chương 1 thì đề tài luận văn trình bày tiếp 4 chương. Chương 2 sẽ giới thiệu cơ sở lý luận về nghèo, trong chương này trình bày các quan niệm về nghèo, xác định chỉ tiêu đo lường nghèo, xác định ngưỡng nghèo, các thước đo nghèo thông dụng, các nguyên nhân dẫn đến nghèo ở Việt Nam và các quốc gia khác, từ đó rút ra khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu cho Vùng. Chương 3 sẽ trình bày sơ lược địa bàn nghiên cứu, phương pháp phân tích và nguồn số liệu cần thiết cho mô hình kinh tế lượng. Chương 4 trình bày kết quả phân tích mối tương quan giữa nghèo và các nhân tố kinh tế, xã hội, hạ tầng cơ sở và phân bổ nguồn lực của Vùng.
Chương 5 sẽ đưa ra một số kiến nghị về chính sách về giảm nghèo cho Vùng. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO 2.1 Các quan niệm về nghèo Nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu và đang thu hút nỗ lực chung của cả cộng đồng quốc tế nhằm từng bước nâng cao phúc lợi cho người dân. Tuy nhiên, rất khó có thể đưa ra một khái niệm chung, thống nhất thế nào là nghèo. Rất nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này đã cố gắng đưa ra các khái niệm khác nhau về nghèo, trong bài viết này tác giả tổng hợp và đưa ra một 4 vài quan điểm về nghèo của các nghiên cứu trước và sẽ lựa chọn một khung phân tích thích hợp cho nghiên cứu luận văn.
Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức ở Thái Lan năm 1993, “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Theo Ravallion (1994), “nghèo là một hay nhiều cá nhân trong xã hội đó không có được một mức phúc lợi kinh tế được coi là cần thiết để đảm bảo một cuộc sống tối thiểu hợp lý theo tiêu chuẩn của xã hội đó”. Sen (1999), “khả năng mà một con người có được, là quyền tự do đáng kể mà họ được hưởng, để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn”. World Bank (1990), “nghèo là tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng”.
Đến năm 2000/2001 Báo cáo đã thêm vào khái niệm những nét mới như tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tính dễ bị tổn thương: “xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng. Nghèo là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường. Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ.
5 Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra bền lề xã hội nên không có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế đó”. RPGA (2003), nhận thức về đói nghèo của nhóm những người nghèo ở vùng ven biển Miền trung và Tây nguyên: “ một hộ nghèo có nghĩa là có một ngôi nhà xây tạm bợ (không mái ngói, không tường gỗ), thường xuyên có người ốm, không có hoặc có ít gia súc, không có vốn để kinh doanh, thiếu kinh nghiệm kinh doanh, không có tài sản có giá trị (không có xe đạp), có mảnh đất nhỏ và cằn cỗi, có quá nhiều con nhỏ, là người già và cô đơn, bị mất mùa hoặc có thuyền đánh cá không may mắn, không có đủ thức ăn cho quá ba tháng và phải kiếm củi hoặc làm thuê để sống qua ngày”. Trong báo cáo đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Quảng Trị (2003), mọi người tham gia phỏng vấn đều cho rằng nghèo còn biểu hiện ở khía cạnh nguồn lực của cải, với hộ nghèo nhất được coi là những hộ thiếu thốn mọi mặt. Không có tài sản, nhà ở tạm bợ, thiếu phương tiện làm ăn (trâu, bò, cày kéo), đông con, gia đình có người tàn tật, ốm đau, cô đơn,.
đó là biểu hiện của những người nghèo. Tóm lại, có rất nhiều quan niệm về nghèo khác nhau, tuy nhiên nghèo luôn phản ánh những khía cạnh cơ bản sau: - Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; - Không được thụ hưởng những nhu cầu dịch vụ cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng; - Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro trong cuộc sống; - Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. 6 Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng khái niệm nghèo của Rowtree (1901), nghèo là tình trạng thiếu một số lượng tiền cần thiết để có thể duy trì cuộc sống.2 Đo lường nghèo Theo Pradhan và Ravallion (1998), để xác định nghèo cần thực hiện 3 bước. Thứ nhất, lựa chọn một tiêu chí nghiên cứu và chỉ số phản ánh phúc lợi.
Thứ hai, xác định một giá trị chuẩn tối thiểu để phân biệt nhóm nghèo và nhóm không nghèo (gọi là ngưỡng nghèo). Thứ ba, chọn ra một thước đo nghèo được sử dụng để phản ánh cho tổng thể hoặc một nhóm dân cư.1 Xác định chỉ số phúc lợi Theo World Bank (2005), có một số phương pháp tiếp cận đo lường phúc lợi. Phương pháp tiếp cận phổ biến nhất trong đo lường phúc lợi kinh tế là chi tiêu dùng hay thu nhập của hộ gia đình. Khi chia cho số thành viên trong hộ gia đình thì được chi tiêu tiêu dùng bình quân đầu người hay thu nhập bình quân đầu người.
