Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế "Mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế ở một số nước trên thế giới và hàm ý chính sách cho Việt Nam" của tác giả Phạm Xuân Trường, chuyên ngành Kinh tế quốc tế (mã số: 9310106), được hoàn thành năm 2022 tại Trường Đại học Ngoại thương dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Xuân Bình và PGS.TS Nguyễn Việt Dũng.
Vấn đề nợ công được tác giả đặt ra trong bối cảnh quy mô nợ toàn cầu gia tăng nhanh chóng. Tính đến năm 2019, tổng nợ công thế giới đạt 63.900 tỷ USD, gấp gần 3,5 lần so với 20 năm trước đó, với tốc độ tăng bình quân 6,76%/năm trong giai đoạn 2000 - 2019. Ở các nền kinh tế phát triển, hơn một phần ba số quốc gia có mức nợ vượt quá 85% GDP. Tại các quốc gia đang phát triển và có thu nhập thấp, tỷ lệ nợ công trung bình đạt 50% GDP, tăng thêm 10% chỉ trong giai đoạn 2015 - 2019 (IMF, 2019). Tại Việt Nam, tỷ lệ nợ công trên GDP tăng từ 54,5% năm 2013 lên mức đỉnh 61,4% năm 2017 và ở mức 58,4% năm 2018 (vẫn cao hơn 10% so với mức trung bình của nhóm các nước đang phát triển). Nợ công bình quân đầu người tăng từ 23 triệu đồng năm 2013 lên 32 triệu đồng năm 2018 (GSO, 2018). Đồng thời, hiệu quả sử dụng vốn có xu hướng suy giảm khi hệ số ICOR tăng từ 3,5 giai đoạn 1991 - 1995 lên 6,21 năm 2018 (NCIF, 2019).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trước đây chỉ tập trung vào mối quan hệ đơn lẻ giữa quy mô nợ công (đo lường bằng tỷ lệ nợ công/GDP) với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nợ công bền vững là một khái niệm tổng hợp bao gồm nhiều tiêu chí thành phần như cấu trúc nợ và khả năng thanh khoản ngắn hạn (tỷ lệ nợ nước ngoài/tổng nợ, nợ ngắn hạn/thu ngân sách, nợ nước ngoài/xuất khẩu). Việc thiếu vắng một thước đo định lượng tổng hợp khiến các nghiên cứu chưa thể theo dõi sự biến động của mức độ bền vững nợ công theo thời gian và chưa làm rõ mối quan hệ thực chứng giữa nợ công bền vững với tăng trưởng kinh tế theo từng nhóm nước có trình độ phát triển khác nhau.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Xác định mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế ở các nước trên thế giới, từ đó rút ra hàm ý chính sách liên quan đến vấn đề nợ công bền vững cho Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế.
- Xây dựng phương pháp chỉ số đo lường mức độ nợ công bền vững.
- Xác định mô hình lượng đánh giá mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế.
- Đề xuất chính sách và một số giải pháp thực hiện nhằm giải quyết tối ưu mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế là gì?
- Đo lường mức độ nợ công bền vững như thế nào?
- Mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế diễn ra như thế nào trong tổng thể các quốc gia và trong từng nhóm quốc gia?
- Giải pháp nào giúp chính phủ Việt Nam củng cố nợ công bền vững trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế dựa trên số liệu của 151 quốc gia trên thế giới.
- Phạm vi không gian: Tổng thể 151 quốc gia, được phân thành 4 nhóm theo phân loại thu nhập của Ngân hàng Thế giới: nhóm nước thu nhập cao (HI - 39 quốc gia), nhóm nước thu nhập trung bình cao (UMI - 39 quốc gia), nhóm nước thu nhập trung bình thấp (LMI - 47 quốc gia), và nhóm nước thu nhập thấp (LI - 27 quốc gia).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2000 - 2018. Mốc bắt đầu năm 2000 là thời điểm IMF và WB thiết lập chương trình đánh giá chung về các nước nghèo có mức nợ cao (HIPCs) và bắt đầu thu thập số liệu nợ công tổng thể; mốc kết thúc năm 2018 là năm có số liệu báo cáo đầy đủ và chính thức nhất tại thời điểm nghiên cứu.
