Chương 1 – Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: Trình bày lý do hình thành đề tài, mục tiêu, phương pháp, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, từ đó rút ra ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu. Chương 2 – Cơ sở lý thuyết: Trình bày về khái niệm liên quan đến Nông nghiệp hữu cơ, các nghiên cứu đã có và các lý thuyết liên quan. Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện. Sau đó, tác giả trình bày cụ thể phương pháp nghiên cứu tình huống, quy trình thực hiện nghiên cứu, cũng như phương pháp, nội dung phỏng vấn.
Chương 4 – Trình bài luận điểm, đút kết của tác giả từ kết quả nghiên cứu. Chương 5 – Kết luận và kiến nghị: Trong chương cuối cùng, các kết quả nghiên cứu sẽ được tóm tắt và tổng kết ở phần kết luận. Từ kết quả đó, nghiên cứu sẽ đưa ra một số đóng góp của đề tài, hàm ý quản trị. Bên cạnh đó, sẽ tổng hợp những khó khăn và những điểm hạn chế của đề tài, đồng thời đề xuất ra hướng mở rộng cho nghiên cứu tiếp theo.
Những khái niệm liên quan Nông nghiệp hữu cơ – Organic agriculture (NNHC) Theo cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc Gia tại Tổng luận số 03/2018, “Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) là phương pháp sản xuất lương thực nhằm phát triển các hệ thống sản xuất bền vững về mặt môi trường và kinh tế với sự nhấn mạnh vào việc sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo tại địa phương và sử dụng tối thiểu đầu vào. Từ những năm 1970, các sản phẩm hữu cơ đã được bán rộng rãi trên phạm vi toàn cầu và các tiêu chuẩn sản xuất được thực thi theo pháp luật để mang lại lợi ích cho người sản xuất và người tiêu dùng. Có rất nhiều định nghĩa về NNHC, đơn giản nhất thì đó là hệ thống sản xuất dựa vào các quá trình sinh thái, như tái chế chất thải, phân hữu cơ (như phân chuồng, phân xanh) và các loại thuốc trừ sâu tự nhiên (ví dụ các loài động vật săn mồi) thay cho các đầu vào tổng hợp như phân hoá học và thuốc trừ sâu. Việc sử dụng kháng sinh và các sản phẩm khác liên quan đến sức khoẻ để chữa bệnh cho vật nuôi, cũng như để tăng năng suất bị hạn chế hoặc không được phép”.
Theo Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm Codex của FAO/WHO (1999) định nghĩa: "NNHC là một hệ thống quản lý sản xuất toàn diện nhằm thúc đẩy và tăng cường gìn giữ sự bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồm đa dạng sinh học, chu trình sinh học và hoạt động sinh học của đất. Nó nhấn mạnh việc sử dụng các thực tiễn quản lý thay vì sử dụng các đầu vào phi nông nghiệp, có tính đến các điều kiện của địa phương. Điều này được thực hiện bằng cách sử dụng, nếu có thể, các phương pháp nông học, sinh học và cơ học, ngược lại với việc sử dụng các yếu tố đầu vào tổng hợp, để hoàn thành bất kỳ chức năng cụ thể nào trong hệ thống". Liên đoàn quốc tế các phong trào NNHC (International Federation of Organic Agriculture Movements - IFOAM) cho rằng: “NNHC là một hệ thống sản xuất để duy trì sức khoẻ của đất, hệ sinh thái và con người.
