Thực trạng nhiễm sán lá truyền qua cá trên người và giải pháp can thiệp tại huyện Nga Sơn, Thanh Hóa

Nghiên cứu thực trạng nhiễm sán lá truyền qua cá ở người tại huyện Nga Sơn, Thanh Hóa và hiệu quả các giải pháp can thiệp năm 2013-2014.

Trường đại học

Không tìm thấy thông tin

Chuyên ngành

Không tìm thấy thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2013-2014

190
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Thông tin chung về bệnh sán lá truyền qua cá

1.2. Lịch sử nghiên cứu về sán lá truyền qua cá

1.2.1. Lịch sử nghiên cứu sán lá Clonorchis sinensis

1.2.2. Lịch sử phát hiện bệnh Opisthorchis viverrini

1.2.3. Lịch sử nghiên cứu sán lá ruột nhỏ

1.2.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.3.2. Tình hình nghiên cứu sán lá ruột nhỏ ở Việt Nam

1.3. Một số đặc điểm dịch tễ về bệnh sán lá truyền qua cá

1.3.1. Đặc điểm dịch tễ của sán lá gan nhỏ

1.3.2. Đặc điểm dịch tễ sán lá ruột nhỏ

1.4. Tình hình nghiên cứu ngoài nước, trong nước bệnh sán lá truyền qua cá

1.4.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.4.1.1. Loài sán lá gan nhỏ C. sinensis
1.4.1.1.1. Nghiên cứu đặc điểm sinh học
1.4.1.1.2. Các nghiên cứu về bệnh học
1.4.1.1.3. Nghiên cứu về chẩn đoán Clonorchis sinensis
1.4.1.1.4. Nghiên cứu về điều trị Clonorchis sinensis
1.4.1.1.5. Nghiên cứu dịch tễ sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhiễm sán lá truyền qua cá ở người

Nhiễm sán lá truyền qua cá là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng tại Việt Nam, đặc biệt là ở huyện Nga Sơn, Thanh Hóa. Các bệnh sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ có tỷ lệ mắc cao, ảnh hưởng đến hàng triệu người. Theo thống kê của WHO, có khoảng 45 triệu người trên thế giới nhiễm sán lá gan nhỏ, trong đó Châu Á chiếm phần lớn. Tại Việt Nam, ít nhất 32 tỉnh đã ghi nhận sự hiện diện của bệnh này, với tỷ lệ nhiễm bệnh khác nhau giữa các khu vực. Huyện Nga Sơn là một trong những nơi có tỷ lệ nhiễm cao do thói quen ăn gỏi cá và sử dụng phân người để nuôi cá.

1.1. Đặc điểm dịch tễ của nhiễm sán lá truyền qua cá

Nhiễm sán lá truyền qua cá chủ yếu xảy ra do thói quen ăn cá sống hoặc chưa nấu chín. Các loài sán lá gan nhỏ như Clonorchis sinensis và Opisthorchis viverrini là những tác nhân chính gây bệnh. Tỷ lệ nhiễm bệnh ở các khu vực khác nhau, với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ có tỷ lệ trung bình là 17,23%. Sán lá ruột nhỏ cũng có tỷ lệ nhiễm tương tự, gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe.

1.2. Tình hình nhiễm sán lá tại huyện Nga Sơn

Huyện Nga Sơn, Thanh Hóa, là một trong những khu vực trọng điểm về nhiễm sán lá. Tại đây, thói quen ăn gỏi cá và sử dụng phân người để nuôi cá vẫn còn phổ biến. Tuy nhiên, chưa có đủ tài liệu nghiên cứu về tình hình nhiễm bệnh trong cộng đồng dân cư. Việc xác định tỷ lệ nhiễm sán lá và các yếu tố liên quan là rất cần thiết để có biện pháp can thiệp hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong phòng chống nhiễm sán lá

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc phòng chống nhiễm sán lá, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Kiến thức của người dân về bệnh sán lá còn hạn chế, dẫn đến việc không chú trọng phòng ngừa. Thói quen ăn gỏi cá và sử dụng phân người để nuôi cá vẫn tồn tại, tạo điều kiện cho sán lá phát triển. Ngoài ra, việc thiếu tài liệu nghiên cứu và thống kê về tình hình nhiễm bệnh cũng là một rào cản lớn trong công tác phòng chống.

2.1. Kiến thức và hành vi của người dân về nhiễm sán lá

Nhiều người dân chưa nhận thức được tác hại của việc ăn cá sống và các biện pháp phòng ngừa nhiễm sán lá. Việc thiếu thông tin và giáo dục sức khỏe đã dẫn đến tình trạng nhiễm bệnh cao. Cần có các chương trình truyền thông để nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh sán lá.

2.2. Các yếu tố dịch tễ liên quan đến nhiễm sán lá

Các yếu tố như thói quen ăn uống, điều kiện vệ sinh môi trường và việc sử dụng phân người để nuôi cá đều có ảnh hưởng lớn đến tình hình nhiễm sán lá. Việc nghiên cứu các yếu tố này sẽ giúp xác định các biện pháp can thiệp hiệu quả hơn.

III. Phương pháp can thiệp hiệu quả trong phòng chống nhiễm sán lá

Để giảm tỷ lệ nhiễm sán lá, cần áp dụng các phương pháp can thiệp hiệu quả. Các biện pháp này bao gồm điều trị cho người nhiễm bệnh, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng và cải thiện điều kiện vệ sinh. Việc kết hợp giữa điều trị và truyền thông sẽ giúp nâng cao hiệu quả phòng chống.

3.1. Điều trị và quản lý bệnh nhân nhiễm sán lá

Sử dụng thuốc praziquantel là phương pháp điều trị chính cho người nhiễm sán lá. Cần có các chương trình điều trị định kỳ cho cộng đồng để giảm tỷ lệ nhiễm bệnh. Việc theo dõi và quản lý bệnh nhân cũng rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị.

3.2. Giáo dục sức khỏe và nâng cao nhận thức cộng đồng

Các chương trình giáo dục sức khỏe cần được triển khai để nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của nhiễm sán lá. Cần tổ chức các buổi hội thảo, phát tờ rơi và sử dụng các phương tiện truyền thông để truyền tải thông tin đến cộng đồng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại huyện Nga Sơn

Nghiên cứu về tình hình nhiễm sán lá tại huyện Nga Sơn đã chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm bệnh cao và có nhiều yếu tố liên quan. Các biện pháp can thiệp đã được áp dụng và cho thấy hiệu quả tích cực trong việc giảm tỷ lệ nhiễm bệnh. Việc theo dõi và đánh giá kết quả nghiên cứu là rất cần thiết để điều chỉnh các biện pháp can thiệp.

4.1. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm sán lá

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ ở người dân huyện Nga Sơn là khá cao. Cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để giảm tỷ lệ nhiễm bệnh trong cộng đồng.

4.2. Đánh giá hiệu quả các giải pháp can thiệp

Các giải pháp can thiệp như điều trị và giáo dục sức khỏe đã cho thấy hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ nhiễm sán lá. Cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để cải thiện các biện pháp can thiệp trong tương lai.

V. Kết luận và tương lai của công tác phòng chống nhiễm sán lá

Công tác phòng chống nhiễm sán lá truyền qua cá ở huyện Nga Sơn cần được chú trọng hơn nữa. Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng, cải thiện điều kiện vệ sinh và áp dụng các biện pháp can thiệp hiệu quả sẽ giúp giảm tỷ lệ nhiễm bệnh. Tương lai của công tác phòng chống nhiễm sán lá phụ thuộc vào sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng

Nâng cao nhận thức của cộng đồng về nhiễm sán lá là rất quan trọng để giảm tỷ lệ nhiễm bệnh. Cần có các chương trình giáo dục sức khỏe thường xuyên để người dân hiểu rõ về tác hại của bệnh.

5.2. Định hướng tương lai cho công tác phòng chống

Cần có các nghiên cứu tiếp theo để theo dõi tình hình nhiễm sán lá và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp. Việc xây dựng các chính sách hỗ trợ cho công tác phòng chống nhiễm sán lá cũng rất cần thiết.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ thực trạng nhiễm sán lá truyền qua cá trên người yếu tố liên quan và hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại huyện nga sơn thanh hóa năm 2013 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thông tin chung về bệnh sán lá truyền qua cá Các bệnh sán lá truyền qua cá bao gồm sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ. Trên thế giới có 76 loài sán lá truyền qua cá, trong đó có 7 loài sán lá gan nhỏ thuộc họ Opisthorchiidae và 69 loài sán lá ruột nhỏ [8]. Tại Việt Nam, sán lá truyền qua cá mới chỉ xác định có ít nhất 24 tỉnh có lưu hành bệnh sán lá gan nhỏ.

Còn bệnh sán lá ruột nhỏ chưa có nhiều tài liệu thông báo về bệnh này ở các tỉnh trong cả nước, có thể trứng sán lá ruột nhỏ rất giống trứng sán lá gan nhỏ. Mặc khác chu kỳ lây truyền bệnh sán lá ruột nhỏ hoàn toàn giống sán lá gan nhỏ. Vì vậy có thể vẫn dễ nhầm lẫn giữa 2 loại sán lá này [8]. Qua báo cáo của tác giả Phan VT và cộng sự (2010), hiện nay ẩm thực ăn gỏi cá có có xu hướng lan rộng ra nhiều vùng, miền trong toàn Quốc và cả một số Quốc gia trên Thế giới [9].

Trong khi thói quen dùng phân tươi nuôi cá hoặc phóng uế bừa bãi xuống ao hồ vẫn còn tồn tại ở nhiều địa phương trong cả nước. Vì vậy, tỷ lệ nhiễm sán lá vẫn còn cao và phát triển rộng hơn ở một số vùng có tập quán ăn gỏi cá nước ngọt này. - Loài sán lá gan nhỏ chủ yếu trên Thế giới + Thuộc ngành (Phylum) sán dẹt (Platyhelminthes) + Lớp (Class) sán lá (Trematoda) + Bộ (Order): Prosostomata + Họ (Family): Opisthorchiidae + Giống (Genus): Clonorchis có loài (Species) Clonorchis sinensis + Giống (Genus): Opisthorchis có loài (Species) Opisthorchis viverrini và loài Opisthorchis felineus LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Sán lá gan gây bệnh ở người gồm 12 loài thuộc 3 họ sán lá ký sinh ở ống mật và túi mật của gan, bất thường ký sinh ở ống tụy [6]: - SLGN thuộc họ Opisthorchiidae, gồm 7 loài: Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini, O. felineus, Amphimerus norverca, Amphimerus pseudofelineus, Metorchis conjunctus và Pseudamphistomum trancatum.

- Họ Dicrocoeliidae gồm 3 loài: Dicrocoelium dendriticum, Dicrocoelium hospes và Eurytrema pancreaticum. - Họ Fasciolidae gồm 2 loài: Fasciola hepatica và Fasciola gigantica. Trên thế giới chủ yếu ký sinh ở người có loài: Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini, O. felineus truyền qua cá thuộc họ Opisthorchiidae và Dicrocoelium dendriticum thuộc họ Dicrocoeliidae, loài này truyền qua kiến nên chúng tôi không đề cặp đến trong luận án này [6].

Ở Việt Nam đã xác định sự có mặt của 2 loài sán lá gan nhỏ truyền qua cá, đó là: Clonorchis sinensis có ở miền Bắc, Opisthorchis viverrini ở miền Nam và miền Trung thuộc họ Opisthorchiidae [6]. - Loài sán lá ruột nhỏ Trên Thế giới có khoảng hơn 69 loài sán lá ruột nhỏ được biết là ký sinh ở người. Trong đó có 31 loài thuộc họ Heterophyidae, 21 loài thuộc họ Echinostomatidae, 5 loài thuộc họ Leicithodendriidae, 4 loài thuộc họ Plagiorchiidae. Họ Diplostomidae, Nanophyetidae và Paramphistomatidae mỗi họ có 2 loài.

Còn họ Gastrodiscidae, Gymnophallidae, Microphllidae và Strigeidae mỗi họ có 1 loài [10]. Tại Việt Nam, từ năm 2004 đến năm 2006, với phương pháp xét nghiệm Kato-katz và lắng cặn trong cộng đồng đã xác định bệnh sán lá ruột nhỏ lưu hành ít nhất 18 tỉnh trong cả nước. Tỷ lệ tăng theo nhóm tuổi, nam nhiễm cao hơn nữ. Trong thời gian này đã phát hiện 8 loài sán lá ruột nhỏ bao gồm: Haplorchis taichui, H.

yokogawai, Stellantchasmus falcatus, Centrocestus LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 formosanus, Procerovum varium thuộc họ Heterophyidae và Echinochasmus japonicus và Echinostoma revolutum thuộc họ Echinostomatidae. Trong đó thường gặp nhất là loài Haplorchis taichui và H. pumilio thuộc họ Heterophyidae đã phát hiện ít nhất ở 9 tỉnh của Việt Nam [3],[4],[11]. Lịch sử nghiên cứu về sán lá truyền qua cá 1.