- Phạm vi nội dung: Tập trung đánh giá mối quan hệ kinh tế giữa hai biến số định lượng là mức độ nợ công bền vững và tốc độ tăng trưởng kinh tế; các tiêu chí thành phần của nợ công bền vững thuần túy là các chỉ số tài chính công, không xem xét các biến số chính trị, địa lý hay thể chế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng kết các công trình nghiên cứu đi trước theo hai hướng tiếp cận chính: đánh giá tính bền vững của nợ công và tác động qua lại giữa nợ công với tăng trưởng kinh tế.
Về phương pháp đánh giá nợ công bền vững, tài liệu thực nghiệm phân chia thành ba nhóm công cụ:
- Phương pháp cây nhị phân (Binary Recursive Tree): Manasse và Roubini (2005) sử dụng dữ liệu 47 nền kinh tế mới nổi (1970 - 2002) nhằm phân loại rủi ro khủng hoảng nợ dựa trên các ngưỡng định lượng (tổng nợ nước ngoài > 49,7% GDP; nợ ngắn hạn > 130% dự trữ ngoại hối; nợ công nước ngoài > 214% thu ngân sách; định giá tỷ giá quá cao > 48%). Phương pháp này được Lan (2017) áp dụng cho Việt Nam (2011 - 2016), Nursechafia và Muthohharoh (2014) áp dụng cho Indonesia (2004 - 2014), TRG (2020) áp dụng cho Argentina, Ecuador và Li-băng, sau đó được Gabriele (2019), Zenios và Panyi (2021) phát triển thành hệ thống cảnh báo sớm (EWS).
- Khung phân tích nợ bền vững (DSF): Do IMF và WB phát triển từ năm 2000 cho các nước thu nhập thấp và mở rộng ra các nền kinh tế phát triển và mới nổi, sử dụng dự phóng 5 năm trong bối cảnh chuẩn và có cú sốc. Điển hình có nghiên cứu của Kappagoda và cộng sự (2004) cho nhóm G24, Mupunga và Ngundu (2020), Faure và Guerin (2021) cho khu vực hạ Sahara.
- Kiểm định tính dừng của chuỗi nợ công: Corsetti và Roubini (1991) đề xuất kiểm định nghiệm đơn vị ADF trên mẫu 18 nước OECD (1960 - 1989). Các công trình tiếp nối gồm Trehan và Walsh (1991) cho Mỹ (1960 - 1984), Caporale (1995) cho EU (1960 - 1991), Makrydakis và cộng sự (1999) cho Hy Lạp (1958 - 1995), Greiner và Semmler (1999) cho Đức (1955 - 1994).
Về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, luận án điểm lại ba luồng quan điểm:
- Quan điểm tác động tuyến tính nghịch chiều: Trường phái Cổ điển với Modigliani (1961) lập luận việc trả lãi vay buộc chính phủ tăng thuế tương lai làm suy giảm thu nhập và đầu tư; Friedman (1988) cho rằng nợ công đẩy lãi suất tăng, gây hiệu ứng chèn ép đầu tư tư nhân. Các bằng chứng thực nghiệm của Elmendorf và Mankiw (1999), Gale và Orszag (2003), Baldacci và Kumar (2010), Presbitero (2005) đều ghi nhận nợ công tác động tiêu cực tới tăng trưởng trong dài hạn. Kumar và Woo (2010) tính toán khi nợ công/GDP tăng 10 điểm phần trăm ở các nước phát triển thì tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người giảm 0,15 - 0,20 điểm phần trăm. Karagol (2012), Warner (1992), Taghavi (2000) cũng chỉ ra tác động tiêu cực của nợ nước ngoài lên đầu tư và tăng trưởng.
- Quan điểm tác động tuyến tính cùng chiều (trong ngắn hạn): Trường phái Keynes khẳng định khi nền kinh tế suy thoái chưa toàn dụng nguồn lực, vay nợ tài trợ chi tiêu công kích cầu sẽ làm tăng tổng cung và sản lượng (Eisner, 1984; Diamond, 1965; Paul, 1992). Abbas và Christensen (2007) tìm thấy quan hệ cùng chiều tại 93 nước đang phát triển nhưng gắn với điều kiện có sự phối hợp chính sách tiền tệ và thị trường tài chính phát triển.