Nó dựa vào quá trình sinh thái, đa dạng sinh học và chu kỳ thích nghi với điều kiện địa phương chứ không phải sử dụng các yếu tố đầu vào với các hiệu ứng bất lợi. NNHC kết hợp truyền thống, sự đổi mới và khoa học để có lợi cho môi trường và thúc đẩy mối quan hệ công bằng và một cuộc sống chất lượng cho tất cả các bên tham gia” (Cục Khoa học và Công nghệ Quốc Gia, 2018). Do vậy, một hệ thống sản xuất hữu cơ được thiết kế để: • Tăng cường sự đa dạng sinh học trong toàn bộ hệ thống; • Tăng hoạt tính sinh học của đất; • Duy trì độ màu mỡ lâu dài của đất; • Tái chế chất thải thực vật và động vật để trả lại chất dinh dưỡng cho đất, do đó giảm thiểu việc sử dụng các nguồn tài nguyên không thể tái tạo; • Dựa vào các nguồn tài nguyên tái tạo trong các hệ thống nông nghiệp được tổ chức ở địa phương; • Thúc đẩy việc sử dụng bền vững đất, nước và không khí cũng như giảm thiểu tất cả các dạng ô nhiễm có thể phát sinh từ các hoạt động nông nghiệp; 5 • Xử lý sản phẩm nông nghiệp với sự nhấn mạnh vào các phương pháp chế biến thận trọng để duy trì các phẩm chất quan trọng của sản phẩm hữu cơ ở mọi giai đoạn; • Có thể áp dụng trên bất kỳ trang trại hiện hữu nào thông qua giai đoạn chuyển đổi, khoảng thời gian thích hợp được xác định bởi các yếu tố cụ thể của địa phương như lịch sử đất đai, loại cây trồng và vật nuôi được sản xuất. Theo IFOAM, NNHC nên được định hướng theo bốn nguyên tắc: • Nguyên tắc về sức khoẻ: NNHC duy trì sự bền vững và tăng cường sức khỏe của đất, động thực vật, con người và hành tinh như một thể thống nhất và không thể tách rời; • Nguyên tắc về hệ sinh thái: NNHC dựa vào sức sống và chu kỳ của hệ sinh thái, nó hoạt động, mô phỏng và giúp cải thiện hệ sinh thái; • Nguyên tắc về tính công bằng: NNHC được xây dựng trên những mối quan hệ đảm bảo sự công bằng và quan tâm tới môi trường chung cũng như các điều kiện sống, các cơ hội sống phù hợp cho tất cả, kể cả vật nuôi và cây trồng; • Nguyên tắc về sự cẩn trọng: NNHC được quản lý một cách thận trọng và có trách nhiệm để bảo vệ sức khoẻ và an sinh của các thế hệ hiện tại và tương lai và môi trường.
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ (gọi tắt là sản xuất hữu cơ) là hệ thống quy trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bao gói, vận chuyển, bảo quản phù hợp với tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ và Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (gọi tắt là sản phẩm hữu cơ) là thực phẩm, dược liệu, mỹ phẩm và sản phẩm khác hoặc giống cây trồng, vật nuôi; thức ăn chăn nuôi, thức ăn thuỷ sản được sản xuất, chứng nhận và ghi nhãn phù hợp. Theo điều 3 – “giải thích từ ngữ” của Nghị định 109/2018/NĐ- CP về Nông nghiệp hữu cơ (109/2018/NĐ-CP, 2018). Nông sản hữu cơ và Nông sản sạch Cần phân biệt hai khái niệm được các nhà nghiên cứu và người dùng đang có nhận thức là “Nông sản hữu cơ” nghĩa là sản phẩm từ nông nghiệp được sản xuất từ nông pháp (phương pháp sản xuất sản phẩm nông nghiệp) hoàn toàn hữu cơ và “Nông sản sạch”. Cả hai loại sản phẩm này đều được xem là sản phẩm an toàn với sức khỏe, nhưng khác nhau về phương pháp canh tác cũng như quy trình và cách thức bảo quản, vận chuyển đến tay người tiêu dùng (theo những tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá khác nhau).
