CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả lược khảo lại các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Để từ đó tác giả đưa ra được nhận xét về kết quả mà các nghiên cứu trước đã tìm được và từ đó xác định khe hổng nghiên cứu. Kết cấu của chương này như sau: Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Tổng quan các nghiên cứu trong nước 1.
Tổng quan các nghiên nước ngoài Nghiên cứu của Khaked Abed Hutaibat (2005) “Management accounting practices in Jordan: A contingency approach”, đối tượng nghiên cứu là các công ty ngành công nghiệp ở Jordan, mẫu khảo sát tại công ty quy mô vừa và lớn .Với Luận văn thạc sĩ Kinh tế phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, tác giả đã chỉ ra việc vận dụng KTQT bị ảnh hưởng bởi: quy mô DN, lĩnh vực kinh doanh, mức độ cạnh tranh, và mức độ sở hữu cổ đông nước ngoài. Tiếp đến là nghiên cứu của Ismail, N.A and King, M, (2007) “Factors influencing the alignment of accounting informatin systems in small and medium sized Malaysian manufacturing firms”. Tác giả cũng đưa ra kết quả các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT gồm: quy mô doanh nghiệp, mức độ tác động của công nghệ thông tin lên quy trình vận hành DN, trình độ nhân viên kế toán, mức độ cạnh tranh. Điểm giống với nghiên cứu của Khaked Abed Hutaibat(2005) là hai biến quy mô doanh nghiệp và mức độ cạnh tranh có ảnh hưởng tích cực đến việc vận dụng KTQT.
Điểm đặc biệt của nghiên cứu này là cho ra kết quả nhân tố trình độ nhân viên kế toán có tác động đến việc áp dụng KTQT. Nghiên cứu của Magdy Abdel-Kader và Robert Luther (2008) đăng trên tạp chí British Accouting Review “The impact of firm characteristics on management accounting practices: A UK-based empirical analysis”. Các tác giả đã thực hiện 8 nghiên cứu thông qua việc khảo sát các DN trong lĩnh vực sản xuất đồ uống và thực phẩm ở Anh. Trong công trình nghiên cứu này, họ đã xem xét ảnh hưởng của 10 khía cạnh của các đặc điểm bên trong và bên ngoài DN lên việc thực hiện KTQT trong các công ty riêng lẻ và chia làm ba nhóm đặc trưng của DN đó là: Nhóm đặc điểm bên ngoài: (1) tính không chắc chắn của môi trường; (2) quyền lực của khách hàng.
Nhóm đặc điểm của tổ chức: (3)chiến lược cạnh tranh; (4) phân quyền; (5) quy mô doanh nghiệp. Nhóm đặc điểm về quy trình sản xuất: (6) sử dụng hệ thống sản xuất phức tạp; (7) mức độ áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến (AMT); (8) thực hiện quản trị chất lượng toàn diện (TQM); (9) thực hiện hệ thống sản xuất tức thời (JIT) và (10) tính mau hỏng của sản phẩm. Và sau khi tác giả tiến hành gửi bảng câu hỏi khảo sát đến 650 công ty thuộc ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống họ đã thu về 245 bảng câu hỏi hoàn tất để Luận văn thạc sĩ Kinh tế sử dụng phân tích. Bảng khảo sát được gửi đến hai nhóm đối tượng khảo sát: bộ phận KTQT và bộ phận quản lý sản xuất làm cho kết quả nghiên cứu được khái quát hơn.
Kết quả nghiên cứu, tác giả nhận thấy 7 trong số 10 nhân tố này tác động tích cực để thực hành kế toán quản trị; còn lại ba nhân tố không tác động đến thực hành kế toán quản trị trong các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống tại Anh gồm: (3) chiến lược cạnh tranh; (4) sử dụng hệ thống sản xuất phức tạp; (10) tính mau hỏng của sản phẩm. Trong đó đáng chú ý nhất là biến: (10) tính mau hỏng của sản phẩm, biến này chưa được các nhà nghiên cứu trước đây đề cập đến nên tác giả cho rằng đây sẽ là biến tiềm năng ảnh hưởng lớn đến việc vận dụng KTQT, nhưng dữ liệu phân tích cho kết quả lại trái với kỳ vọng ban đầu. Nghiên cứu của tác giả đã đưa ra nhiều biến khác nhau thuộc ba nhóm đặc điểm mang lại một kết quả đáng tin cậy về các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT. Điểm mới của nghiên cứu này so với các công trình nghiên cứu trước đó là tác giả đã đưa ra hai biến chưa được đề cập đến trong các nghiên cứu trước đây: (2) quyền lực khách hàng và (10) tính mau hỏng của sản phẩm.
