Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thông tin chung về bệnh sán lá truyền qua cá Các bệnh sán lá truyền qua cá bao gồm sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ. Trên thế giới có 76 loài sán lá truyền qua cá, trong đó có 7 loài sán lá gan nhỏ thuộc họ Opisthorchiidae và 69 loài sán lá ruột nhỏ [8]. Tại Việt Nam, sán lá truyền qua cá mới chỉ xác định có ít nhất 24 tỉnh có lưu hành bệnh sán lá gan nhỏ.
Còn bệnh sán lá ruột nhỏ chưa có nhiều tài liệu thông báo về bệnh này ở các tỉnh trong cả nước, có thể trứng sán lá ruột nhỏ rất giống trứng sán lá gan nhỏ. Mặc khác chu kỳ lây truyền bệnh sán lá ruột nhỏ hoàn toàn giống sán lá gan nhỏ. Vì vậy có thể vẫn dễ nhầm lẫn giữa 2 loại sán lá này [8]. Qua báo cáo của tác giả Phan VT và cộng sự (2010), hiện nay ẩm thực ăn gỏi cá có có xu hướng lan rộng ra nhiều vùng, miền trong toàn Quốc và cả một số Quốc gia trên Thế giới [9].
Trong khi thói quen dùng phân tươi nuôi cá hoặc phóng uế bừa bãi xuống ao hồ vẫn còn tồn tại ở nhiều địa phương trong cả nước. Vì vậy, tỷ lệ nhiễm sán lá vẫn còn cao và phát triển rộng hơn ở một số vùng có tập quán ăn gỏi cá nước ngọt này. - Loài sán lá gan nhỏ chủ yếu trên Thế giới + Thuộc ngành (Phylum) sán dẹt (Platyhelminthes) + Lớp (Class) sán lá (Trematoda) + Bộ (Order): Prosostomata + Họ (Family): Opisthorchiidae + Giống (Genus): Clonorchis có loài (Species) Clonorchis sinensis + Giống (Genus): Opisthorchis có loài (Species) Opisthorchis viverrini và loài Opisthorchis felineus LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Sán lá gan gây bệnh ở người gồm 12 loài thuộc 3 họ sán lá ký sinh ở ống mật và túi mật của gan, bất thường ký sinh ở ống tụy [6]: - SLGN thuộc họ Opisthorchiidae, gồm 7 loài: Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini, O. felineus, Amphimerus norverca, Amphimerus pseudofelineus, Metorchis conjunctus và Pseudamphistomum trancatum.
- Họ Dicrocoeliidae gồm 3 loài: Dicrocoelium dendriticum, Dicrocoelium hospes và Eurytrema pancreaticum. - Họ Fasciolidae gồm 2 loài: Fasciola hepatica và Fasciola gigantica. Trên thế giới chủ yếu ký sinh ở người có loài: Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini, O. felineus truyền qua cá thuộc họ Opisthorchiidae và Dicrocoelium dendriticum thuộc họ Dicrocoeliidae, loài này truyền qua kiến nên chúng tôi không đề cặp đến trong luận án này [6].
Ở Việt Nam đã xác định sự có mặt của 2 loài sán lá gan nhỏ truyền qua cá, đó là: Clonorchis sinensis có ở miền Bắc, Opisthorchis viverrini ở miền Nam và miền Trung thuộc họ Opisthorchiidae [6]. - Loài sán lá ruột nhỏ Trên Thế giới có khoảng hơn 69 loài sán lá ruột nhỏ được biết là ký sinh ở người. Trong đó có 31 loài thuộc họ Heterophyidae, 21 loài thuộc họ Echinostomatidae, 5 loài thuộc họ Leicithodendriidae, 4 loài thuộc họ Plagiorchiidae. Họ Diplostomidae, Nanophyetidae và Paramphistomatidae mỗi họ có 2 loài.
Còn họ Gastrodiscidae, Gymnophallidae, Microphllidae và Strigeidae mỗi họ có 1 loài [10]. Tại Việt Nam, từ năm 2004 đến năm 2006, với phương pháp xét nghiệm Kato-katz và lắng cặn trong cộng đồng đã xác định bệnh sán lá ruột nhỏ lưu hành ít nhất 18 tỉnh trong cả nước. Tỷ lệ tăng theo nhóm tuổi, nam nhiễm cao hơn nữ. Trong thời gian này đã phát hiện 8 loài sán lá ruột nhỏ bao gồm: Haplorchis taichui, H.
yokogawai, Stellantchasmus falcatus, Centrocestus LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 formosanus, Procerovum varium thuộc họ Heterophyidae và Echinochasmus japonicus và Echinostoma revolutum thuộc họ Echinostomatidae. Trong đó thường gặp nhất là loài Haplorchis taichui và H. pumilio thuộc họ Heterophyidae đã phát hiện ít nhất ở 9 tỉnh của Việt Nam [3],[4],[11]. Lịch sử nghiên cứu về sán lá truyền qua cá 1.
