Chương 1: Cơ sở khoa học về bồi dưỡng quản lý nhà nước cho cán bộ dân tộc thiểu số Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng quản lý nhà nước cho cán bộ dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bồi dưỡng quản lý nhà nước cho cán bộ dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BỒI DƢỠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CHO CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái quát về cán bộ, cán bộ dân tộc thiểu số 1. Khái niệm cán bộ Cán bộ là một khái niệm được du nhập từ Trung Quốc và được dùng 7 phổ biến trong thời kỳ chống Pháp.
Ở Trung Quốc từ cán bộ để chỉ chung những nhân viên, công chức để phân biệt với những nhân viên tạp vụ, binh lính, công nhân, lãnh đạo các đoàn thể. Dần dần từ cán bộ dùng để chỉ tất cả những người hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với nhân dân. Trong từ điển Nhật – Việt, từ cán bộ cũng được dùng để chỉ lãnh đạo của các đoàn thể. Hiện nay, ở Nhật từ cán bộ phần lớn được dùng trong quân đội để chỉ những người đóng vai trò bộ khung, còn để chỉ công chức hay viên chức người ta dùng từ quan liêu, theo nghĩa phổ biến là những người làm việc trong Bộ máy nhà nước.
Nghĩa của từ cán bộ ở Nhật trung thành nhiều hơn với từ gốc mà nó được dịch ra. Trong tiếng anh cũng như trong tiếng Pháp, từ này có nghĩa là người nòng cốt, những người chỉ huy trong quân đội, trong một tổ chức làm thành một nòng cốt. Ở nước ta theo cách hiểu thông thường trước đây: cán bộ được coi là tất cả, là những người thoát ly làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, quân đội. Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi như là những người có mức lương cán sự một.
Trong từ điển tiếng việt, cán bộ được định nghĩa là: - Người làm công tác nghiệp vụ, chuyên môn trong cơ quan Đảng, Nhà nước, Đoàn thể; - Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ. + Trong tổ chức Đảng và đoàn thể, từ cán bộ được dùng với nghĩa: Chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đến Trung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với Đảng viên, đoàn viên, hội viên thường không giữ chức vụ trong tổ chức; Những người làm công tác chuyên trách có hưởng lương trong các tổ chức Đảng và đoàn thể. + Trong quân đội cán bộ thường được chỉ các đối tượng 8 Là những người chỉ huy từ tiểu đội trở lên; Là sĩ quan từ cấp úy trở lên. + Trong hệ thống nhà nước, từ cán bộ được hiểu cơ bản là trùng với từ công chức, được chỉ: Những người làm việc trong các cơ quan nhà nước thuộc ngành hành chính, tư pháp, kinh tế, văn hóa - xã hội; Những người có chức vụ chỉ huy, phụ trách lãnh đạo.
Như vậy, từ những vấn đề ở trên, chúng ta có thể đi đến một quan niệm đầy đủ hơn: cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành góp phần, định hướng sự phát triển của tổ chức. Từ nghĩa gốc của từ cán bộ có yếu tố là “bộ khung”, là “nòng cốt”, là “chỉ huy”, cho nên khi bàn về chất lượng về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ phải tính đến nhưng yếu tố “cần” và “đủ” để đội ngũ cán bộ này thể hiện rõ vai trò chức trách là bộ khung, là nòng cốt, là chỉ huy, điều khiển người quản lý. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay – thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Xét về loại hình có thể phân thành: cán bộ Đảng và đoàn thể; cán bộ nhà nước; cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế; khoa học – kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, y tế thể thao xã hội,… thường gọi là cán bộ trong các đơn vị sự nghiệp vào cùng với cán bộ HCNN, gọi chung là cán bộ HCSN; cũng có cách phân loại cán bộ theo “chiều dọc”, nghĩa là theo thành phần cốt yếu cấu trúc tạo nên đội ngũ cán bộ ở từng loại tổ chức, việc phân loại này sẽ giúp cho từng tổ chức thấy rõ hơn những yêu cầu về chất lượng của cán bộ, chẳng hạn như trong hệ thống đảng thì có đảng viên và cán bộ.
Cán bộ trong hệ thống này là tất cả những người được bầu vào cấp ủy từ chỉ huy đến BCH Trung ương. Trong đó: có loại không hưởng lương theo ngân sách; hưởng lương 9 theo ngân sách (được xác định là cán bộ công chức); một bộ phận là chuyên gia công tác Đảng và các lĩnh vực; cán bộ quản lý (các vụ trưởng, trưởng, phó ban, viện trưởng, tổng biên tập,…); cán bộ lãnh đạo. Cán bộ, quy định tại khoản 1, Điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008 quy định rõ như sau: cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Điều 21, khoản 2, Luật cán bộ công chức năm 2008 quy định chức vụ, chức danh cán bộ cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện như sau: đối với các cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam căn cứ vào điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, của tổ chức chính trị - xã hội và quy định của Luật cán bộ công chức năm 2008 quy định chức vụ, chức danh cán bộ làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội; đối với chức vụ, chức danh cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước được xác định theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật kiểm toán nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Khái niệm cán bộ dân tộc thiểu số Ở Việt Nam, khái niệm “người bản địa” xuất hiện vào thời Pháp thuộc, khi phân biệt người dân Việt Nam với người Pháp. Có 54 tộc người sinh sống lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam nhưng không có tộc người nào là bản địa hay tộc người nào là phi bản địa - dù có tộc người sinh sống lâu đời, có tộc người nhập cư muộn hơn - mà chỉ có tộc người đa số và tộc người thiểu số. Do đó, khái niệm 10 “tộc người thiểu số”, hay “dân tộc thiểu số” được sử dụng là phù họp với thực tiễn tộc người ở nước ta. Gọi tộc người thiểu số là để phân biệt với tộc người đa số mà tiêu chí phổ dụng là xem xét tỷ lệ dân số tộc người trong tổng dân số quốc gia.
Một tộc người chỉ được xem là thiểu số khi đặt dân số tộc người đó với tổng dân số cả nước mà không xem xét ở phạm vi vùng hay địa phương. Bởi vì, một tộc người thiểu số nào đó của cả nước nhưng đặt trong phạm vi một địa phương nhất định có khi lại chiếm đa số, như trường họp người Thái ở Sơn La, hay người Nùng ở Lạng Sơn. Hay nói cách khác “Dân tộc thiểu số” (tộc người thiểu số hay dân tộc ít người) là thể hiện trong mối tương quan về số lượng dân số (nhân khẩu) giữa các nhóm dân tộc trong một quốc gia. Nếu như dân tộc đa số là dân tộc chiếm số đông nhất trong một quốc gia có nhiều dân tộc thì ngược lại, DTTS là dân tộc chiếm số dân ít hơn so với dân tộc đông nhất.
Tại Điều 5, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc của Chính phủ ban hành ngày 14/01/2011 qui định: “DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và “Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia”. Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc, ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số với gần 86% dân số cả nước, 53 DTTS còn lại chỉ chiếm gần 14%. Tiêu chí để phân biệt “cán bộ là người dân tộc thiểu số” trong “đội ngũ cán bộ” của hệ thống chính trị, chính quyền nhà nước là thành phần dân tộc xuất thân của người cán bộ đó thuộc “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số”. Tiêu chí đó không có ý nghĩa phân biệt trình độ, năng lực hay địa vị xã hội của người cán bộ; khi đã trở thành cán bộ thì dù có xuất thân từ “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” đều phải đảm nhận những công việc được giao phó và đều phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết đối với mỗi cương vị 11 công tác của mình.
Từ những luận giải như trên, có thể đi đến một quan niệm chung về cán bộ DTTS ở thành phố Buôn Ma Thuột như sau: là những người có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan Đảng, các hội, đoàn thể; các tổ chức chính trị, xã hội trực thuộc thành ủy Buôn Ma Thuột; các cơ quan chính quyền trực thuộc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột. Đặc điểm của cán bộ dân tộc thiểu số Do vị trí địa lý từng vùng, miền, đặc điểm, điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội các dân tộc khác nhau, vì vậy cán bộ dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột có những đặc điểm cơ bản sau: - Là những người am hiểu địa bàn, phong tục tập quán, văn hóa dân tộc: Đây là ưu thế lớn nhất của cán bộ dân tộc thiểu số vì do họ sinh ra, lớn lên, sống và giao lưu văn hóa đã tạo được sự gần gũi, gắn bó đối với đồng bào dân tộc.