- Quan điểm trung tính: Trường phái Ricardo với Barro (1990) cho rằng thâm hụt ngân sách không tác động đến tổng cầu do người dân kỳ vọng duy lý và gia tăng tiết kiệm để lại di sản cho thế hệ sau bù đắp thuế tương lai. Nghiên cứu của Schlarek (2004), Panizza và Presbitero (2014), Pescatori và cộng sự (2014) không tìm thấy mối quan hệ thống kê vững chắc giữa nợ công và tăng trưởng.
- Quan điểm tác động phi tuyến tính (ngưỡng nợ công): Nợ công thúc đẩy tăng trưởng ở mức thấp nhưng cản trở khi vượt ngưỡng. Reinhart và Rogoff (2010) xác định ngưỡng 90% GDP trên mẫu 44 quốc gia trong 200 năm (kết quả bị Herndon và cộng sự (2013) phát hiện sai sót mã hóa). Checherita và Rother (2012) xác định ngưỡng 90 - 100% GDP cho 12 nước Châu Âu; Baum và cộng sự (2013) ghi nhận quan hệ cùng chiều dưới 67% GDP và nghịch chiều khi vượt 95% GDP; Caner và cộng sự (2010) tìm thấy ngưỡng 77% GDP chung cho 101 nước và 64% GDP cho nhóm nước đang phát triển; Pattillo và cộng sự (2002, 2004) xác định ngưỡng nợ nước ngoài 35 - 40% GDP (hoặc 160 - 170% kim ngạch xuất khẩu) tại 93 nước đang phát triển; Clements và cộng sự (2003) tìm ra ngưỡng 20 - 25% GDP cho 55 nước thu nhập thấp. Tại Việt Nam và khu vực, Thảo và Vinh (2015) xác định ngưỡng 68% GDP cho 7 nước Đông Nam Á; An và cộng sự (2020) tìm ra hai ngưỡng 26,96% và 72,53% GDP; Anh và Hùng (2015) xác định khoảng 53 - 61% GDP; Thành (2012) và Thạch (2019) lần lượt ước lượng ngưỡng nợ của Việt Nam là 75,8% GDP và 57,6% GDP (trần chịu đựng 150 - 156% GDP).
- Quan hệ từ tăng trưởng tác động đến nợ công bền vững (tiêu chuẩn IRGD): Các nghiên cứu kiểm chứng chênh lệch giữa lãi suất thực và tăng trưởng kinh tế như Abbas và cộng sự (2011), Westphal (2021), Barrett (2018), Turner và Spinelli (2012), Shloka (2021) chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế cao hơn lãi suất là điều kiện cần thiết để ổn định quy mô nợ trong dài hạn.
Khoảng trống luận án giải quyết: Các công trình trên chưa xây dựng được một chỉ số đo lường mức độ nợ công bền vững tổng hợp theo chuỗi thời gian liên tục từ nhiều tiêu chí tài chính, và chưa kiểm định định lượng tính hai chiều giữa mức độ bền vững này với tăng trưởng kinh tế theo các phân tầng thu nhập quốc gia. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi
Luận án kế thừa định nghĩa nợ công bền vững của IMF, WB và UNCTAD: Nợ công của một quốc gia được coi là bền vững nếu quốc gia đó có các khoản thu giúp thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nợ của chính phủ mà không cần có sự điều chỉnh lớn nào đối với thu, chi ngân sách nhà nước, không phải tuyên bố vỡ nợ hoặc đàm phán lại nợ.
Tính bền vững của nợ công được cấu thành từ hai trụ cột:
- Khả năng trả nợ (Solvency): Phản ánh nguồn lực dài hạn để đáp ứng nghĩa vụ nợ, đo lường qua tiêu chuẩn chênh lệch lãi suất - tăng trưởng (IRGD), tỷ lệ nợ công/GDP, tỷ lệ nợ công/tổng thu ngân sách, tỷ lệ nợ nước ngoài/tổng nợ công.
- Khả năng thanh khoản (Liquidity): Phản ánh mức độ sẵn sàng của dòng tiền để thanh toán các nghĩa vụ đến hạn trong ngắn hạn, đo lường qua tỷ lệ nợ ngắn hạn/tổng nợ, nợ công nước ngoài ngắn hạn/tổng nợ ngắn hạn, nợ công ngắn hạn/thu ngân sách, nợ công nước ngoài ngắn hạn/dự trữ ngoại hối, nợ công nước ngoài ngắn hạn/xuất khẩu.
