Nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế ở một số nước trên thế giới và hàm ý chính, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

224
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.1. Nghiên cứu về nợ công bền vững

1.2. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế

1.2.1. Nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế tác động đến nợ công bền vững

1.2.2. Nghiên cứu về nợ công bền vững tác động đến tăng trưởng kinh tế

1.3. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

2.1. Tổng quan về nợ công bền vững

2.1.1. Khái niệm về nợ công và nợ công bền vững

2.1.2. Các tiêu chí đánh giá nợ công bền vững

2.1.3. Phương pháp đánh giá nợ công bền vững

2.2. Tổng quan về tăng trưởng kinh tế

2.2.1. Phương pháp đo lường

2.2.2. Lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế

2.2.2.1. Tăng trưởng kinh tế tác động đến nợ công bền vững
2.2.2.2. Nợ công bền vững tác động đến tăng trưởng kinh tế

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp chỉ số đo lường nợ công bền vững

3.1.1. Giới thiệu chung về phương pháp chỉ số

3.1.2. Lựa chọn cách thức chuẩn hóa số liệu để đo lường nợ công bền vững

3.1.3. Xây dựng chỉ số nợ công bền vững (DSI) dựa trên chuẩn hóa min - max

3.2. Mô hình ước lượng mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế

3.2.1. Mô hình VAR

3.2.2. Mô hình VECM

3.2.3. Quy trình ước lượng

4. CHƯƠNG 4: MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

4.1. Phân tích mô tả mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế

4.1.1. Kết quả tính toán chỉ số nợ công bền vững (DSI)

4.1.2. Mối quan hệ tổng thể giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế

4.1.3. Mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế theo từng nhóm nước

4.1.4. Mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia

4.2. Phân tích lượng hóa mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế

4.2.1. Mô hình ước lượng và giả thuyết nghiên cứu

4.2.2. Dữ liệu nghiên cứu và mô tả thống kê các biến

4.2.3. Kết quả ước lượng

4.2.4. Thảo luận kết quả

5. CHƯƠNG 5: HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

5.1. Thực trạng mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

5.1.1. Thực trạng nợ công Việt Nam

5.1.2. Mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

5.2. Một số hàm ý chính sách liên quan đến mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam

5.2.1. Mở rộng, nâng cấp các chỉ số được sử dụng trong quản lý nợ công

5.2.2. Điều chỉnh nợ công bền vững một cách hợp lý trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế

5.2.3. Cải cách thể chế về quản lý nợ công

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế

Nợ công bền vững là một khái niệm quan trọng trong quản lý tài chính công. Nó không chỉ ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu của chính phủ mà còn tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu này sẽ phân tích mối quan hệ giữa nợ côngtăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững.

1.1. Khái niệm nợ công bền vững và tầm quan trọng

Nợ công bền vững được định nghĩa là khả năng của chính phủ trong việc trả nợ mà không gây ra khủng hoảng tài chính. Điều này rất quan trọng cho sự ổn định kinh tế và phát triển bền vững.

1.2. Tăng trưởng kinh tế và vai trò của nợ công

Tăng trưởng kinh tế là chỉ số quan trọng phản ánh sức khỏe của nền kinh tế. Nợ công có thể thúc đẩy tăng trưởng nếu được sử dụng hiệu quả cho đầu tư công và phát triển hạ tầng.

II. Vấn đề nợ công bền vững tại Việt Nam hiện nay

Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì nợ công bền vững. Tình hình nợ công gia tăng nhanh chóng, trong khi hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc quản lý nợ công một cách hiệu quả hơn.

2.1. Tình hình nợ công Việt Nam trong những năm qua

Nợ công Việt Nam đã tăng từ 54,5% GDP năm 2013 lên 61,4% GDP năm 2017. Mặc dù có sự giảm nhẹ vào năm 2018, nhưng vẫn cao hơn mức trung bình của các quốc gia đang phát triển.

2.2. Các thách thức trong quản lý nợ công

Các thách thức bao gồm lãi suất cao, nợ nước ngoài gia tăng và hiệu quả sử dụng vốn thấp. Điều này có thể dẫn đến tình trạng nợ công không bền vững và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

III. Phương pháp đánh giá nợ công bền vững tại Việt Nam

Để đánh giá nợ công bền vững, cần áp dụng các phương pháp định lượng và định tính. Việc xây dựng chỉ số nợ công bền vững (DSI) sẽ giúp theo dõi và quản lý nợ công hiệu quả hơn.

