Chương 1: Những vấn đề chung về nợ công của Việt Nam và tuyên truyền nợ công trên báo chí. Chương 2: Thực trạng nội dung và hình thức thông tin của báo điện tử với vấn đề nợ công của Việt Nam. Chương 3: Đánh giá ưu, nhược điểm và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thông tin tuyên truyền về nợ công của Việt Nam. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM VÀ THÔNG TIN VỀ NỢ CÔNG TRÊN BÁO CHÍ 1.
Nợ công và quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta đối với vấn đề vay nợ và nợ công. Khái niệm nợ công và vài nét về nợ công của Việt Nam 1. Khái niệm nợ công Nợ công là một niệm tương đối phức tạp. Hầu hết những cách tiếp cận hiện nay đều cho r ng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó.
Vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ. Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công được hiểu bao gồm ba nhóm là: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phýõng.
Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, ngoài nước, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân dân Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nh m thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND), thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành được Chính phủ bảo lãnh.
Một cách khái quát nhất, có thể hiểu “nợ công là tổng giá trị các khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nh m bù đắp cho các khoản thâm hụt ngân sách”. Vì thế, nợ Chính phủ nói cách khác là thâm hụt ngân sách lũy kế tính đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ Chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này b ng bao nhiêu phần trăm so với GDP. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Vài nét về nợ công của Việt Nam Theo Luật Quản lý nợ công thì phạm vi nợ công bao gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Trong đó, nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính kư kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nh m thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết phát hành hoặc ủy quyền phát hành. Theo The Economist, cập nhật ngày 31/12/2014, nợ công của Việt Nam là hơn 85 tỷ USD, b ng 60,3% GDP. Nếu tính cả số nợ của doanh nghiệp nhà nước, nợ trái phiếu Chính phủ, nợ đọng xây dựng cơ bản thì nợ công của Việt Nam là rất cao. Bên cạnh việc quy mô nợ công ở mức khá cao thì một điểm đáng lưu ý là tốc độ tăng nhanh của nợ công trong những năm gần đây.
Nếu như giai đoạn trước đây chỉ xấp xỉ 10 /năm thì giai đoạn 2010 - 2013 tăng mạnh, ở mức tăng trung bình xấp xỉ 22 /năm và cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong giai đoạn này là 5,78%. Nguyên nhân căn bản khiến nợ công tăng mạnh trong những năm gần đây là. Về khách quan, trong những năm gần đây, kinh tế toàn cầu rơi vào khủng hoảng, tốc độ phục hồi chậm và nợ công của khu vực đồng tiền chung châu u ở mức báo động đã tác động không nhỏ đến tình hình nợ công của Việt Nam. Về chủ quan, có thể kể đến: (i) nhu cầu chi tăng mạnh trong thời gian vừa qua, đặc biệt là chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chi cho con người và cho an sinh xã hội.
Thực trạng kết cấu hạ tầng của nước ta còn yếu kém, nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện đột phá chiến lược về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và áp lực cạnh tranh, hội nhập quốc tế không ngừng gia tăng là nguyên nhân tăng các khoản vay để bổ sung 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho đầu tư; (ii) bội chi ngân sách nhà nước cao, kéo dài và có xu hướng gia tăng. Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2011 - 2013, bội chi ngân sách nhà nước bình quân 5,2 GDP, trong khi thu ngân sách nhà nước chỉ tăng có 1,13 lần thì quy mô chi ngân sách nhà nước tăng 1,29 lần. Năm 2013, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết nới trần bội chi ngân sách nhà nước trên GDP từ 4,8 lên 5,3 GDP ước thực hiện, nhưng do mức GDP thực tế thấp hơn so với kế hoạch dự kiến nên với số bội chi tuyệt đối được Quốc hội thông qua, con số này tương đương 5,45. Khi bội chi ngân sách nhà nước tăng thì nợ công cũng sẽ tăng lên tương ứng; (iii) chi phí nợ công tăng lên trong những năm vừa qua cũng góp phần làm gia tăng nợ công.