Luận án phân biệt rõ hai khái niệm kỹ thuật:
- Ngưỡng nợ công tối ưu: Mức nợ công mà tại đó tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt giá trị cực đại; khi vượt qua ngưỡng này, tăng nợ sẽ kìm hãm tăng trưởng và làm suy giảm tính bền vững của nợ.
- Trần nợ công (ngưỡng chịu đựng): Giới hạn nợ tối đa do cơ quan lập pháp quy định (như trần 65% GDP của Việt Nam theo Nghị quyết số 10/2011/QH13 và Nghị quyết số 25/2016/QH14). Vượt quá ngưỡng chịu đựng, tăng trưởng kinh tế chuyển sang mức âm và nguy cơ vỡ nợ trở nên trực tiếp.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Luận án kết hợp phương pháp xây dựng chỉ số tổng hợp và mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian/dữ liệu bảng:
| Bước thực hiện |
Phương pháp và công cụ |
Mục tiêu phân tích |
| Đo lường nợ công bền vững |
Chuẩn hóa Min - Max kết hợp phân tích đa tiêu chuẩn (MCA) |
Xây dựng Chỉ số nợ công bền vững (Debt Sustainability Index - DSI) từ các chỉ số thành phần (CV) về khả năng trả nợ và thanh khoản. |
| Kiểm định chuỗi số liệu |
Kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF) |
Kiểm tra tính dừng của chuỗi tăng trưởng kinh tế ($g$) và chỉ số nợ công bền vững (DSI). |
| Ước lượng thực nghiệm |
Mô hình Vectơ tự hồi quy (VAR) và Vectơ hiệu chỉnh sai số (VECM) |
Đánh giá mối quan hệ tương hỗ động, kiểm định quan hệ nhân quả Granger, hàm phản ứng đẩy (IRF) và phân rã phương sai giữa $g$ và DSI. |
Nguồn dữ liệu được thu thập từ cơ sở dữ liệu chính thức của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) và Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia (NCIF).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế
Chương này hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba mảng nội dung: định nghĩa và phương pháp đánh giá nợ công bền vững; chiều tác động từ tăng trưởng kinh tế đến tính bền vững nợ công (chủ yếu qua tiêu chuẩn IRGD); và chiều tác động từ nợ công tới tăng trưởng kinh tế (theo các nhóm tác động tuyến tính, phi tuyến tính và trung tính). Tác giả tổng hợp bảng so sánh các công trình thực nghiệm tiêu biểu, phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp định lượng hiện hành và xác định khoảng trống về việc thiếu vắng một chỉ số nợ công bền vững tổng hợp để ước lượng thực nghiệm.
Chương 2: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế
Chương 2 trình bày khung lý thuyết nền tảng về tài chính công và kinh tế học vĩ mô. Tác giả làm rõ nội hàm khái niệm nợ công, nợ công bền vững, phân tích các tiêu chí cấu thành khả năng trả nợ và khả năng thanh khoản. Phân tích chi tiết ba phương pháp đánh giá thực nghiệm: quy tắc trần nợ công (tại Anh, Singapore, Đan Mạch, New Zealand, Indonesia, Pakistan, Việt Nam); mô hình cây nhị phân của Manasse và Roubini (2005) với 10 biến số lọc từ 50 biến ban đầu; và khung DSF của IMF/WB. Tác giả luận giải cơ chế truyền dẫn giữa nợ công bền vững và tăng trưởng theo lý thuyết cổ điển, Keynes, Ricardo và mô hình hóa hình học mối quan hệ giữa ngưỡng nợ công tối ưu, trần nợ công và tăng trưởng GDP.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương tập trung vào quy trình toán học và kinh tế lượng:
- Xây dựng chỉ số DSI: Áp dụng kỹ thuật chuẩn hóa Min - Max để đưa các biến thành phần có đơn vị đo khác nhau về khoảng giá trị từ 0 đến 1, trong đó xác định chiều tác động của từng biến đến tính bền vững để tính giá trị thành phần ($CV$). Sau đó, sử dụng phương pháp bình quân gia quyền để tính toán chỉ số tổng hợp DSI cho từng quốc gia qua các năm.
- Thiết kế mô hình VAR/VECM: Thiết lập hệ phương trình gồm hai biến nội sinh là tốc độ tăng trưởng kinh tế ($g$) và chỉ số nợ công bền vững ($DSI$). Trình bày quy trình ước lượng chuẩn tắc: kiểm định tính dừng (ADF), xác định độ trễ tối ưu dựa trên tiêu chuẩn thông tin AIC/SC, kiểm định đồng liên kết Johansen (nếu chuỗi không dừng ở bậc 0 nhưng đồng liên kết bậc 1 thì dùng VECM, ngược lại dùng VAR trên chuỗi dừng), kiểm định tính ổn định của mô hình, phân tích hàm phản ứng xung (Impulse Response Functions - IRF) và phân rã phương sai (Variance Decomposition).
Chương 4: Mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế
Chương 4 trình bày kết quả tính toán thực nghiệm trên mẫu 151 quốc gia giai đoạn 2000 - 2018:
- Phân tích mô tả chỉ số DSI: Trình bày bảng xếp hạng 10 quốc gia có DSI cao nhất, đóng góp của các chỉ số thành phần vào DSI toàn cầu, và biểu đồ diễn biến DSI bình quân của thế giới và 4 nhóm nước (HI, UMI, LMI, LI). So sánh tương quan giữa DSI và tốc độ tăng trưởng bình quân toàn cầu cũng như tại một số quốc gia đại diện (Mỹ, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ, Campuchia).
- Kết quả hồi quy mô hình lượng:
- Mô hình mẫu tổng thể 151 quốc gia cho thấy không tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều đồng thời giữa DSI và $g$.
- Nhóm nước thu nhập cao (HI) và nhóm nước thu nhập thấp (LI): Chỉ phát hiện chiều tác động từ tăng trưởng kinh tế ($g$) sang nợ công bền vững ($DSI$). Tại nhóm HI, tăng trưởng kinh tế ban đầu thúc đẩy tính bền vững của nợ, nhưng khi xét ở độ trễ dài hơn, tăng trưởng lại tạo ra tác động tiêu cực đến DSI. Tại nhóm LI, gia tăng tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến củng cố nợ công bền vững.
- Nhóm nước thu nhập trung bình cao (UMI) và nhóm thu nhập trung bình thấp (LMI): Chỉ phát hiện chiều tác động từ nợ công bền vững ($DSI$) sang tăng trưởng kinh tế ($g$).
- Đối với giả thuyết gia tăng nợ công bền vững thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Chỉ có số liệu của nhóm UMI ủng hộ giả thuyết này với tác động tích cực ghi nhận sau 1 năm. Ngược lại, tại nhóm LMI, việc gia tăng nợ công bền vững lại tạo ra tác động tiêu cực làm suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.
| Phân nhóm quốc gia (Theo WB) |
Số lượng nước |
Chiều tác động thực nghiệm |
Bản chất tác động ghi nhận |
| Nhóm thu nhập cao (HI) |
39 |
$g \rightarrow DSI$ |
Tăng trưởng tác động tích cực ngắn hạn đến DSI; tác động tiêu cực ở độ trễ xa hơn. |
| Nhóm thu nhập trung bình cao (UMI) |
39 |
$DSI \rightarrow g$ |
Tăng DSI giúp tăng trưởng kinh tế gia tăng sau 1 năm. |
| Nhóm thu nhập trung bình thấp (LMI) |
47 |
$DSI \rightarrow g$ |
Tăng DSI tạo tác động tiêu cực lên tốc độ tăng trưởng kinh tế. |
| Nhóm thu nhập thấp (LI) |
27 |
$g \rightarrow DSI$ |
Gia tăng tốc độ tăng trưởng giúp cải thiện chỉ số DSI. |
| Tổng thể mẫu nghiên cứu |
151 |
Không có quan hệ hai chiều |
Không có quan hệ nhân quả hai chiều đồng thời. |
Chương 5: Hàm ý chính sách cho Việt Nam
Phân tích thực trạng nợ công của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2018 qua các dữ liệu: tỷ lệ nợ công/GDP, nợ công bình quân đầu người, cơ cấu nợ theo cấp quản lý, cơ cấu nợ trong nước và nợ nước ngoài, kỳ hạn và lãi suất phát hành trái phiếu chính phủ. Đánh giá vị trí của Việt Nam trong nhóm LMI. Trên cơ sở kết quả hồi quy của nhóm LMI (gia tăng nợ công bền vững có thể làm suy giảm tăng trưởng kinh tế ngắn hạn do cắt giảm chi tiêu công), chương 5 đề xuất các hàm ý chính sách:
- Mở rộng và nâng cấp hệ thống chỉ tiêu giám sát nợ công: đưa chỉ số tổng hợp DSI và các chỉ số thành phần vào công cụ theo dõi thường xuyên của các cơ quan quản lý.