3.1. Xây dựng chỉ số nợ công bền vững DSI

Chỉ số DSI được xây dựng dựa trên nhiều tiêu chí như tỷ lệ nợ nước ngoài, khả năng trả nợ và cấu trúc nợ. Điều này giúp đánh giá toàn diện về tình hình nợ công.

3.2. Phân tích mô hình VAR trong đánh giá nợ công

Mô hình VAR giúp phân tích mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Kết quả từ mô hình này sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho việc điều chỉnh chính sách tài chính.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về nợ công

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa nợ công bền vữngtăng trưởng kinh tế. Các kết quả này có thể được áp dụng để xây dựng chính sách tài chính hiệu quả hơn cho Việt Nam.

4.1. Kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng

Kết quả cho thấy rằng nợ công bền vững có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý nợ công hiệu quả.

4.2. Các chính sách tài chính đề xuất cho Việt Nam

Cần có các chính sách tài chính linh hoạt nhằm điều chỉnh nợ công bền vững, bao gồm cải cách thể chế và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai về nợ công tại Việt Nam

Việc duy trì nợ công bền vững là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam. Cần có các chính sách phù hợp để đảm bảo rằng nợ công không trở thành gánh nặng cho nền kinh tế.

5.1. Tương lai của nợ công bền vững tại Việt Nam

Với sự phát triển kinh tế, Việt Nam cần tiếp tục theo dõi và điều chỉnh nợ công để đảm bảo sự bền vững trong dài hạn.

5.2. Đề xuất hướng đi cho chính sách nợ công

Chính phủ cần xây dựng các chính sách tài chính chặt chẽ, tập trung vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công và đảm bảo sự phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Luận án tiến sĩ mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế ở một số nước trên thế giới và hàm ý chính sách cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Nghiên cứu về nợ công bền vững Các nghiên cứu về NCBV tập trung vào ba chủ đề thế nào là NCBV, cách đánh giá NCBV và tác động của NCBV tới các biến số khác trong nền kinh tế. Vì NCBV là yếu tố quan trọng cần xem xét khi các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp các khoản vay cho các chính phủ trên thế giới nên đây là chủ đề mà các tổ chức này rất quan tâm. Theo các tổ chức này, nợ công được coi là bền vững khi các khoản nợ được hoàn trả mà không cần phải có sự điều chỉnh lớn trong ngân sách, chính phủ không cần phải tuyên bố vỡ nợ hoặc đàm phán lại khoản nợ (UNCTAD, 2016; IMF, 2013; ECB, 2012). Ở Việt Nam, theo Luật Quản lý nợ công 2017, nợ công được coi là bền vững nếu các chỉ tiêu an toàn nợ công không bị vi phạm.

Đây cũng là quan điểm thường được sử dụng bởi các nhà hoạch định chính sách (Debrun, 2017). Nhìn chung nợ công ở quy mô càng cao thì càng có nhiều khả năng rơi vào trạng thái kém bền vững. Để đánh giá nợ công có bền vững hay không, các nghiên cứu thường sử dụng phương pháp cây nhị phân của Manasse và Roubini (2005), khung phân tích nợ bền vững (Debt Sustainability Framework - DSF) của IMF và phương pháp kiểm định tính dừng số liệu chuỗi thời gian của nợ công được đề xuất bởi Corsetti và Roubini (1991). Cây nhị phân là phương pháp được sử dụng bởi Manasse và Roubnini (2005) dựa trên quy tắc kinh nghiệm (rule of thumb).

Nghiên cứu sử dụng số liệu quan sát của 47 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 1970 - 2002 để tiến hành xây dựng mô hình cây nhị phân nhằm mục đích phân tích rủi ro về nợ của các nước. Về bản chất cây nhị phân là một chuỗi các tiêu chuẩn (tiêu chuẩn thường là lớn hơn hoặc nhỏ hơn một giá trị ngưỡng) với hai kết cục thỏa mãn hoặc không thỏa mãn tiêu chuẩn tương ứng với hai nhánh của cây nhị phân. Đặc điểm nợ công của từng quốc gia sẽ dẫn dắt các nước lần theo các nhánh đến kết luận cuối cùng về khả năng rơi vào khủng hoảng nợ quốc gia là bao nhiêu phần trăm. Lan (2017), Nursechafia và Muthohharoh (2014) đã sử dụng phương pháp này để đánh giá tình trạng nợ công ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2016 và Indonesia trong giai đoạn 2004 - 2014.

