Chương 1 trình bày các nội dung cơ bản về: lý do chọn chủ đề nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu; và, kết cấu nội dung nghiên cứu của luận án.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1 Về mặt thực tiễn Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp với nhiều thành phần bao gồm: dịch vụ phân phối du lịch, cơ sở hạ tầng giao thông- vận tải, lữ hành, nhà hàng khách sạn và các dịch vụ hỗ trợ khác… Các hoạt động của khu vực tư nhân và chính phủ đều tham gia vào ngành công nghiệp “không khói” này. Ở nước ta, từ sau “đổi mới” năm 1986 đã xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà Nước, các hoạt động kinh doanh có nhiều tiến triển tốt, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm tương đối tích cực… đã tạo nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi để các cá nhân, doanh nghiệp có thể thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh. Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN và sau đó là khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) vào những năm 90 của thế kỷ 20. Nước ta cũng đã tham gia nhiều diễn đàn lớn như: diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC)… và đến năm 2006 đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã và đang mở ra nhiều cơ hội, cũng như nhiều thách thức đối với cộng đồng doanh nghiệp và cả nền kinh tế.
Do đó, vấn đề phát triển kinh tế cần phải đảm bảo mang tính bền vững, thiết thực và hiệu quả đối với tất cả các ngành kinh tế nói chung, trong đó có ngành kinh tế du lịch. Đa số các quốc gia đều dựa vào ngành công nghiệp du lịch là nguồn chính để tạo nguồn thu, kích thích tăng trưởng kinh tế khu vực tư nhân và khu vực công. Phát triển du lịch được khuyến khích đồng bộ với các hình thức phát triển kinh tế khác như sản xuất, thương mại- dịch vụ hoặc xuất khẩu. Chen & Tsai (2007) cho rằng, du lịch được coi là một động lực để kích thích phát triển khu vực, lý do là nếu ngành này thành công, các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ có thể tăng được doanh thu từ 1 document, khoa luan16 of 98.
tai lieu, luan van17 of 98. khách du lịch tại các điểm đến; hoặc vấn đề giải quyết việc làm… Ngành kinh tế du lịch có vai trò hỗ trợ phát triển kinh tế- xã hội của đất nước: chuyển giao khoa học công nghệ, mời gọi đầu tư, giải quyết vấn đề việc làm, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần, khai thác hiệu quả nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của địa phương. Kinh tế du lịch cùng với các ngành kinh tế khác tạo thành mối liên kết, cùng hợp tác, cạnh tranh và phát triển. Theo Tổng cục Du lịch, ước tính sơ bộ năm 2017 Việt Nam đón được 12,9 triệu lượt khách quốc tế và phục vụ khoảng hơn 73 triệu lượt khách nội địa.
Năm 2018 Việt Nam đón được khoảng 15,6 triệu lượt khách quốc tế và 80 triệu lượt khách nội địa. Năm 2019, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước tính đạt 18 triệu lượt người, cụ thể hơn, khách đến bằng đường hàng không đạt 14,3 triệu lượt người; bằng đường bộ đạt 3,36 triệu lượt người; bằng đường biển đạt 264 nghìn lượt người (Duyên Duyên, 2019). Trong các phương thức du lịch đến Việt Nam của du khách quốc tế, ta thấy được lượng khách quốc tế đến Việt Nam chủ yếu là đường hàng không, chiếm tỷ trọng 79,8% so với các phương thức khác. Cũng theo Tổng cục Thống kê, trong năm 2020 lượng khách quốc tế đến Việt Nam chỉ đạt khoảng 3,7 triệu lượt người; khách du lịch nội địa đạt 56 triệu lượt người, kéo thu doanh thu ngành du lịch cũng sụt giảm; điển hình là các công ty vận tải, lữ hành, khách sạn, nhà hàng… (Trang Linh, 2021).
Như vậy, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, ta thấy được lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã giảm 79,5%; khách du lịch nội địa giảm 34,1% (so với năm 2019). Mặc dù Việt Nam chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid- 19, tuy nhiên đây là vấn đề chung toàn cầu, đến khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt (chẳng hạn: nghiên cứu thành công vaccin) thì nhìn chung du lịch vẫn là một trong những ngành kinh tế có vai trò chiến lược đối với sự phát triển của quốc gia.2 Về mặt lý thuyết Gitelson và Crompton (1984) nhận ra tầm quan trọng của phân khúc về những người du lịch quay lại nhiều lần điểm đến du lịch. Các ông thấy rằng nhiều khu vực điểm đến phụ thuộc rất nhiều vào các chuyến thăm lặp lại. Những nỗ lực tiếp thị dành cho việc phát triển và duy trì một lượng khách viếng thăm lặp lại của một nhóm khách hàng nên được quan tâm hàng đầu, bởi vì thị trường du lịch lặp lại rất quan trọng đối 2 document, khoa luan17 of 98.
tai lieu, luan van18 of 98. với điểm đến. Các nhà nghiên cứu thấy rằng, có 5 lý do mà du khách quay trở lại một điểm đến: (1) để giảm rủi ro bằng cách ở một điểm đến quen thuộc, (2) để giảm rủi ro bằng cách hiểu rõ cư dân địa phương, (3) để khám phá thêm nhiều nơi của điểm đến, (4) để gắn bó tình cảm với điểm đến, và (5) để chứng tỏ đã đến du lịch nơi này. Cũng theo các tác giả, qua so sánh giữa những người đi nghỉ (du lịch) nhiều lần và không lặp lại cho thấy rằng những khách du lịch lặp lại thì có nhiều khả năng đang tìm kiếm sự trải nghiệm văn hóa mới, trong khi những người đang tìm kiếm thư giãn sẽ có xu hướng chọn các địa điểm quen thuộc hơn đối với mình.
