đặt vấn đề về chủ nghĩa dân tộc nói chung một cách trừu tượng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chẳng có lợi gì. Cần phải phân biệt chủ nghĩa dân tộc của dân tộc đi áp bức với chủ nghĩa dân tộc của dân tộc bị áp bức, chủ nghĩa dân tộc của một dân tộc lớn và chủ nghĩa dân tộc của một dân tộc nhỏ” [33, 410]. Trong từng hoàn cảnh cụ thể, trong từng mối quan hệ xác định , chủ nghĩa dân tộc có thể thay đổi – dân tộc nhỏ, yếu, lạc hậu hơn dân tộc mình thì tỏ thái độ sôvanh dân tộc lớn; đối với các dân tộc lớn, tiên tiến hơn dân tộc mình thì biểu hiện thái độ dân tộc hẹp hòi. Như vậy, việc giải quyết đúng đắn vấn đề bình đẳng dân tộc trong đó việc giúp đỡ các dân tộc tự vươn lên tiến kịp trình độ phát triển với các dân tộc tiên tiến là một vấn đề quan trọng.
Vấn đề thực hiện bình đẳng dân tộc trước hết là đối với các dân tộc thiểu số, dân tộc lạc hậu, kém phát triển. Theo Lênin: “nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn gắn liền chặt chẽ với việc bảo đảm quyền lợi của các dân tộc thiểu số… bất cứ một thứ đặc quyền nào dành riêng cho một dân tộc, và bất cứ một sự vi phạm nào đến quyền lợi của một dân tộc thiểu số, đều bị bác bỏ” [32, 179]. Chỉ khi nào các dân tộc thiểu số, kém phát triển được tạo điều kiện, hỗ trợ để vươn lên trình độ tiến bộ với các dân tộc khác thì khi đó mới có bình đẳng thực sự giữa các dân tộc, sự hoà hợp giữa các dân tộc. Việc thực hiện bình đẳng dân tộc không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế, giữa các quốc gia dân tộc với nhau.
Sự kết hợp “nội lực” và “ngoại lực” tạo cho mỗi dân tộc có điều kiện phát huy tối đa tiềm lực của dân tộc mình, cộng với sự tương trợ của các dân tộc khác để phát triển. Chỉ bằng con đường ấy mới có thể thực hiện có hiệu quả việc xoá bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển, một trong những nguyên nhân sâu xa duy trì tình trạng bất bình đẳng dân tộc. Ngày nay, mỗi dân tộc chỉ có thể vươn lên ngang tầm thời đại để thực sự bình đẳng với các dân tộc khác, nếu biết hoà nhập vào xu thế vận động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung, tiếp thu các giá trị tiến bộ của mọi dân tộc để làm giàu thêm những giá trị vốn có của dân tộc mình. Chính vì vậy, việc giao lưu, hội nhập quốc tế sẽ mở ra thời cơ và điều kiện phát triển cho mỗi dân tộc.
Các dân tộc đều có quyền làm chủ hay bình quyền trong việc phát huy những khả năng của mình để xây dựng quê hương, xây dựng cuộc sống mới, phát huy những truyền thống dân tộc và đoàn kết nội bộ dân tộc trong sự nghiệp chung của đất nước. Nhà nước khi thực hiện chế độ tập trung dân chủ trước hết tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát huy cao nhất những khả năng của mình, tính đến đặc thù của từng vùng, từng địa phương trong các quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – văn hoá. Bình đẳng dân tộc không phải là sự chia nhau về quyền lợi, mà nó là biểu hiện của quyền làm chủ thực sự và mức độ phát triển về mọi mặt đời sống xã hội của mỗi dân tộc. Vì thế, chừng nào mà các dân tộc còn nghèo nàn về mọi mặt, chậm phát triển, sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc thì bình đẳng dân tộc chưa thể được thực hiện.
Tóm lại, có thể định nghĩa bình đẳng dân tộc như sau: Bình đẳng dân tộc là một mặt của bình đẳng xã hội nói chung (bên cạnh “bình đẳng giới”, “bình đẳng giữa các thế hệ”, “bình đẳng tầng lớp”,.), là sự ngang nhau về nghĩa vụ và quyền lợi, về cơ hội và điều kiện phát triển. giữa các dân tộc trong một quốc gia dân tộc và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội không phân biệt đa số hay thiểu số, sắc tộc hay chủng tộc, lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp, chế độ chính trị, kinh tế như thế nào. Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập tới vấn đề bình đẳng dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. Vì vậy, khi nói đến bình đẳng dân tộc ở Việt Nam là nói đến bình đẳng giữa các dân tộc - tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thực hiện bình đẳng dân tộc Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện bình đẳng dân tộc là tổng hòa các yếu tố tự nhiên và xã hội có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, khách quan hay chủ quan, cũng như bên trong và bên ngoài tới thực hiện bình đẳng dân tộc. Bình đẳng dân tộc luôn chịu sự quy định và chi phối bới các yêu tố nói trên trong quá trình vận động của nó. Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến những yếu tố khách quan và chủ quan có ảnh hưởng tới thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay.
Các yếu tố khách quan a. Điều kiện tự nhiên Nhìn lại lịch sử của dân tộc ta, qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã có được một điều kiện tự nhiên với nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn cho sự phát triển. Đó là do vị trí địa lý của Việt Nam thuận lợi nằm trên đường giao lưu từ bắc đến nam, từ đông sang tây của miền Viễn đông châu Á. Việt Nam nhìn ra biển Đông, nằm giữa hai nền văn minh lớn cổ xưa của phương Đông, thuận lợi cả đường bộ và đường biển.
Đó cũng là vùng đất sau này đón nhận văn hoá phương Tây. Việt Nam lại có một tài nguyên thiên nhiên giàu có, thuận lợi cho việc phát triển đất nước. Trong 64 tỉnh, thành phố cả nước ta hiện nay có tới 54 tỉnh thuộc địa bàn vùng dân tộc và miền núi, và 10 tỉnh vùng cao, 9 tỉnh miền núi, 23 tỉnh có huyện, xã miền núi, và 10 tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Các dân tộc thiểu số nước ta cư trú tập trung chủ yếu ở miền núi, biên giới, với những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế – xã hội và môi trường sinh thái rất đa dạng.
Trong khi diện tích chiếm 3/4 diện tích cả nước nhưng dân số miền núi chỉ chiếm 1/4 dân số cả nước. Vì vậy, vùng đồng bào dân tộc sinh sống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thường có mật độ dân số rất thấp (như Kon Tum 33 người/km2, Bắc Kạn 57 người/km2, Gia Lai 64 người/km2, Cao Bằng 74 người/km2, Hà Giang 77 người/km2… so với bình quân cả nước là 232 người/km2). Các vùng rừng núi ở nước ta là nơi tập trung tài nguyên, khoáng sản và tiềm năng lớn về thủy điện, là nơi đầu nguồn của hàng ngàn sông, suối, cung cấp nước ngọt, duy trì cân bằng sinh thái. Hầu hết các địa bàn miền núi đều có đường biên giới chung với các nước bạn (Trung Quốc, Lào, Campuchia) nên có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng, tạo điều kiện cho việc mở rộng giao lưu văn hóa và có tiềm năng trong phát triển kinh tế dịch vụ.
Với đặc điểm là “phên dậu”, là “cửa ngõ” của đất nước như vậy, có thể thấy quan tâm đến miền núi, hay nói cách khác là quan tâm đến đồng bào dân tộc thiểu số, không chỉ là vì lợi ích của đồng bào dân tộc mà còn vì lợi ích quốc gia. Vùng miền núi nước ta cũng là nơi tập trung nhiều tài nguyên, khoáng sản, rừng và có nhiều sông, suối tạo điều kiện cho phát triển thủy điện và cung cấp nước ngọt, duy trì cân bằng sinh thái. Với nguồn tài nguyên rừng rất đa dạng, phong phú, với nhiều loại quý hiếm đã tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế ở nhiều vùng. Điều kiện khí hậu ở nhiều vùng cũng giúp cho việc phát triển nông, lâm nghiệp và chăn nuôi.
Tuy nhiên, miền núi nước ta phần lớn là địa hình trung du (dưới 500m so với mặt biển) và vùng núi thấp (500 – 1500m). Khoảng 70% diện tích đất nước có độ cao từ 500m trở xuống là 85% là dưới 1000m. Trong 15% diện tích lãnh thổ cao trên 1000m thì chỉ có 1% là trên 2000m. Trong đó phần lớn là độ dốc núi, với 29% diện tích dốc dưới 15o, 14% là từ 15-25o, trên 57% là độ dốc trên 25o.
Độ dốc lớn làm khả năng sản xuất nông nghiệp của miền núi bị hạn chế. Thêm vào đó địa hình miền núi thường chia cắt, hiểm trở; đất đai dễ bị trượt lở, xói mòn, bạc màu; thường xuyên xảy ra sự cố môi trường rất nghiêm trọng ảnh hưởng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến đời sống, sản xuất, chăn nuôi của đồng bào và gây nhiều khó khăn, phức tạp trong phát triển kinh tế. Mặt khác, miền núi nước ta có sự khác biệt về điều kiện tự nhiên giữa các vùng (Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ) dẫn đến sự khác biệt về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc tại các vùng miền. Đây cũng là đặc điểm cần chú ý trong quá trình thực hiện các chính sách dân tộc và bình đẳng dân tộc ở nước ta.
Điều kiện kinh tế - xã hội Hiện nay, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số ở nước ta rất thấp so với dân tộc Kinh. Các dân tộc sinh sống chủ yếu bằng nghề khai thác rừng, đốt rừng (trừ dân tộc Khmer và dân tộc Chăm sinh sống ở vùng đồng bằng, ven biển, canh tác lúa nước), còn không ít các dân tộc sống du canh du cư, đốt nương làm rẫy (Mông, Môn - Khmer…). Do vậy, môi trường sinh thái bị hủy hoại, rừng già, rừng đầu nguồn bị triệt phá; tài nguyên khoáng sản, rừng và động vật hoang dã ngày một cạn kiệt; kinh tế hàng hóa còn chưa phát triển, canh tác lạc hậu, công cụ thô sơ, năng suất cây trồng, vật nuôi vừa thấp, vừa bấp bênh., sản xuất tự cấp tự túc… Đồng bào dân tộc thường sống tập trung trong các bản, làng mang nặng tính huyết thống (nhất là đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên).