốn ở cả đôi mạn Tây phương và Nhật Bản. Ở Tây phương, đó là thuyết nơi chốn (theory of place) xoay quanh cuộc vận động của phân ngành địa lí nhân văn (humanistic geography) cuối thập niên 1970, chủ yếu ở Bắc Mĩ. Tuy nhiên, trong vô vàn triển khai thuyết nơi chốn tính tới hiện tại, ở đây, xét theo tính ý hướng của luận văn, chúng tôi sẽ tham khảo các trước tác của Yi-Fu Tuan, Edward Relph, John Agnew, Tim Cresswell.

Còn ở Nhật Bản, đó là câu chuyện triết học xoay quanh thuyết nơi chốn (bashoron - 場所論) của người khai sinh nền triết học hiện đại nơi đây là Nishida Kitarō; ngoài ra, chúng tôi cũng tham chiếu lí luận của Karatani Kōjin, Katō Norihiro, Maruta Hajime. Và tất nhiên, do đây không phải là một nghiên cứu địa lí hay triết học, nên phần này sẽ được trình bày trong chừng mực nhất định, chi tiết sẽ được nêu ra trong các chương sau. Trên nền tảng lí thuyết từ các ngành khác là vậy, mục 1.2 tiến hành khảo sát hướng tiếp cận điện ảnh từ thuyết nơi chốn - vẫn ở cả Tây phương lẫn Nhật Bản - đã và đang quan tâm bàn luận những vấn đề nào. Cách phân chia Tây phương thì thế này, còn Nhật Bản thì thế kia chỉ mang tính chất tương đối, dựa trên đối tượng khảo sát và mục đích luận của các công trình.

Về phía tiếng Anh, do có cả các công trình tập hợp nhiều bài viết, nên mạn phép không nêu tên tác giả ở đây. Còn về phía tiếng Nhật, chúng tôi chủ yếu tham chiếu các công trình, bài viết của hai tác giả Araki Masami và Sasaki Yūsuke. Đây cũng là phần cơ sở lí luận nòng cốt của luận văn, giúp chúng tôi có thêm nhiều gợi ý trong đường hướng triển khai.3 còn lại đảm nhiệm vai trò cung cấp cái nhìn tổng quan về nền điện ảnh Nhật Bản đương đại. Thoạt nghe thì quả là vô cùng rộng lớn và mông lung, nên ở đây, chúng tôi chỉ xin tập trung vào điện ảnh Nhật Bản cuối thế kỉ XX (từ thập niên 1990) đến thế kỉ XXI hiện nay.

Tiếp đó, nhiệm vụ đặt ra là xếp hai đạo diễn, hai bộ phim mà luận văn lựa chọn khảo sát vào dòng chảy lịch sử ấy, để tìm thấy những vấn đề nơi chốn mà chúng gợi mở. Các định thuyết về nơi chốn 1. Hiện tượng học của nơi chốn ở Tây phương Không phải là Tây phương không có truyền thống triết học về nơi chốn. Có thể dễ dàng truy nguyên nguồn gốc của ý niệm này về thời của Platon, Aristotle với “chora”, “topos”; nối dài đến Albertus Magnus với bản tính của nơi chốn; rồi đến các triết gia thời hiện đại như Martin Heidegger với “dasein” và “dwelling”; thêm chút thi học của không gian của Gaston Bachelard; cũng như các nỗ lực diễn giải của Edward Casey… Nhưng như đã nêu, ở đây, chúng tôi quan tâm tới thuyết nơi chốn của phân ngành địa lí nhân văn, hay còn gọi là “địa lí hiện tượng học” (phenomenological geography) - ngành học chủ trương nghiên cứu nơi chốn (place) theo hướng hiện tượng học.

Muốn hiểu được ý niệm nơi chốn của các nhà địa lí nhân văn, ta buộc phải xuất phát từ đây. Để phản ứng với phương pháp định lượng và duy khoa học luận, các nhà địa lí nhân văn đã du nhập hai khuynh hướng triết học châu Âu là hiện tượng học và chủ nghĩa hiện sinh - hai chiếc chìa khoá định tính - để mở chiếc rương báu của họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nguyễn Sỹ Hiếu (2026), Nơi chốn trong điện ảnh Nhật Bản qua Perfect Days và Evil Does Not Exist, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
APA 7
Nguyễn, S. H. (2026). Nơi chốn trong điện ảnh Nhật Bản qua Perfect Days và Evil Does Not Exist [Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/noi-chon-dien-anh-nhat-ban-perfect-days-evil-does-not-exist/9443646553
IEEE
S. H. Nguyễn, "Nơi chốn trong điện ảnh Nhật Bản qua Perfect Days và Evil Does Not Exist," Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2026. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/noi-chon-dien-anh-nhat-ban-perfect-days-evil-does-not-exist/9443646553

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác