chương 1 trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, gồm có cơ sở đặt ra vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này đưa ra khung lý thuyết liên quan đến ý định chọn trường. Sau đó, một số mô hình nghiên cứu trước đây được dẫn chứng và giải thích để làm cơ sở biện luận các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu.
Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU Chương 3 trình bày quá trình thiết kế phương pháp nghiên cứu bao gồm quy trình nghiên cứu, cách thức nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng sơ bộ và nghiên cứu định lượng chính thức. Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Nội dung chương 4 trình bày và phân tích các kết quả nghiên cứu bao gồm kiểm định thang đo cho các biến, phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính và kiểm định sự khác biệt, các giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ Chương 5 trình bày kết luận và hàm ý quản trị để trường tuyển sinh hiệu quả. Chương này cũng nêu ra hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm nghiên cứu Ý định là một động từ, chỉ việc có ý kiến dứt khoát về việc làm cụ thể nào đó, là kết quả lựa chọn một trong các khả năng, sau khi đã có sự cân nhắc. (Hoàng Phê, 2018) Trường cao đẳng là một loại hình cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam. Đây là trường đào tạo trình độ sau trung học nhưng thấp hơn bậc đại học, gọi là bậc cao đẳng, hệ cao đẳng, hay giáo dục cao đẳng.
Các trường cao đẳng tuyển những người có bằng trung học phổ thông hoặc tương đương, và có chương trình đào tạo dài khoảng ba năm. Sinh viên học xong cao đẳng có thể tham gia thi tuyển để được chọn vào học “liên thông” lên bậc đại học ở một số trường đại học. (Luật Giáo dục, 2005) Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học gồm: mục tiêu, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học sau khi tốt nghiệp; nội dung đào tạo, phương pháp đánh giá đối với mỗi môn học và ngành học, trình độ đào tạo; bảo đảm yêu cầu liên thông giữa các trình độ và với các chương trình đào tạo khác. (Luật Giáo dục, 2005) Chọn trường: là một quá trình phức tạp, đa giai đoạn trong đó một cá nhân phát triển những nguyện vọng để tiếp tục giáo dục chính quy sau khi học trung học, tiếp theo sau đó bởi một ý định theo học một trường đại học cụ thể, cao đẳng hoặc quá trình đào tạo của một tố chức hướng nghiệp tiên tiến.
(Hossler và các cộng sự, 1987) Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội. Đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước. (Hossler và các cộng sự, 1989) Tư vấn hướng nghiệp là sự giúp đỡ về nghề nghiệp, định hướng học cao hơn sau khi học xong THPT giúp học sinh hiểu rõ nghề nghiệp và chọn được ngành học LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phù hợp với bản thân, ngoài sự chủ động của học sinh còn là sự cố gắng của trường và gia đình. (Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006) Như vậy, một cách tổng quát có thể hiểu ý định chọn trường của học sinh là kết quả của việc chọn lựa các cơ sở giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu của người học thông qua tìm hiểu các nguồn thông tin khác nhau kể cả hoạt động tư vấn hướng nghiệp của nhà trường.
Các lý thuyết có liên quan 2. Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) Ajzen và Fishbein (1975) đã đề ra thuyết hành động hợp lý, thuyết này chỉ ra những nhân tố ý định những hành vi dự định có ý thức của một người. Nó được xây dựng dựa trên các giả định cho rằng con người thích thực hiện hành động rất hợp lý theo cách mà họ tiếp nhận xử lý các thông tin có sẵn bên cạnh họ và chấp nhận kết quả từ hành động của mình. Theo TRA, ý định thực hiện hành vi sẽ ý định đến hành vi.
Ý định hành vi (Behavior Intention - BI) là nhân tố được xem là quan trọng nhất dùng để dự đoán các hành vi. Có hai nhân tố là thái độ đối với hành vi (Attitude Toward Behavior - AB) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm – SN) được xem là có vai trò thúc đẩy con người thực hiện một hành vi nào đó. Ý định hành vi (Behavior Intention) có thể hiểu là một công thức thể hiện mối liên hệ của thái độ dành cho hành vi và với chuẩn chủ quan. Thái độ đối với hành vi (Attitude Toward Behavior) là biểu hiện của một người khi họ yêu thích hay chán ghét, đánh giá tích cực hoặc tiêu cực đối với hành vi và kết quả của nó.
Chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức về người thân trong gia đình như cha mẹ, anh chị em, hay bạn bè, đồng nghiệp về việc ảnh hưởng của họ đến việc có nên thực hiện hành vi hay không. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Mô hình Thuyết hành động hợp lý của Ajzen và Fishbein Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975 Hạn chế mô hình TRA: Chỉ có ý nghĩa khi một người trước khi thực hiện hành vi họ đã có ý thức, ý định trước đó. Mô hình không giải thích được các trường hợp khác như: cá nhân thực hiện hành vi không hợp lý, họ làm theo quán tính của họ hay không có ý thức khi thực hiện một hành vi (Ajzen, 1985). Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior) Ajzen (1991) đã phát triển Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planed Behavior – TPB) được dựa trên thuyết hành động hợp lý của Ajzen và Fishbein (1975), khắc phục những nhược điểm của mô hình TRA.
Thuyết hành vi hoạch định đặt hành vi cá nhân vào bối cảnh hay hoàn cảnh cụ thể để hiểu rõ hơn về hành vi của họ. Điều này sẽ giúp chúng ta dự đoán được tại sao họ thực hiện hành vi này. TPB lý giải ý định cho hành vi có thể dự đoán được và nó được dự đoán bởi các nhân tố thái độ, chuẩn chủ quan và cuối cùng là nhận thức của con người kiểm soát hành vi của họ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Mô hình thuyết hành vi dự định của Ajzen Nguồn: Ajzen, 1991 Thái độ (Attitude Toward Behavior - AB) có thể hiểu là khi con người bị ảnh hưởng bởi các ngoại cảnh, tâm lý hay các vấn đề thì họ sẽ có các cảm xúc được thể hiện khác nhau.
Ví dụ như nếu cha mẹ của một người làm nghề kinh doanh thì người đó sẽ có những cảm xúc yêu hoặc ghét việc kinh doanh (Krueger và cộng sự, 2000). Chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN) được xem như là nhận thức của con người khi bị tác động từ phía những người thân, tiếp xúc nhiều dẫn đến việc thực hiện hành vi hay không (Ajzen, 1991). Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavirol Control - PBC) được hiểu là có các nhân tố nào kiểm soát việc thực hiện hành vi không, và kiểm soát hành vi có tác động rất lớn đến các ý định thực hiện hành vi của con người, bên cạnh đó còn giúp dự báo hành vi (Ajzen, 1991). Hạn chế của mô hình TPB: mô hình tuy có khắc phục hạn chế của TRA nhưng vẫn chưa khắc phục hết như: vẫn chưa làm sáng tỏ nếu hành vi của con người không hợp lý thì sẽ như thế nào, họ thực hiện hành vi mà không dựa trên những thông tin có sẵn, mô hình chưa xem xét đến động cơ vô thức của con người (Krueger và cộng sự, 2000).
Hai mô hình TRA và TPB mặc dù có điểm hạn chế nhưng dựa vào đó có thể hiểu được hành vi lựa chọn của cá nhân do ý thức ý định bên cạnh đó còn bị tác động, kiểm soát bởi các nhân tố khác. Đây là cơ sở để tiến hành đề tài nghiên cứu việc ra ý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 định chọn trường của học sinh là do bởi những nhân tố nào. Các nghiên cứu trước có liên quan 2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Cabrera và La Nasa (2000) đã dựa trên mô hình của Chapman (1981) đã nghiên cứu được mô hình 3 giai đoạn về vấn đề chọn trường đại học.
Từ đó, tác giả cho rằng ngoài mong đợi về học tập thì những trông chờ về công việc sau này của học sinh cũng là một nhân tố được xem là ảnh hưởng đến ý định chọn trường đại học của học sinh. Burns và các cộng sự (2006), trong bài nghiên cứu của mình về sự lựa chọn của sinh viên Mỹ gốc Phi được nhận vào trường Cao đẳng Nông nghiệp, Thực phẩm và Tài nguyên thiên nhiên tại Đại học Missouri – Columbia. Mẫu của nghiên cứu này là 22 sinh viên người Mỹ gốc Phi được nhận vào trường cho học kỳ mùa thu 2005. Nghiên cứu đã đóng góp thêm các nhân tố về học bổng, sự an toàn khi ở ký túc xá, chất lượng học tập của sinh viên tại trường, thương hiệu, tỷ lệ đầu vào, điểm chuẩn của trường và sự đa dạng của ngành học đó là những nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn trường của học sinh.
Tuy nhiên nghiên cứu này thực hiện tại Mỹ, sẽ có nhiều yếu tố chưa được kiểm định với trường Cao đẳng tại Việt Nam. Karl Wagner và Yousefi Fard (2009) trong nghiên cứu đã đưa ra các mô hình, cụ thể là 3, gồm: Mô hình kinh tế, mô hình xã hội và mô hình kết hợp, đã xác định các nhân tố có tác động quan trọng đối với ý định của học sinh Malaysia khi theo đuổi việc học đại học, cao đẳng: Chi phí việc học, môn học của ngành và giá trị bằng cấp. Các nhân tố khác như sự ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè, các khía cạnh vật chất và trang thiết bị của nhà trường.