Đo lường phúc lợi nói chung thì phức tạp hơn nhiều, nó rộng hơn chỉ số phúc lợi kinh tế, bởi phúc lợi bao gồm tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, tuổi thọ trung bình, tỉ lệ chi tiêu dành cho thực phẩm, điều kiện nhà ở, tỉ lệ trẻ em đến trường (WB, 2005 – trang 24). Các nước phát triển hầu hết đo lường nghèo thường sử dụng chỉ tiêu thu nhập, trong khi các nước đang phát triển sử dụng chi tiêu. Ở các nước phát triển, thu nhập dễ dàng xác định vì đa phần đến từ tiền lương trong khi chi tiêu thì phức tạp và khó đo lường. Mặt khác, ở các nước đang phát triển thu nhập thì khó khăn trong đo lường vì nó xuất phát từ công việc tự làm, trong khi chi tiêu đơn giản và dễ dàng để ước tính hơn (WB, 2005 – trang 36).
7 Theo Alderman và Paxson (1994) và Paxson (1993), ở các nước kém phát triển, thu nhập của hộ thường biến động theo mùa vụ trong khi chi tiêu dùng tương đối ổn định giữa các tháng trong năm. Vì thế, chi tiêu dùng phản ánh mức sống của hộ tốt hơn con số thu nhập (WB, 2005 – trang 28). Theo Atkinson, Rainwater và Smeedin (1995), chỉ số thu nhập chứa đựng một số sai sót. Trước tiên, khi đo lường trong thời gian ngắn, nó có thể nói giảm đi hoặc nói quá tiêu chuẩn sinh hoạt do các biến đổi đáng kể trong thu nhập theo thời gian (ví dụ như: do thu nhập theo thời vụ).
Thứ hai, đo lường thu nhập được mong đợi đánh giá không đúng sự thật về phúc lợi vì người dân có xu hướng báo cáo thấp thu nhập hoặc có những khó khăn trong xác định thu nhập của họ, nếu những kênh từ chính lao động và thu nhập của vốn đầu tư. Chi tiêu thường được coi là một chỉ số của các phúc lợi chung tốt hơn (vì hộ gia đình chi tiêu theo thời gian) và chứa đựng cái lỗi trong đo lường nhỏ hơn so với thu nhập. Ravallion (1992), việc đo lường thu nhập rất khó ở các quốc gia kém phát triển, vì người dân nơi đây chủ yếu tham gia vào các hoạt động phi thị trường và thu nhập của họ xuất phát từ nông nghiệp và phụ thuộc chủ yếu vào sự thay đổi mùa màng. Trong nhiều nghiên cứu, lựa chọn thước đo tại các nước phát triển là thu nhập trong khi đó ở các nước đang phát triển đó là chi tiêu.
Deaton (1997), ngoài việc sử dụng số liệu về chi tiêu, ta còn có thể sử dụng số liệu về thu nhập. Tuy vậy, có hai lý do khiến số liệu về chi tiêu ưu việt hơn. Thứ nhất, thu nhập chỉ làm tăng phúc lợi khi nó được sử dụng cho tiêu dùng chứ không phải cho tiết kiệm hay trả nợ. Điều này cho thấy chi cho tiêu dùng của hộ gia đình liên quan chặt chẽ đến phúc lợi hơn là thu nhập của hộ.
Thứ 8 hai, số liệu về thu nhập thường không chính xác, đặc biệt là ở những nước kém phát triển với phần lớn người lao động là tự hành nghề.2 Xác định ngưỡng nghèo World Bank (2005), ngưỡng nghèo (hay còn gọi là chuẩn nghèo) là ranh giới để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo. Có hai cách chính để xác định ngưỡng nghèo: Ngưỡng nghèo tuyệt đối: là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh. Phương pháp chung để xác định ngưỡng nghèo này là sử dụng một rổ các loại lương thực được coi là cần thiết để đảm bảo mức độ dinh dưỡng tốt cho con người. Rổ lương thực đó sẽ tính đến cả cơ cấu tiêu dùng lương thực của các hộ gia đình đặc thù của một nước.
Trên cơ sở đó có hai ngưỡng nghèo tuyệt đối sẽ được tính toán. Ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm: đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một gia đình có thể đủ mua một lượng lương thực thực phẩm để cung cấp cho mỗi thành viên trong hộ một lượng calo là 2100 calo một ngày. Ngưỡng nghèo này thường thấp vì nó không tính đến chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực khác. Ngưỡng nghèo chung: đo lường chi phí để mua đủ một lượng hàng hóa lương thực thực phẩm cung cấp lượng calo là 2100 calo và một số mặt hàng phi lương thực.
Trên bình diện quốc tế, NHTG đã tính toán ngưỡng nghèo tuyệt đối cho các nước thu nhập thấp là 1 đô la Mỹ/ngày, từ 2 đô la cho châu Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho 9 những nước công nghiệp. Để đảm bảo tính so sánh được giữa các nước, những ngưỡng nghèo này được tính theo ngang giá sức mua. Từ năm 1981, chuẩn nghèo toàn cầu được áp dụng ở mức thu nhập 1 USD/ngày.