Từ năm 2010, việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi khó khăn hơn do Việt Nam thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình thấp. Đặc biệt, trong những năm gần đây, Việt Nam đã phải chuyển sang các nguồn vốn vay thương mại với lãi suất cao hơn và các điều kiện vay khắt khe hơn, điều này làm gia tăng chi phí trả nợ h ng năm. Tính bình quân giai đoạn 2010 - 2014, chi trả lãi chiếm 32% trong tổng chi trả nợ h ng năm và có xu hướng ngày càng tăng lên; (iv) do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế nước ta tăng trưởng chậm lại, tỷ trọng thu ngân sách thấp hơn cùng kỳ năm trước nhưng vẫn phải giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp. Tỷ lệ huy động thuế, phí vào ngân sách nhà nước giảm từ 24,8% GDP bình quân giai đoạn 2006 - 2010 xuống còn 21 GDP giai đoạn 2011 - 2015.
Cùng với đó, kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn khó khăn đòi hỏi Nhà nước phải có biện pháp miễn, giảm, gia hạn thuế để hỗ trợ doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng đến nguồn động viên vào ngân sách nhà nước; (v) lượng vốn huy động qua kênh phát hành trái phiếu chính phủ tăng nhanh. Trong bối cảnh nguồn ngân sách bố trí cho trả nợ và đầu tư phát triển rất hạn hẹp nhưng nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện đột phá chiến lược là rất lớn, do đó, việc duy trì huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ là cần thiết. Giai đoạn 2011 - 2015, phải phát hành 335 nghìn tỷ đồng trái phiếu chính phủ, gấp hơn 2,5 lần giai đoạn 2006 - 2010 (giai đoạn 2011 - 2014 đã phát hành 250 nghìn tỷ đồng, năm 2015 theo kế hoạch phát hành thêm 85 nghìn tỷ đồng).
(vi) chính sách mở rộng phạm vi, đối tượng bảo lãnh của Chính phủ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho doanh nghiệp vay vốn góp phần làm nợ công tăng cao. Phạm vi bảo lãnh của Chính phủ rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh như sản xuất thép, xi măng, giấy, điện, than, khoáng sản, cảng biển, năng lượng, y tế và các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng. Truyền thông kinh tế-tài chính và truyền thông về nợ công.1 Quan điểm về phát triển kinh tế - tài chính Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể b ng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị. Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên.
Truyền thông đòi hỏi phải có một người gửi, một tin nhắn, một phương tiện truyển tải và người nhận, mặc dù người nhận không cần phải có mặt hoặc nhận thức về ý định của người gửi để giao tiếp tại thời điểm việc truyền thông này diễn ra; do đó thông tin liên lạc có thể xảy ra trên những khoảng cách lớn trong thời gian và không gian. Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻ một khu vực dành riêng cho thông tin được truyền tải. Quá trình giao tiếp được coi là hoàn thành khi người nhận hiểu thông điệp của người gửi. Đã có rất nhiều quan điểm và lý thuyết khác nhau về phát triển như lý thuyết hiện đại hóa, lý thuyết sự phụ thuộc, lý thuyết đa dạng hóa… trong đó, không ít người thường đánh đồng phát triển là tăng trưởng kinh tế hoặc thịnh vượng về kinh tế.
Melkote (Giáo sư tại Khoa Viễn thông, Đại học Bowling Green State, Mỹ) trong bài nghiên cứu khoa học “Lý thuyết truyền thông phát triển” cho r ng, người ta thường nhầm tưởng mức độ phát triển được đo b ng “Tổng thu nhập quốc nội GDP và mọi nhân tố trong nước được huy động để tăng cường và duy trì mức độ tăng trưởng GDP, nhất là trong những ngành tập trung nhiều vốn và công nghệ với nguyên tắc sở hữu tư nhân, tự do thương mại và thị trường tự do”. Đối với Việt Nam, trong nhiều năm trứ đây, khái niệm truyền thông ít được sử dụng, chủ yếu sử dụng khái niệm truyên truyền. Tuyên truyền là việc nêu ra các thông tin (vấn đề) với mục đích cho nhiều người biết nh m đưa đẩy thái độ, suy 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.