Nông sản sạch được sản xuất theo hình thức vẫn có thể sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thuốc diệt cỏ có nguồn gốc tổng hợp với mức độ nhất định, kể cả các giống cây trồng biến đổi gen. Quy trình sản xuất phải được ghi chép cẩn thận, có thể truy nguyên nguồn gốc và khi kiểm tra, sản phẩm được sử dụng liên tục thì dư lượng các chất trên (bảo vệ thực vật, các thành phần khoáng có hại,…) không vượt quá ngưỡng quy định. Đồng thời, hoạt động sản xuất (một phần) không gây ô nhiễm môi trường. Người sản xuất phải đạt các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… và tiêu chuẩn này sẽ liên tục thay đổi theo yêu cầu bảo vệ sức khỏe của cơ quan ban hành.
Nông sản hữu cơ được sản xuất bằng các phương pháp bảo vệ môi trường và hầu như không dùng các nguyên liệu nhân tạo như thuốc trừ sâu, thuốc kháng sinh, nguồn giống biến đổi gen. Người 6 nông dân nuôi trồng hữu cơ, trang trại sử dụng phương pháp canh tác hữu cơ và quy trình chế biến thực phẩm hữu cơ phải theo các tiêu chuẩn hữu cơ và chất xơ. Các tiêu chuẩn này bao quát toàn bộ quy trình sản xuất và sản phẩm từ lúc ở nông trại đến bữa ăn của người tiêu dùng, gồm: chất lượng đất trồng, nước tưới, kiểm soát sâu bệnh, tập quán chăn nuôi và các quy tắc về phụ gia thực phẩm. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ yêu cầu không được sử dụng 5 nguồn vật liệu đầu vào cho sản xuất gồm: - Phân bón hoá học - Hoá chất bảo vệ thực vật - Sản phẩm đột biến gen - Phân bắc (phân ủ từ phân người) - Chất kích thích tăng trưởng Theo ông Nguyễn Lâm Viên, CEO của Công ty cổ phần Vinamit - là doanh nghiệp Việt Nam tiên phong trong sản xuất bằng nông pháp hữu cơ, cho rằng: “Căn bản triết lý organic là cân bằng tự nhiên giữa con người với con người, con người với tự nhiên, con người với khí hậu… Nếu thể hiện được sự cân bằng này thì sẽ làm cho người ta sống lâu hơn, tốt hơn, từ đó làm căn bản cho phát triển lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ.
Vì thế, triết lý organic với người Việt mới hiểu từ vài năm nay. Chúng ta đang bước đi, chúng ta cũng đã ý thức được sau giai đoạn sử dụng hóa chất thì cần phải có triết lý hữu cơ để cải thiện đời sống của chúng ta. Nếu chúng ta kiên quyết đi theo nông nghiệp hữu cơ thì 20 năm nữa chúng ta cũng sẽ thấy kết quả. Những con người nói về nông nghiệp hữu cơ thì hiểu triết lý hữu cơ, họ sẽ hành xử khác.
Họ luôn hiểu là cuộc sống có sự tương tác qua lại giữa người này người kia. Nếu làm hại người khác thì họ không làm. Chính sự tương tác đó nó sẽ giúp cho mối quan hệ hữu cơ này hình hành”. Các nguyên tắc cơ bản của nông nghiệp hữu cơ (Glaw, 2023): Thứ nhất: Làm phong phú hệ sinh thái nông nghiệp.
Đất đai, thổ nhưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong canh tác nông nghiệp hữu cơ, việc gia tăng tích luỹ theo thời gian sự đa dạng sinh học và cải thiện chất lượng thổ nhưỡng bằng các vật liệu hữu cơ giúp đất màu mỡ hơn, cây trồng có thể hấp thụ chất dinh dưỡng đầy đủ và cân đối, có sức đề kháng cao để chống lại các loại sâu bệnh hại. Thứ hai: Bảo toàn hệ sinh thái trong trang trại, khu vực sản xuất. Nhiều dạng ô nhiễm bắt nguồn từ việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp như: làm lão hoá đất, tăng độ mặn, xói mòn, tăng độ chặt của đất (giảm tơi xốp).