Ghé thăm lặp lại là một hiện tượng quan trọng trong du lịch, kể cả ở cấp độ nền kinh tế. Du khách quay lại chiếm hơn một nửa tổng số khách du lịch cho bất kỳ điểm đến nhất định nào (Wang, 2004), mang lại nguồn thu nhập ổn định (Cetinsoz và Ege, 2013) và có nhiều khả năng truyền miệng tích cực miễn phí (Kim và cộng sự, 2013). Hơn nữa, chi phí tiếp thị để thu hút du khách mới sẽ cao hơn so với làm hài lòng khách cũ (Alegre và Juaneda, 2006; Kim và cộng sự, 2013). Do đó, việc giảm chi phí tiếp thị thông qua việc tạo ra một thái độ tích cực của du khách cũ có thể là chìa khóa để tiếp thị điểm đến thành công.
Ý nghĩa của thị trường du lịch lặp lại quốc tế và nội địa đã được công nhận về mặt đóng góp kinh tế quan trọng về quy mô, về thị phần so với khách du lịch lần đầu. Đây cũng là mục tiêu của bất kỳ điểm đến nào để thu hút càng nhiều khách viếng thăm lặp lại càng tốt để giảm chi phí tiếp thị, thường ở mức hàng triệu đô la đối với nhiều tổ chức du lịch quốc gia (Tổ chức Lữ hành Châu Á Thái Bình Dương, 1997). Theo Darnell & Johnson (2001), một chuyến thăm hiện tại ảnh hưởng đến khả năng sẽ được họ viếng thăm lặp lại ở một số thời kỳ tiếp theo; cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng những người khác sau đó cũng sẽ ghé thăm do truyền miệng; hoặc, ý kiến của du khách về chuyến thăm của chính họ trước đây cũng góp phần định hình nhận thức cho những người khác để có thể thực hiện chuyến viếng thăm lần đầu tiên.3 Nhận xét và xác định khoảng trống các nghiên cứu trước đây (Quốc tế và Việt Nam) Kết quả tổng quan (ở Chương 2) đã giúp tác giả có cái nhìn tổng thể về chủ đề và xu hướng nghiên cứu ý định quay lại điểm đến du lịch, cả ở Quốc tế và Việt Nam. Có thể nói, các nghiên cứu trước đây tuy vận dụng các cách tiếp cận lý thuyết khác 3 document, khoa luan18 of 98.
tai lieu, luan van19 of 98. nhau nhưng đều cố gắng giải thích tâm lý, hành vi của du khách đối với điểm đến du lịch (thể hiện qua các thuật ngữ lựa chọn điểm đến; sự hài lòng; lòng trung thành điểm đến; hay, ý định quay lại điểm đến). Mặc dù chủ đề nghiên cứu vẫn có một số ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên cứu, tuy nhiên, đa phần các đóng góp của nghiên cứu tạo ra sự đồng thuận về một số nhóm yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chuyến thăm lặp lại điểm đến của du khách (xem Phụ lục 01 và 02). Nhìn chung, chủ đề nghiên cứu về ý định quay lại điểm đến được vận dụng lý thuyết với nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu vẫn có thể giải thích được ý định hành vi quay lại điểm đến của du khách.
Qua tổng quan lý thuyết về chủ đề này, tác giả xác định được một số cách tiếp cận nghiên cứu như sau: (1) Hướng tiếp cận về Sự hài lòng (kỳ vọng- xác nhận); (2) Hướng tiếp cận về Chất lượng dịch vụ; (3) Hướng tiếp cận về lòng trung thành; (4) Hướng tiếp cận về Hình ảnh điểm đến; (5) Hướng tiếp cận về ý định hành vi (lý thuyết hành vi dự định có kế hoạch); (6) Hướng tiếp cận kết hợp nhiều lý thuyết để cùng giải thích ý định quay lại; (7) Hướng tiếp cận đặc thù khác (một số nhân tố mới).4 Sự cần thiết tiếp tục nghiên cứu Đồng bằng sông Cửu Long là vùng cực nam của Việt Nam, còn được gọi là vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ, với tổng diện tích tự nhiên 39.734 km² chiếm 12,2% diện tích tự nhiên của V i ệ t N a m , p hía Bắc giáp Campuchia, phía Tây và Đông Nam tiếp giáp với Biển Đông. Đây là vùng đồng bằng châu thổ với hệ thống sông ngòi chằng chịt; tiếp giáp với biển cùng với địa hình đa dạng (đồng bằng, núi, các đảo ven bờ…) và các điều kiện tự nhiên sẵn có, đồng bằng sông Cửu Long có nhiều cơ hội để phát triển du lịch. Với vị trí địa lý gần kề với TP. HCM- là cầu nối giao thương giữa đồng bằng sông Cửu Long với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giúp đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thuận lợi trong việc liên kết phát triển kinh tế- xã hội với các vùng khác của Việt Nam.
Ngoài ra, đồng bằng sông Cửu Long còn dẫn đầu cả nước về nhiều mặt hàng nông sản (đặc biệt là lúa gạo) nên cũng góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước.