Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sản xuất nông nghiệp hữu cơ của nông dân. Chương 3: Thực trạng và phương pháp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn đồng bằng sông Hồng. Chương 4: Kết quả và thảo luận phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn đồng bằng sông Hồng.
Chương 5: Giải pháp và kết luận thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn đồng bằng sông Hồng. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ CỦA NÔNG DÂN 2.1 Cơ sở lý luận về nông nghiệp hữu cơ 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Nông nghiệp hữu cơ Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) là phương pháp sản xuất lương thực có tác động tích cực đến môi trường và kinh tế. Phương pháp này sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo tại địa phương, hạn chế sử dụng các hóa chất tổng hợp và thuốc bảo vệ thực vật. Nhờ đó, nông nghiệp hữu cơ giúp bảo vệ đất đai, nguồn nước, đa dạng sinh học, và sức khỏe con người (Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, 2018).
Chúng ta có thể tiếp cận với nhiều định nghĩa về NNHC. Ta có thể hiểu đơn giản NNHC là phương pháp sản xuất lương thực dựa trên các nguyên tắc bảo vệ môi trường và sức khỏe con người. Phương pháp này hạn chế hoặc loại bỏ việc sử dụng các hóa chất tổng hợp, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học. Thay vào đó, NNHC sử dụng các biện pháp canh tác tự nhiên, thân thiện với môi trường.
Giáo trình Nông nghiệp hữu cơ, Trường Đại học Nông Lâm có viết: NNHC là phương thức sản xuất nông nghiệp dựa trên các nguyên tắc sinh thái, tận dụng các nguồn tài nguyên sẵn có trong tự nhiên để đảm bảo sự cân bằng sinh thái và bền vững của hệ thống sản xuất (GS.TS Nguyễn Thế Đặng và cộng sự, 2012). Liên đoàn Quốc tế các Phong trào Nông nghiệp hữu cơ - International Federation of Organic Agriculture Movements (IFOAM, 2008) đã đưa ra định nghĩa về NNHC như sau: NNHC là một hệ thống sản xuất nhằm duy trì sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người. Canh tác hữu cơ dựa vào quá trình sinh thái, đa dạng sinh học và chu kỳ thích ứng với điều kiện địa phương, thay vì sử dụng các yếu tố đầu vào có tác động tiêu cực. NNHC có sự kết hợp giữa phương thức truyền thống và sự đổi mới, khoa học kỹ thuật để từ đó mang lại lợi ích cho môi trường chung và thúc đẩy các mối quan hệ công bằng cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người.
Mặc dù các định nghĩa đưa ra là khác nhau, nhưng tất cả đều cho rằng canh tác hữu cơ là một phương thức sản xuất thân thiện với môi trường và là một phương pháp sản xuất hướng tới nông nghiệp bền vững (Scofield 1986; Bowler 1992).2 Nhận thức cá nhân Do yêu cầu của lao động và cuộc sống, con người thường xuyên tiếp xúc với những hiện tượng sự vật mới, từ đó con người cần nhận thức được các nét cơ bản của sự vật hiện tượng xung quanh mình. Chúng ta có thể tiếp cận với nhiều cách hiểu về cách hiểu về nhận thức. Theo từ điển triết học (1764): “Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện tượng ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển của xã hội và gắn liền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiễn, nhận thức cá nhân phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân lý khách quan”. 7 Đời sống tâm lý con người có ba mặt: nhận thức, tình cảm và hành động.
Trong đó nhận thức là một quá trình vô cùng quan trọng. Hoạt động nhận thức là hoạt động mà trong kết quả con người có được các hiểu biết về thế giới xung quanh, về chính bản thân mình để bày tỏ thái độ và tiến hành thực hiện các hoạt động khác một cách có hiệu quả. Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau và cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã hội. Quá trình nhận thức có hai giai đoạn: Giai đoạn nhận thức cảm tính là giai đoạn bắt đầu của quá trình nhận thức.
Trong giai đoạn này, con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm đánh giá và nắm bắt được sự việc. Nhận thức cảm tính bao gồm các giai đoạn sau: cảm giác, tri giác, biểu tượng. Giai đoạn nhận thức lý tính (hay gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật. Tuy duy trừu tượng bao gồm các giai đoạn sau: khái niệm, phán đoán, suy luận.
Tóm lại, nhận thức là cơ sở, nền tảng cho mọi sự hiểu biết, kiến thức, tư duy của con người, nếu không có nhận thức thì con người mãi mãi sẽ không thể tiến tới cuộc sống phát triển, phồn vinh như ngày hôm nay.3 Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa, chỉ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu nào đó và được biểu diễn bằng tiền (Phan Thị Bảo Giang, 2010). Trong quá trình kinh doanh, việc xác định và dự đoán chi phí sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, tài sản, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất bao gồm: Chi phí cơ hội, chi phí kế toán, chi phí sản xuất trong ngắn hạn, chi phí sản xuất trong dài hạn.4 Chính sách hỗ trợ của Chính phủ Chính sách hỗ trợ của Chính phủ dựa trên chủ trương, hệ thống chính sách của Chính phủ là yếu tố hỗ trợ và khuyến khích nông dân tuân thủ hoặc hành xử phù hợp với chính sách đó (Yanakottkul và Aungvaravong, 2020). Chính phủ ban hành Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ, trong đó quy định cụ thể chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ (Văn phòng Chính phủ, 2018).
Trong nghị định về chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ, ưu tiên áp dụng kinh phí cho thực hiện các đề tài nghiên cứu, dự án khuyến nông, liên quan đến thuốc bảo vệ thực vật sinh học, phân bón hữu cơ, giống kháng sâu bệnh. Cơ sở sản xuất kinh doanh sản phẩm hữu cơ và vật tư đầu vào phục vụ cho sản xuất hữu cơ được ưu tiên hưởng các chính sách khuyến khích đầu tư đối với nông nghiệp hữu cơ. Bên cạnh đó là những chính 8 sách về giống, vốn và công nghệ trong nuôi trồng, khai thác nông sản; chính sách hỗ trợ xúc tiến phát triển thương mại, xây dựng thương hiệu; các chính sách có liên quan khác.5 Chuẩn chủ quan Chuẩn chủ quan là nhận thức của cá nhân về áp lực xã hội trong việc thực hiện hay không thực hiện một hành vi (Ngô Vũ Quỳnh Thi, 2022). Người ta sẽ có khuynh hướng hành động theo những chuẩn mực được quy ước ở trong cộng đồng mà họ đang sống.
Chính vì vậy nếu họ thấy những người xung quanh hay những người mà họ tín nhiệm thực hiện hành vi đó thì khả năng họ có khuynh hướng chấp nhận hành vi đó sẽ cao hơn. Điều này cũng áp dụng trong trường hợp sản xuất nông nghiệp hữu cơ (Nguyễn Thị Mai, 2021). Ajzen và Fishbein (1975) cho rằng, chuẩn chủ quan có thể được hình thành thông qua cảm nhận các niềm tin mang tính chuẩn mực từ những người hoặc các nhân tố xã hội có ảnh hưởng đến bản thân cá nhân. Chuẩn chủ quan là một chuẩn mực hành vi cá biệt được theo sau bởi một nhóm xã hội (Coleman, 1990).
Nghĩa là, chuẩn chủ quan là thước đo áp lực của nhóm xã hội mà cá nhân đó phải tính đến trước lúc đưa ra quyết định hành vi (Venkatesh & Davis, 2000). Ajzen (1991) chỉ ra áp lực xã hội và động cơ tuân thủ là các chức năng cơ bản của chuẩn chủ quan. Trong nghiên cứu thực phẩm hữu cơ việc lựa chọn sản xuất hay không sản xuất sản phẩm hữu cơ thì bản thân người nông dân đều nhận được sự đánh giá của họ cho là quan trọng.6 Lợi ích trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ Lợi ích là sự thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người mà sự thỏa mãn nhu cầu này phải được nhận thức và đặt trong mối quan hệ xã hội ứng với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội đó, lợi ích đó có thể là lợi ích vật chất, có thể là lợi ích tinh thần (Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin, 2021). Lợi ích của sản xuất NNHC là lợi ích mà nông dân thu được khi thực hiện sản xuất và canh tác nông nghiệp hữu cơ mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất đồng thời đem lại những sản phẩm nông nghiệp không có hóa chất độc hại và làm tăng giá trị dinh dưỡng của sản phẩm, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, sản xuất NNHC giúp bảo vệ môi trường làm hệ sinh thái tự nhiên cân bằng và duy trì đa dạng sinh học.7 Nhận thức về rủi ro Khái niệm nhận thức về rủi ro được giới thiệu bởi Bauer (1960). Nhận thức về rủi ro được định nghĩa là nhận thức của người sản xuất về sự không chắc chắn và mang lại hậu quả tiêu cực khi sản xuất nông nghiệp thông thường so với nông nghiệp hữu cơ dựa trên việc đánh giá các kết quả tiêu cực và xác suất xảy ra kết quả này. Ở thái độ của người sản xuất, cảm nhận về rủi ro được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nhận thức rủi ro từ kết quả thực hiện không tốt, không đúng, nguy hiểm, rủi ro sức khỏe và chi phí.
Hoặc “cảm nhận rủi ro là sự không chắc chắn hoặc các kết cục tiêu cực của việc sản xuất một sản phẩm hoặc dịch vụ" (Dowling và Staelin, 1994).8 Lợi thế canh tác của đồng bằng sông Hồng 9 Lợi thế canh tác của đồng bằng sông Hồng là những lợi ích mà người sản xuất cảm nhận được khi so sánh sản xuất NNHC ở đồng bằng sông Hồng với các vùng địa điểm khác. Nếu lợi ích đó có sự khác biệt thì khuynh hướng lựa chọn cũng rõ ràng hơn (Le Dang và cộng sự, 2014; Aubert và cộng sự, 2012).