TRG (2020) áp dụng cây nhị phân để đánh khả năng rơi vào tình trạng vỡ nợ của ba nước Argentina, Ecuador và Li-băng. Gabriele (2019), Zenios và Panyi (2021) sau đó đã nâng cấp phương pháp cây nhị phân lên thành hệ thống cảnh báo sớm (Early Warning System - EWS) để cảnh báo rủi ro khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng. Nội dung chi tiết của mô hình 7 cây nhị phân sẽ được phân tích kỹ hơn ở Chương 2 trong phần các phương pháp đánh giá NCBV. Khung nợ bền vững (DSF) là phương pháp đánh giá toàn diện nhất về NCBV tính đến thời điểm này.

DSF là kết quả nghiên cứu chung của IMF và WB từ năm 2000, dành riêng cho các nước thu nhập thấp nhưng hiện nay DSF đã được áp dụng cho cả nền kinh tế mới nổi và phát triển. Trong DSF các biến liên quan đến nợ công sẽ được dự phóng trong khoảng thời gian 5 năm trong hai bối cảnh, bối cảnh tiêu chuẩn và bối cảnh có cú sốc. Sau đó giống như phương pháp cây nhị phân các giá trị dự phóng sẽ được so sánh với một giá trị ngưỡng, nếu vượt quá giá trị ngưỡng theo hướng tiêu cực thì quốc gia đó bị coi là không đáp ứng một tiêu chuẩn. Số lượng tiêu chuẩn không đáp ứng càng nhiều thì mức độ rủi ro càng cao.

Hàng năm, IMF sẽ công bố kết quả đánh giá nợ công các quốc gia thành viên dựa trên khung DSF 2. WB sử dụng kết quả từ đánh giá này sẽ tiến hành phân bổ các khoản vay. Quốc gia có rủi ro thấp sẽ nhận được 100% khoản vay tiêu chuẩn từ WB (thời hạn vay 38 năm, 6 năm ân hạn với lãi suất 3,125%/năm) (Cassimon và cộng sự, 2016). Vì phương pháp này tương đối phức tạp nên thường chỉ được sử dụng bởi các tổ chức để đánh giá riêng cho một hoặc một nhóm nước.

Kappagoda và cộng sự (2004) với sự tài trợ của Ủy bản nghiên cứu thuộc G24 (nhóm 24 quốc gia đang phát triển trong IMF) sử dụng DSF để đánh giá tình trạng nợ công ở các nước trong nhóm G24. Mupunga và Ngundu (2020) của tổ chức AERC và Faure và Guerin (2021) được tài trợ bởi BNP Paribas sử dụng DSF để đánh giá NCBV cho nhóm các nước hạ Sahara, nhóm nước có nhu cầu vay nợ quốc tế lớn nhất trên thế giới. DSF cũng sẽ được phân tích kỹ hơn ở Chương 2 trong phần các phương pháp đánh giá NCBV. Phương pháp tiếp theo kiểm tra nợ công có bền vững hay không dựa trên việc kiểm tra tính dừng của biến nợ công theo chuỗi theo chuỗi thời gian được đề xuất bởi Corsetti và Roubini (1991).

Nếu chuỗi thời gian của nợ công không dừng, nghĩa là tỷ lệ nợ công/GDP liên tục tăng và vượt quá giá trị hiện tại của các khoản thặng dư ngân sách trong tương lai thì nợ công sẽ không bền vững. Có ba cách để khảo sát tính dừng của một chuỗi thời gian: (1) phân tích đồ thị (graphical analysis), (2) giản đồ tự tương quan (correlogram), và (3) kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test). Phân tích đồ thị là một phương pháp đơn giản, mang tính trực quan và không chính thức để kiểm định tính dừng. Thường thì phân tích đồ thị và giản đồ tự tương quan sẽ cho biết một dấu hiệu sơ bộ nào đó để biết một chuỗi có dừng hay không.

Tuy nhiên phương pháp thứ 2 Báo cáo nợ công của từng quốc gia được thực hiện hàng năm dựa trên điều khoản IV trong hiệp định thành lập IMF (Article IV Staff Report). Báo cáo cho Việt Nam được đăng tải tại đường link https://www.org/en/countries/vnm?selectedfilters=Article%20IV%20Staff%20Reports#whatsnew 8 3 - kiểm định nghiệm đơn vị là phương pháp chính xác nhất trong đó phương pháp kiểm định tính dừng ADF (Augmented Dickey-Fuller) hay được sử dụng nhất. Corsetti và Roubini (1991) áp dụng phương pháp chuỗi dừng vào mẫu 18 quốc gia OECD trong giai đoạn 1960 - 1989 và kết luận rằng các quốc gia lớn như Mỹ, Nhật, Đức đạt được mức độ NCBV trong dài hạn trong khi các quốc gia nhỏ hơn trong nhóm như Ireland, Hy Lạp, Bỉ sẽ gặp vấn đề do tỷ lệ nợ công trên GDP đã quá cao. Trehan và Walsh (1991) áp dụng với số liệu nợ công và thâm hụt ngân sách của Mỹ trong giai đoạn 1960 - 1984; Caporale (1995) áp dụng cho các nước EU giai đoạn 1960 - 1991; Makrydakis và cộng sự (1999) áp dụng cho Hy Lạp giai đoạn 1958 - 1995; Greiner và Semmler (1999) áp dụng cho Đức giai đoạn 1955 - 1994 là những ví dụ về việc sử dụng phương pháp chuỗi dừng cho từng quốc gia cụ thể.