Lịch sử nghiên cứu sán lá Clonorchis sinensis - Bệnh sán lá gan nhỏ (SLGN) đã được biết đến khá lâu, ít nhất hàng ngàn năm trước đây. Loài Clonorchis sinensis tồn tại ở Trung Quốc cách đây hơn 100 năm, lần đầu tiên vào năm 1875 được Meconell tìm thấy SLGN trong tử thi người Hoa ở Calcuta Ấn Độ, được Cobbold đặt tên là Distoma sinense. Năm 1907, Loss và Kobayashi dựa vào hình thái học của loài sán này thống nhất lấy tên là Clorochis sinensis. Trong tiếng La Tinh Clonos có nghĩa là phân nhánh, còn Orchis có nghĩa là tinh hoàn, Sinensis có nghĩa là Trung Quốc [6].

- Đến năm 1910, Kobayashi xác định được vật chủ trung gian thứ hai của Clonorchis sinensis là họ cá chép Cyprinidae [6]. - Đến năm 1918, Muto xác định được vật chủ trung gian thứ nhất của Clonorchis sinensis là ốc nước ngọt [6]. Bệnh phân bố ở phía Đông Châu Á từ Việt Nam đến Nhật Bản, gồm : Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan và Bắc Việt Nam. - Tại Việt Nam, C.

sinensis được Grall phát hiện và thông báo ca sán đầu tiên vào năm 1887 ở miền Bắc. sinensis trên một công dân Pháp ở Việt Nam. Tại Sài Gòn đã thông báo có 291 người nhiễm C. sinensis, nhưng chủ yếu những người này có nguồn gốc từ miền Bắc di cư vào Nam.

Đến năm 1965, Đặng Văn Ngữ và Đỗ Dương Thái phát hiện một trường hợp nhiễm C. sinensis phối hợp với O. felineus ở Việt Nam [6]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Từ năm 1976 – 2002, Viện Sốt rét- Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương đã xác định bệnh do loài C.

sinensis lưu hành chủ yếu ở miền Bắc. Đã có ít nhất ở 12 tỉnh thành nhiễm bệnh, tỷ lệ nhiễm trung bình là 19% (Kiều Tùng Lâm và cộng sự, 1992). Có địa phương nhiễm tới 37% như tỉnh Nam Định, có nơi bệnh phân bố trên toàn tỉnh như tỉnh Hòa Bình (Nguyễn Văn Đề và cộng sự, 1996, 1998, 2002, 2003) [6]. Lịch sử phát hiện bệnh Opisthorchis viverrini - Loài Opisthorchis viverrini được phát hiện ở các nước Châu Á, Đông Nam Á vào năm 1984, như: Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaysia, Việt Nam, Campuchia.

Đặc biệt ở Thái Lan, qua điều tra 60 làng năm 1994 trong 7 tỉnh Đông Bắc Thái Lan có tỷ lệ nhiễm O. - Tại Việt Nam: Năm 2008, Nguyễn Văn Chương và cộng sự đã điều tra phát hiện loài Opisthorchis viverrini tại 2 tỉnh: Phú Yên và Bình Định, với tỷ lệ nhiễm từ 3,92% - 7,67% [12]. Lịch sử nghiên cứu sán lá ruột nhỏ - Tình hình nghiên cứu trên thế giới Sán lá ruột nhỏ ký sinh ở người được thông báo tại Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan, Lào, Bangladesh, Ai Cập, Sudan, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Tunisia, Siberia, Israel, Tây Ban Nha, Brazil, Mỹ, Greenland…[3]. - Tình hình nghiên cứu sán lá ruột nhỏ ở Việt Nam Theo thông báo của Nguyễn Văn Đề, từ năm 2004 - 2006, đã xác định sán lá ruột nhỏ lưu hành ít nhất tại 18 tỉnh, gồm: Yên Bái, Phú Thọ, Điện Biên, Lào Cai, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hà Tây (cũ), Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Hải Phòng, Thái Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng và An Giang [3].