- Điều chỉnh nợ công bền vững hài hòa theo chu kỳ kinh tế: tích lũy dư địa tài khóa và tăng cường tính bền vững trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng ổn định; chấp nhận nợ công kém bền vững hơn trong các giai đoạn suy thoái để có không gian mở rộng tài khóa kích thích nền kinh tế phục hồi.
- Cải cách thể chế quản lý nợ công: hoàn thiện mô hình cơ quan quản lý nợ phù hợp với trình độ phát triển của thị trường tài chính Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án công bố các đóng góp mới về học thuật và ứng dụng thực tiễn:
- Về mặt lý luận và phương pháp luận: Xây dựng phương pháp chỉ số nợ công bền vững (DSI) dựa trên kỹ thuật chuẩn hóa Min - Max. Phương pháp này lượng hóa đồng thời các khía cạnh khả năng trả nợ, khả năng thanh khoản và cơ cấu nợ, tạo ra thang đo liên tục cho phép so sánh mức độ bền vững nợ công giữa các quốc gia và theo dõi diễn biến qua các thời kỳ.
- Về mặt thực nghiệm: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm thông qua mô hình VAR/VECM trên bộ dữ liệu 151 quốc gia, chỉ ra mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng không mang tính đồng nhất mà có sự khác biệt rõ rệt theo các mức thu nhập:
- Bác bỏ sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả hai chiều đồng thời giữa DSI và tăng trưởng ở cả 4 nhóm nước.
- Xác nhận tác động một chiều từ tăng trưởng sang nợ công bền vững ở nhóm HI và LI; xác nhận tác động một chiều từ nợ công bền vững sang tăng trưởng ở nhóm UMI và LMI.
- Phát hiện hiện tượng đánh đổi chính sách tại nhóm các nước thu nhập trung bình thấp (LMI): việc gia tăng chỉ số nợ công bền vững dẫn đến suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn.
- Về mặt thực tiễn và chính sách: Đưa ra khuyến nghị cụ thể cho cơ quan quản lý tài khóa Việt Nam (quốc gia thuộc nhóm LMI) về việc không nên theo đuổi mục tiêu củng cố tính bền vững nợ công một cách cứng nhắc trong mọi giai đoạn. Thay vào đó, chính sách tài khóa cần mang tính phản chu kỳ, kết hợp ứng dụng chỉ số DSI trong việc phân tích đóng góp của từng cấu phần nợ để đưa ra quyết định vay và trả nợ hợp lý.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Từ phạm vi và dữ liệu của đề tài, các hạn chế và hướng phát triển được xác định:
- Về nội dung phân tích: Luận án giới hạn đánh giá tính bền vững nợ công thuần túy trên các tiêu chí tài chính công định lượng; chưa đưa vào mô hình hồi quy các yếu tố phi kinh tế như chất lượng thể chế quản trị công, mức độ tham nhũng, biến động chính trị hay các cam kết liên kết kinh tế quốc tế.
- Về phạm vi dữ liệu thời gian: Chuỗi số liệu kết thúc ở năm 2018 do độ trễ trong việc chuẩn hóa và công bố báo cáo nợ công chính thức của IMF và WB cho một số lượng lớn quốc gia thành viên.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2018 khi dữ liệu điều chỉnh được công bố đầy đủ; bổ sung các biến số thể chế và kiểm định tác động của các cú sốc tài khóa bất thường (như đại dịch hoặc khủng hoảng chuỗi cung ứng) tới mối quan hệ giữa DSI và tăng trưởng kinh tế.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội): Cung cấp cơ sở định lượng để tham khảo việc xây dựng khung giám sát nợ công đa chiều, vượt ra ngoài tiêu chí đơn lẻ là trần nợ công/GDP (65%); đồng thời gợi mở nguyên tắc điều hành nợ công linh hoạt theo chu kỳ tăng trưởng.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Kinh tế quốc tế, Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo khung lý thuyết tổng hợp về nợ công bền vững, quy trình toán học chuẩn hóa Min - Max xây dựng chỉ số kinh tế tổng hợp và quy trình ứng dụng mô hình VAR/VECM trong phân tích dữ liệu vĩ mô đa quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa nợ công bền vững dựa trên tiêu chuẩn nào?