Về chủ đề tác động của NCBV tới các biến số vĩ mô khác có thể nói NCBV tác động tới tăng trưởng kinh tế là chủ đề được nhiều nghiên cứu tập trung phân tích nhất. Tuy nhiên do thiếu thước đo tổng hợp về NCBV nên các nghiên cứu thường sử dụng tiêu chí là quy mô nợ công trên GDP, quy mô nợ nước ngoài trên GDP rồi từ đó xem xét tác động tới tăng trưởng. Các nghiên cứu tiêu biểu đánh giá tác động của quy mô nợ công lên tăng trưởng có thể kể đến Reinhart và Rogoff (2010), Checherita và cộng sự (2010), Imbs và Rancierce (2005). Nội dung chi tiết của các nghiên cứu trên sẽ được trình bày trong phần tiếp theo của chương này.

Ngoài ra, quy mô nợ công còn được xem xét trong mối quan hệ với các yếu tố như thể chế, sự phát triển của thị trường tài chính, lạm phát. Chẳng hạn nghiên cứu của Tarek và Ahmed (2017) chỉ ra các quốc gia có chất lượng quản trị công tốt thường có quy mô nợ công thấp và ngược lại. Đồng ý với quan điểm trên, nghiên cứu của của Ibrahim (2021) ở 20 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1996 - 2018 cho thấy tham nhũng làm gia tăng gánh nặng nợ trong dài hạn. Nghiên cứu của Hauner (2008) nhấn mạnh nợ công vừa tác động tích cực lẫn tiêu cực lên sự phát triển của thị trường tài chính khi tạo ra một tài sản có tính thanh khoản cao cho thị trường (trái phiếu chính phủ) nhưng đồng thời cũng khiến các ngân hàng ít chú ý hơn đến các sản phẩm dành cho khu vực tư nhân.

Liên quan đến lạm phát, Aimola và Odhiamo (2020) kết luận rằng tác động của nợ công lên lạm phát khác nhau ở từng quốc gia, có quốc gia tác động làm tăng có quốc gia tác động làm giảm tuy nhiên tác động làm tăng chiếm phần lớn trong các nghiên cứu thực nghiệm. Nhìn chung các nghiên cứu về NCBV trên thế giới và Việt Nam thường sử dụng nhiều biến liên quan đến nợ công, điều đó cho thấy NCBV là một khái niệm có tính tổng hợp, là kết quả của nhiều thành phần. Các biến thành phần này hoặc phải duy trì 9 xu hướng ổn định theo thời gian hoặc phải thấp hơn một ngưỡng giá trị nhất định được lấy dựa trên kinh nghiệm thực tiễn hoặc tính toán hồi quy thì nợ công mới được coi là an toàn. Số lượng các biến thành phần ở trạng thái an toàn càng nhiều thì nợ công được coi là càng bền vững.

Tuy nhiên, hạn chế của các nghiên cứu trên đó là không thể xác định được mức độ NCBV theo thời gian, nói một cách khác kết luận nợ công năm nay có bền vững hơn nợ công năm ngoái hay không, đặc biệt khi các biến liên quan đến nợ công biến động một cách trái chiều sẽ rất khó rút ra nếu chỉ dựa vào các phương pháp đánh giá ở trên. Hệ quả là khi đánh giá tác động của NCBV tới các biến khác trong nền kinh tế, các nghiên cứu thường chỉ sử dụng một hoặc vài tiêu chí của NCBV như quy mô nợ công, tỷ lệ nợ nước ngoài để xem xét tác động của nợ công lên các biến số vĩ mô khác. Và biến số vĩ mô khác được chọn thường là tăng trưởng kinh tế vì mối liên hệ chặt chẽ giữa thu chi ngân sách và tăng trưởng.2 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