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số đặc điểm dịch tễ về bệnh sán lá truyền qua cá 1. Đặc điểm dịch tễ của sán lá gan nhỏ [3] - Nguồn bệnh là các động vật nuôi như: chó, mèo, lợn, chuột cống và con người nhiễm bệnh thải trứng ra ngoài môi trường nước. - Đường lây truyền là do ăn cá chưa nấu chín dưới các hình thức như: gỏi cá, lẩu cá, cá nướng, cá hấp, cá om dưa.

Vật chủ trung gian thứ nhất là ốc Bithynia mang cercaria, vật chủ trung gian thứ 2 là các loài cá nước ngọt (mè, trôi, chép, trắm, diếc, rôphi) mang metacercaria. - Khối cảm thụ là các động vật cũng như nguồn bệnh. - Phân bố: Ở các vùng có tập quán ăn gỏi cá hay cá nước ngọt chưa nấu chín có chứa ấu trùng, chủ yếu là một số Quốc gia Châu Âu, Châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Đặc điểm dịch tễ sán lá ruột nhỏ [3] Chu kỳ tương tự như với sán lá gan nhỏ, bệnh sán lá ruột nhỏ phụ thuộc tập quán ăn gỏi cá.

Do vậy, vùng dịch tễ sán lá gan nhỏ cũng là vùng dịch tễ sán lá ruột nhỏ và mức độ nhiễm cũng song song với nhau. Cá bị ô nhiễm bởi ấu trùng sán lá ruột nhỏ thường cao hơn nhiều so với sán lá gan nhỏ. Vật chủ dự trữ mầm bệnh (reservoir) giống như với sán lá gan nhỏ, ngoài ra còn có nhiều động vật khác như: Gia cầm, chim tự nhiên là vật chủ của sán lá ruột nhỏ. nên sự phân bố của sán lá ruột nhỏ rất rộng lớn.

Vật chủ trung gian thứ nhất (First intermediate host) là ốc, còn gọi là vật chủ phụ, có hai loại ốc là: P. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu ngoài nước, trong nước bệnh sán lá truyền qua cá 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1.

Loài sán lá gan nhỏ C. sinensis - Nghiên cứu đặc điểm sinh học Khi nghiên cứu về đặc điểm hình thái loài Clonorchis sinensis, tác giả Chenghua Shen và cộng sự (2007) đã thu thập loài sán Clonorchis sinensis trưởng thành ở người sau khi điều trị bằng praziquantel cho người dân ở Sancheong-gun, Gyeongsangnam-do, Hàn Quốc. Trong 8 người được đãi phân sau tẩy sán, có 5 người thu được sán trưởng thành. Kích thước sán đo được là: 15-20 mm x 2-3 mm, thân sán có mầu đỏ nâu hoặc mầu trắng.

Như vậy là về mặt hình thái qua mô tả thì loài sán lá gan nhỏ C. sinensis ở Hàn Quốc cũng tương tự như ở Việt Nam [13]. Hấp khẩu miệng 2. Hấp khẩu bụng 3.

Lỗ sinh dục 4.Tinh hoàn Hình 1. Hình thể, cấu tạo sán lá gan nhỏ trưởng thành Clonorchis sinensis (Ảnh chụp tiêu bản của Nguyễn Văn Đề, Đại học Y Hà Nội, 2012, tỷ lệ con sán thật bằng khoảng 1/20) Năm 2004, Byung Ihn Choi và cộng sự nghiên cứu về vòng đời và vật chủ trung gian của loài C. sinensis, tiếp tục chứng minh rằng: Vật chủ chính của loài sán này là người, chó mèo, lợn, chuột cống, vật chủ trung gian thứ nhất là ốc Bithynia, vật chủ trung gian thứ 2 là cá nước ngọt thích hợp [14]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Sơ đồ chu kỳ sán lá gan nhỏ CDC [3] (1) Sán trưởng thành ký sinh ở đường mật, sán đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh. (2) Nếu rơi xuống môi trường nước được ốc nuốt rồi nở ra ấu trùng lông trong ốc rồi phát triển thành ấu trùng đuôi. (3) Ấu trùng đuôi dời ốc bơi tự do trong nước. (5) Người (hoặc động vật) ăn phải cá có ấu trùng nang chưa được nấu chín.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