1 ĐẶT VẤN ĐỀ Các bệnh sán lá truyền qua cá bao gồm sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ là những bệnh có tỷ lệ mắc tương đối cao ở một số Quốc gia trên Thế giới, đặc biệt là khu vực Châu Á, trong đó có Việt Nam. Theo thống kê của WHO, hiện nay có khoảng 45 triệu người trên Thế giới nhiễm sán lá gan nhỏ, trong đó Châu Á có ít nhất 35 triệu người nhiễm các loài sán lá này [1],[2]. Còn bệnh sán lá ruột nhỏ cũng có tỷ lệ nhiễm song hành tương tự như sán lá gan nhỏ do tính chất lây truyền và dịch tễ hoàn toàn giống sán lá gan nhỏ [3]. Nhiễm sán lá truyền qua cá là những bệnh gắn liền với tập quán, thói quen ăn gỏi cá đã có từ lâu đời ở nhiều địa phương trong cả nước. Tại Việt Nam, cho đến nay đã xác định có ít nhất 32 tỉnh mắc bệnh sán lá truyền qua cá, trong đó có 24 tỉnh mắc bệnh sán lá gan nhỏ và 18 tỉnh có bệnh sán lá ruột nhỏ lưu hành [3],[4]. Tỷ lệ nhiễm bệnh ở các khu vực là khác nhau, tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ trung bình là 17,23% [5]. Điều đáng chú ý là nếu nhiễm sán lá gan nhỏ kéo dài sẽ ảnh hưởng đến chức năng gan, gây nhiễm độc kéo dài và dẫn đến xơ gan, ung thư đường mật…[6]. Tuy vậy, kể từ khi nhiễm sán lá gan nhỏ đến khi xuất hiện các triệu chứng bệnh lý là cả một thời gian dài không có triệu chứng lâm sàng hoặc các triệu chứng không rõ ràng. Cho đến khi triệu chứng tổn thương gan đã rõ, nhiều người vẫn không nghĩ nguyên nhân là do sán lá gan nhỏ, vì thế bệnh ít được người dân quan tâm phòng chống. Bệnh sán lá ruột nhỏ cũng mắc rải rác ở nhiều địa phương trong cả nước và cũng gây tác hại đáng kể. Nhưng thực ra người ta chỉ biết và quan tâm nhiều đến bệnh sán lá ruột lớn ký sinh ở người và ở lợn (Fasciolopsis buski). Còn bệnh sán lá ruột nhỏ truyền qua cá nước ngọt do ăn cá chưa nấu chín hoặc ăn gỏi cá vẫn chưa được nhiều người biết đến kể cả tác hại của nó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá là một trong những khu vực trọng điểm, tại đây tập quán ăn gỏi cá còn rất phố biến, chủ yếu là cá nước ngọt, người dân vẫn sử dụng phân người tươi để nuôi cá, làm trang trại [7]. Nhưng cho đến nay chưa có đủ tài liệu nghiên cứu, cũng như thống kê một cách khoa học về tình hình nhiễm bệnh này trong cộng đồng dân cư tại Nga Sơn là bao nhiêu. Tình hình nhiễm ấu trùng sán lá trên cá nước ngọt như thế nào. Loài sán này có đặc điểm gì khác so với khu vực khác. Kiến thức và hành vi thực hành của người dân về phòng chống bệnh ra sao. Những yếu tố nào có liên quan đến tình hình mắc bệnh. Tiến hành giải pháp can thiệp nào tại cộng đồng có hiệu quả để làm giảm tình hình mắc bệnh… Việc xác định thực trạng nhiễm sán lá, yếu tố dịch tễ liên quan, cũng như kiến thức của mỗi người dân đối với bệnh này là hết sức cần thiết. Nhằm xây dựng các hoạt động phòng chống nhiễm sán lá tại địa phương đạt hiệu quả, nâng cao sức khỏe cộng đồng, giảm chi phí cho người bệnh và nhà nước. Xuất phát từ những yêu cầu khoa học và thực tiễn trên đây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng nhiễm sán lá truyền qua cá trên người, yếu tố liên quan và hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại huyện Nga Sơn, Thanh Hóa, năm 2013-2014”. Với các mục tiêu sau: 1. Xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá truyền qua cá trên người, nhiễm ấu trùng trên cá và loài sán lá tại 4 xã ven biển huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm sán lá ở người dân tại điểm nghiên cứu. Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp bằng điều trị và truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh sán lá tại điểm nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thông tin chung về bệnh sán lá truyền qua cá Các bệnh sán lá truyền qua cá bao gồm sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ. Trên thế giới có 76 loài sán lá truyền qua cá, trong đó có 7 loài sán lá gan nhỏ thuộc họ Opisthorchiidae và 69 loài sán lá ruột nhỏ [8]. Tại Việt Nam, sán lá truyền qua cá mới chỉ xác định có ít nhất 24 tỉnh có lưu hành bệnh sán lá gan nhỏ. Còn bệnh sán lá ruột nhỏ chưa có nhiều tài liệu thông báo về bệnh này ở các tỉnh trong cả nước, có thể trứng sán lá ruột nhỏ rất giống trứng sán lá gan nhỏ. Mặc khác chu kỳ lây truyền bệnh sán lá ruột nhỏ hoàn toàn giống sán lá gan nhỏ. Vì vậy có thể vẫn dễ nhầm lẫn giữa 2 loại sán lá này [8]. Qua báo cáo của tác giả Phan VT và cộng sự (2010), hiện nay ẩm thực ăn gỏi cá có có xu hướng lan rộng ra nhiều vùng, miền trong toàn Quốc và cả một số Quốc gia trên Thế giới [9]. Trong khi thói quen dùng phân tươi nuôi cá hoặc phóng uế bừa bãi xuống ao hồ vẫn còn tồn tại ở nhiều địa phương trong cả nước. Vì vậy, tỷ lệ nhiễm sán lá vẫn còn cao và phát triển rộng hơn ở một số vùng có tập quán ăn gỏi cá nước ngọt này. - Loài sán lá gan nhỏ chủ yếu trên Thế giới + Thuộc ngành (Phylum) sán dẹt (Platyhelminthes) + Lớp (Class) sán lá (Trematoda) + Bộ (Order): Prosostomata + Họ (Family): Opisthorchiidae + Giống (Genus): Clonorchis có loài (Species) Clonorchis sinensis + Giống (Genus): Opisthorchis có loài (Species) Opisthorchis viverrini và loài Opisthorchis felineus LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Sán lá gan gây bệnh ở người gồm 12 loài thuộc 3 họ sán lá ký sinh ở ống mật và túi mật của gan, bất thường ký sinh ở ống tụy [6]: - SLGN thuộc họ Opisthorchiidae, gồm 7 loài: Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini, O. felineus, Amphimerus norverca, Amphimerus pseudofelineus, Metorchis conjunctus và Pseudamphistomum trancatum. - Họ Dicrocoeliidae gồm 3 loài: Dicrocoelium dendriticum, Dicrocoelium hospes và Eurytrema pancreaticum. - Họ Fasciolidae gồm 2 loài: Fasciola hepatica và Fasciola gigantica. Trên thế giới chủ yếu ký sinh ở người có loài: Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini, O. felineus truyền qua cá thuộc họ Opisthorchiidae và Dicrocoelium dendriticum thuộc họ Dicrocoeliidae, loài này truyền qua kiến nên chúng tôi không đề cặp đến trong luận án này [6]. Ở Việt Nam đã xác định sự có mặt của 2 loài sán lá gan nhỏ truyền qua cá, đó là: Clonorchis sinensis có ở miền Bắc, Opisthorchis viverrini ở miền Nam và miền Trung thuộc họ Opisthorchiidae [6]. - Loài sán lá ruột nhỏ Trên Thế giới có khoảng hơn 69 loài sán lá ruột nhỏ được biết là ký sinh ở người. Trong đó có 31 loài thuộc họ Heterophyidae, 21 loài thuộc họ Echinostomatidae, 5 loài thuộc họ Leicithodendriidae, 4 loài thuộc họ Plagiorchiidae. Họ Diplostomidae, Nanophyetidae và Paramphistomatidae mỗi họ có 2 loài. Còn họ Gastrodiscidae, Gymnophallidae, Microphllidae và Strigeidae mỗi họ có 1 loài [10]. Tại Việt Nam, từ năm 2004 đến năm 2006, với phương pháp xét nghiệm Kato-katz và lắng cặn trong cộng đồng đã xác định bệnh sán lá ruột nhỏ lưu hành ít nhất 18 tỉnh trong cả nước. Tỷ lệ tăng theo nhóm tuổi, nam nhiễm cao hơn nữ. Trong thời gian này đã phát hiện 8 loài sán lá ruột nhỏ bao gồm: Haplorchis taichui, H. yokogawai, Stellantchasmus falcatus, Centrocestus LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 formosanus, Procerovum varium thuộc họ Heterophyidae và Echinochasmus japonicus và Echinostoma revolutum thuộc họ Echinostomatidae. Trong đó thường gặp nhất là loài Haplorchis taichui và H. pumilio thuộc họ Heterophyidae đã phát hiện ít nhất ở 9 tỉnh của Việt Nam [3],[4],[11]. Lịch sử nghiên cứu về sán lá truyền qua cá 1. Lịch sử nghiên cứu sán lá Clonorchis sinensis - Bệnh sán lá gan nhỏ (SLGN) đã được biết đến khá lâu, ít nhất hàng ngàn năm trước đây. Loài Clonorchis sinensis tồn tại ở Trung Quốc cách đây hơn 100 năm, lần đầu tiên vào năm 1875 được Meconell tìm thấy SLGN trong tử thi người Hoa ở Calcuta Ấn Độ, được Cobbold đặt tên là Distoma sinense. Năm 1907, Loss và Kobayashi dựa vào hình thái học của loài sán này thống nhất lấy tên là Clorochis sinensis. Trong tiếng La Tinh Clonos có nghĩa là phân nhánh, còn Orchis có nghĩa là tinh hoàn, Sinensis có nghĩa là Trung Quốc [6]. - Đến năm 1910, Kobayashi xác định được vật chủ trung gian thứ hai của Clonorchis sinensis là họ cá chép Cyprinidae [6]. - Đến năm 1918, Muto xác định được vật chủ trung gian thứ nhất của Clonorchis sinensis là ốc nước ngọt [6]. Bệnh phân bố ở phía Đông Châu Á từ Việt Nam đến Nhật Bản, gồm : Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan và Bắc Việt Nam. - Tại Việt Nam, C. sinensis được Grall phát hiện và thông báo ca sán đầu tiên vào năm 1887 ở miền Bắc. sinensis trên một công dân Pháp ở Việt Nam. Tại Sài Gòn đã thông báo có 291 người nhiễm C. sinensis, nhưng chủ yếu những người này có nguồn gốc từ miền Bắc di cư vào Nam. Đến năm 1965, Đặng Văn Ngữ và Đỗ Dương Thái phát hiện một trường hợp nhiễm C. sinensis phối hợp với O. felineus ở Việt Nam [6]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Từ năm 1976 – 2002, Viện Sốt rét- Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương đã xác định bệnh do loài C. sinensis lưu hành chủ yếu ở miền Bắc. Đã có ít nhất ở 12 tỉnh thành nhiễm bệnh, tỷ lệ nhiễm trung bình là 19% (Kiều Tùng Lâm và cộng sự, 1992). Có địa phương nhiễm tới 37% như tỉnh Nam Định, có nơi bệnh phân bố trên toàn tỉnh như tỉnh Hòa Bình (Nguyễn Văn Đề và cộng sự, 1996, 1998, 2002, 2003) [6]. Lịch sử phát hiện bệnh Opisthorchis viverrini - Loài Opisthorchis viverrini được phát hiện ở các nước Châu Á, Đông Nam Á vào năm 1984, như: Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaysia, Việt Nam, Campuchia. Đặc biệt ở Thái Lan, qua điều tra 60 làng năm 1994 trong 7 tỉnh Đông Bắc Thái Lan có tỷ lệ nhiễm O. - Tại Việt Nam: Năm 2008, Nguyễn Văn Chương và cộng sự đã điều tra phát hiện loài Opisthorchis viverrini tại 2 tỉnh: Phú Yên và Bình Định, với tỷ lệ nhiễm từ 3,92% - 7,67% [12].
Thực trạng nhiễm sán lá truyền qua cá trên người và giải pháp can thiệp tại huyện Nga Sơn, Thanh Hóa
Nghiên cứu thực trạng nhiễm sán lá truyền qua cá ở người tại huyện Nga Sơn, Thanh Hóa và hiệu quả các giải pháp can thiệp năm 2013-2014.
Trường đại học
Không tìm thấy thông tinChuyên ngành
Không tìm thấy thông tinNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Luận vănPhí lưu trữ
45 PointMục lục chi tiết
THÔNG TIN CHI TIẾT
Trường học: Không tìm thấy thông tin
Chuyên ngành: Không tìm thấy thông tin
Đề tài: Thực Trạng Nhiễm Sán Lá Truyền Qua Cá Trên Người, Yếu Tố Liên Quan Và Hiệu Quả Một Số Giải Pháp Can Thiệp Tại Huyện Nga Sơn, Thanh Hóa, Năm 2013-2014
Loại tài liệu: Luận văn
Năm xuất bản: 2013-2014
Địa điểm: Thanh Hóa
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