Luận án áp dụng định nghĩa của các tổ chức quốc tế (IMF, WB, UNCTAD): Nợ công được coi là bền vững nếu một quốc gia có khả năng thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ nợ của chính phủ mà không cần phải thực hiện các điều chỉnh lớn trong thu chi ngân sách nhà nước, không phải tuyên bố vỡ nợ hoặc đàm phán lại các khoản nợ. Tính bền vững được xem xét trên hai góc độ: khả năng trả nợ (solvency) và khả năng thanh khoản (liquidity).
2. Sự khác biệt giữa "ngưỡng nợ công tối ưu" và "trần nợ công" trong luận án là gì?
- Ngưỡng nợ công tối ưu là mức tỷ lệ nợ công/GDP mà tại đó tăng trưởng kinh tế đạt giá trị lớn nhất; vượt qua điểm này, nợ công gia tăng sẽ kìm hãm tăng trưởng và làm tính bền vững suy giảm.
- Trần nợ công (ngưỡng chịu đựng) là giới hạn vay nợ tối đa do pháp luật hoặc cơ quan lập pháp quy định (ví dụ 65% GDP ở Việt Nam). Khi nợ chạm trần chịu đựng, nền kinh tế đối mặt với tăng trưởng âm và xác suất vỡ nợ trực tiếp xuất hiện.
3. Phương pháp định lượng nào được tác giả sử dụng để đo lường nợ công bền vững thành một biến số số học?
Tác giả sử dụng phương pháp chỉ số dựa trên kỹ thuật chuẩn hóa Min - Max. Quy trình gồm: xác định các tiêu chí thành phần về khả năng trả nợ và thanh khoản, xác định chiều tác động của từng biến đến tính bền vững, chuẩn hóa dữ liệu về thang đo từ 0 đến 1 để tạo các giá trị thành phần ($CV$), sau đó tính bình quân gia quyền để cho ra Chỉ số nợ công bền vững ($DSI$) của từng quốc gia qua từng năm.
4. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa DSI và tăng trưởng kinh tế ở nhóm nước thu nhập trung bình thấp (LMI) có đặc điểm gì?
Tại nhóm LMI (nhóm thu nhập của Việt Nam), mô hình thực nghiệm phát hiện tác động một chiều từ DSI sang tăng trưởng kinh tế. Đáng chú ý, việc gia tăng chỉ số nợ công bền vững lại có tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, phản ánh việc thắt chặt ngân sách hoặc cắt giảm chi tiêu công để giảm nợ có thể làm suy giảm tổng cầu và tốc độ tăng trưởng của nhóm nước này.
5. Vì sao nghiên cứu sử dụng khung dữ liệu giai đoạn 2000 - 2018?
Năm 2000 là mốc IMF và WB thiết lập chương trình đánh giá chung cho các nước nghèo có mức nợ cao (HIPCs) và bắt đầu thu thập số liệu nợ công có hệ thống trên quy mô toàn cầu. Năm 2018 là năm gần nhất số liệu nợ công được 151 quốc gia báo cáo đầy đủ và đã qua điều chỉnh thống kê chính thức tại thời điểm tác giả thu thập dữ liệu (các năm 2019 - 2020 nhiều nước chưa công bố báo cáo chính thức cho IMF).
Kết luận
Luận án của tác giả Phạm Xuân Trường đã giải quyết vấn đề lượng hóa tính bền vững nợ công thông qua việc xây dựng Chỉ số nợ công bền vững (DSI) bằng phương pháp chuẩn hóa Min - Max. Trên cơ sở kiểm định mô hình VAR/VECM trên 151 quốc gia giai đoạn 2000 - 2018, công trình chứng minh mối quan hệ giữa nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế có tính chất phân hóa rõ rệt theo các mức thu nhập, trong đó không tồn tại quan hệ nhân quả hai chiều đồng thời. Đặc biệt, phát hiện về sự đánh đổi giữa tăng cường nợ công bền vững và tăng trưởng kinh tế ở nhóm nước thu nhập trung bình thấp cung cấp luận cứ thực nghiệm quan trọng để Việt Nam điều hành chính sách tài khóa phản chu kỳ và ứng dụng công cụ quản lý nợ đa tiêu chí.