Lịch sử nghiên cứu sán lá Clonorchis sinensis - Bệnh sán lá gan nhỏ (SLGN) đã được biết đến khá lâu, ít nhất hàng ngàn năm trước đây. Loài Clonorchis sinensis tồn tại ở Trung Quốc cách đây hơn 100 năm, lần đầu tiên vào năm 1875 được Meconell tìm thấy SLGN trong tử thi người Hoa ở Calcuta Ấn Độ, được Cobbold đặt tên là Distoma sinense. Năm 1907, Loss và Kobayashi dựa vào hình thái học của loài sán này thống nhất lấy tên là Clorochis sinensis. Trong tiếng La Tinh Clonos có nghĩa là phân nhánh, còn Orchis có nghĩa là tinh hoàn, Sinensis có nghĩa là Trung Quốc [6].
- Đến năm 1910, Kobayashi xác định được vật chủ trung gian thứ hai của Clonorchis sinensis là họ cá chép Cyprinidae [6]. - Đến năm 1918, Muto xác định được vật chủ trung gian thứ nhất của Clonorchis sinensis là ốc nước ngọt [6]. Bệnh phân bố ở phía Đông Châu Á từ Việt Nam đến Nhật Bản, gồm : Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan và Bắc Việt Nam. - Tại Việt Nam, C.
sinensis được Grall phát hiện và thông báo ca sán đầu tiên vào năm 1887 ở miền Bắc. sinensis trên một công dân Pháp ở Việt Nam. Tại Sài Gòn đã thông báo có 291 người nhiễm C. sinensis, nhưng chủ yếu những người này có nguồn gốc từ miền Bắc di cư vào Nam.
Đến năm 1965, Đặng Văn Ngữ và Đỗ Dương Thái phát hiện một trường hợp nhiễm C. sinensis phối hợp với O. felineus ở Việt Nam [6]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Từ năm 1976 – 2002, Viện Sốt rét- Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương đã xác định bệnh do loài C.
sinensis lưu hành chủ yếu ở miền Bắc. Đã có ít nhất ở 12 tỉnh thành nhiễm bệnh, tỷ lệ nhiễm trung bình là 19% (Kiều Tùng Lâm và cộng sự, 1992). Có địa phương nhiễm tới 37% như tỉnh Nam Định, có nơi bệnh phân bố trên toàn tỉnh như tỉnh Hòa Bình (Nguyễn Văn Đề và cộng sự, 1996, 1998, 2002, 2003) [6]. Lịch sử phát hiện bệnh Opisthorchis viverrini - Loài Opisthorchis viverrini được phát hiện ở các nước Châu Á, Đông Nam Á vào năm 1984, như: Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaysia, Việt Nam, Campuchia.
Đặc biệt ở Thái Lan, qua điều tra 60 làng năm 1994 trong 7 tỉnh Đông Bắc Thái Lan có tỷ lệ nhiễm O. - Tại Việt Nam: Năm 2008, Nguyễn Văn Chương và cộng sự đã điều tra phát hiện loài Opisthorchis viverrini tại 2 tỉnh: Phú Yên và Bình Định, với tỷ lệ nhiễm từ 3,92% - 7,67% [12]. Lịch sử nghiên cứu sán lá ruột nhỏ - Tình hình nghiên cứu trên thế giới Sán lá ruột nhỏ ký sinh ở người được thông báo tại Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan, Lào, Bangladesh, Ai Cập, Sudan, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Tunisia, Siberia, Israel, Tây Ban Nha, Brazil, Mỹ, Greenland…[3]. - Tình hình nghiên cứu sán lá ruột nhỏ ở Việt Nam Theo thông báo của Nguyễn Văn Đề, từ năm 2004 - 2006, đã xác định sán lá ruột nhỏ lưu hành ít nhất tại 18 tỉnh, gồm: Yên Bái, Phú Thọ, Điện Biên, Lào Cai, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hà Tây (cũ), Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Hải Phòng, Thái Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng và An Giang [3].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số đặc điểm dịch tễ về bệnh sán lá truyền qua cá 1. Đặc điểm dịch tễ của sán lá gan nhỏ [3] - Nguồn bệnh là các động vật nuôi như: chó, mèo, lợn, chuột cống và con người nhiễm bệnh thải trứng ra ngoài môi trường nước. - Đường lây truyền là do ăn cá chưa nấu chín dưới các hình thức như: gỏi cá, lẩu cá, cá nướng, cá hấp, cá om dưa.
Vật chủ trung gian thứ nhất là ốc Bithynia mang cercaria, vật chủ trung gian thứ 2 là các loài cá nước ngọt (mè, trôi, chép, trắm, diếc, rôphi) mang metacercaria. - Khối cảm thụ là các động vật cũng như nguồn bệnh. - Phân bố: Ở các vùng có tập quán ăn gỏi cá hay cá nước ngọt chưa nấu chín có chứa ấu trùng, chủ yếu là một số Quốc gia Châu Âu, Châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Đặc điểm dịch tễ sán lá ruột nhỏ [3] Chu kỳ tương tự như với sán lá gan nhỏ, bệnh sán lá ruột nhỏ phụ thuộc tập quán ăn gỏi cá.
Do vậy, vùng dịch tễ sán lá gan nhỏ cũng là vùng dịch tễ sán lá ruột nhỏ và mức độ nhiễm cũng song song với nhau. Cá bị ô nhiễm bởi ấu trùng sán lá ruột nhỏ thường cao hơn nhiều so với sán lá gan nhỏ. Vật chủ dự trữ mầm bệnh (reservoir) giống như với sán lá gan nhỏ, ngoài ra còn có nhiều động vật khác như: Gia cầm, chim tự nhiên là vật chủ của sán lá ruột nhỏ. nên sự phân bố của sán lá ruột nhỏ rất rộng lớn.
Vật chủ trung gian thứ nhất (First intermediate host) là ốc, còn gọi là vật chủ phụ, có hai loại ốc là: P. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu ngoài nước, trong nước bệnh sán lá truyền qua cá 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1.
Loài sán lá gan nhỏ C. sinensis - Nghiên cứu đặc điểm sinh học Khi nghiên cứu về đặc điểm hình thái loài Clonorchis sinensis, tác giả Chenghua Shen và cộng sự (2007) đã thu thập loài sán Clonorchis sinensis trưởng thành ở người sau khi điều trị bằng praziquantel cho người dân ở Sancheong-gun, Gyeongsangnam-do, Hàn Quốc. Trong 8 người được đãi phân sau tẩy sán, có 5 người thu được sán trưởng thành. Kích thước sán đo được là: 15-20 mm x 2-3 mm, thân sán có mầu đỏ nâu hoặc mầu trắng.
Như vậy là về mặt hình thái qua mô tả thì loài sán lá gan nhỏ C. sinensis ở Hàn Quốc cũng tương tự như ở Việt Nam [13]. Hấp khẩu miệng 2. Hấp khẩu bụng 3.
Lỗ sinh dục 4.Tinh hoàn Hình 1. Hình thể, cấu tạo sán lá gan nhỏ trưởng thành Clonorchis sinensis (Ảnh chụp tiêu bản của Nguyễn Văn Đề, Đại học Y Hà Nội, 2012, tỷ lệ con sán thật bằng khoảng 1/20) Năm 2004, Byung Ihn Choi và cộng sự nghiên cứu về vòng đời và vật chủ trung gian của loài C. sinensis, tiếp tục chứng minh rằng: Vật chủ chính của loài sán này là người, chó mèo, lợn, chuột cống, vật chủ trung gian thứ nhất là ốc Bithynia, vật chủ trung gian thứ 2 là cá nước ngọt thích hợp [14]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Sơ đồ chu kỳ sán lá gan nhỏ CDC [3] (1) Sán trưởng thành ký sinh ở đường mật, sán đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh. (2) Nếu rơi xuống môi trường nước được ốc nuốt rồi nở ra ấu trùng lông trong ốc rồi phát triển thành ấu trùng đuôi. (3) Ấu trùng đuôi dời ốc bơi tự do trong nước. (5) Người (hoặc động vật) ăn phải cá có ấu trùng nang chưa được nấu chín.