9 Nghiên cứu của Tuan Zainun Tuan Mat (2010) “Manangement acccounting and organizational change: impact of alignment of management acccounting system, structure and strategy on performance”, nghiên cứu này chỉ ra tác động giữa KTQT và sự thay đổi về hiệu suất trong các công ty sản xuất ở Maylaysia. Kết quả nghiên cứu cho ra các nhân tố: cấu trúc phân quyền trong doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh, công nghệ sản xuất tiên tiến có tác động đến việc vận dụng KTQT. So với nghiên cứu của tác giả Magdy Abdel Kader và Robert Luther (2008) thì tương đồng về nhân tố: cấu trúc phân quyền trong doanh nghiệp. Điểm mới của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước đây là chỉ ra 2 nhân tố mới là: CNSXTT, chiến lược kinh doanh có tác động đến việc áp dụng KTQT.
Biến CNSXTT lại được Ông Kamilah Ahmad (2012) kiểm định trong công trình nghiên cứu mang tên “Factors Explaining the Extent of Use of Management Accounting Practices in Malaysian Medium Firms”. Để thực hiện nghiên cứu, các tác giả đã gửi bảng câu hỏi khảo sát cho 1.000 doanh nghiệp nhỏ ở Malaysia trong Luận văn thạc sĩ Kinh tế lĩnh vực sản xuất, thu về 160 bảng câu hỏi được trả lời hợp lệ và sử dụng chúng để tiếp tục nghiên cứu, để xác định các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ vận dụng kế toán quản trị với kết luận như sau: Trong các DNNVV tham gia khảo sát thì sử dụng các công cụ kỹ thuật KTQT truyền thống nhiều hơn các công cụ kỹ thuật KTQT hiện đại. Cụ thể là các công cụ kỹ thuật truyền thống như: hệ thống chi phí, hệ thống dự toán và hệ thống đánh giá hiệu quả được vận dụng nhiều hơn các công cụ kỹ thuật hiện đại như hệ thống hỗ trợ cho việc ra quyết định và KTQT chiến lược. Các DNNVV có quy mô vừa vận dụng hầu hết các công cụ KTQT hơn là các DNNVV có quy mô nhỏ, sự khác nhau thể hiện ở các công cụ hiện đại.
KTQT đóng một vai trò quan trọng trong công tác quản trị trong các DNNVV, đặc biệt là công cụ kỹ thuật bao gồm hệ thống đánh giá hiệu suất và các hoạt động kiểm soát. Tác giả đưa ra giả thuyết cả năm nhân tố trên đều có ảnh hưởng tích cực đến việc áp dụng KTQT là: (1) quy mô DN, (2) mức độ cạnh tranh trên thị trường, (3) 10 nhận thức của người chủ DN/người quản lý doanh nghiệp; (4) áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến; (5) trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán. Trong quá trình tác giả nghiên cứu đã tiến hành xử lý số liệu thu thập được, phân tích mô tả, thử nghiệm chi-bình phương và thử nghiệm phi tham số để kiểm tra các giả thuyết đã đưa ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có nhân tố (5) trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán thì không ảnh hưởng, kết quả này trái ngược với kết quả nghiên cứu Ismail, N.A and King, M, (2007), còn lại bốn nhân tố đầu tiên là tác động tích cực đến việc áp dụng KTQT.
Kết quả trên đồng nhất với Tuan Zainun Tuan Mat (2010) và tương đối phù hợp với giả thuyết đưa ra cũng như nghiên cứu của Magdy Abdel-Kader và Robert Luther (2008), điểm mới là tác giả đã chỉ ra hai nhân tố mới tác động lên việc vận dụng KTQT là: (2) mức độ cạnh tranh trên thị trường và (3) nhận thức của người chủ DN/người quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên lại cho kết quả trái ngược với kết quả nghiên cứu của Alper Erserim (2012) về nhân tố mức độ cạnh tranh trên thị Luận văn thạc sĩ Kinh tế trường. Đến năm 2015, đồng tác giả Kamilah Ahmad, Shafie Mohamed Zabri nghiên cứu về “Factors explaining the use of management accounting practices in Malaysian medium-sized firms”. Mục đích của nghiên cứu này là để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng KTQT (MAPs) trong các DN vừa và nhỏ của Malaysia trong lĩnh vực sản xuất.
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định lượng, theo đó tác giả đã gửi bảng câu hỏi khảo sát đến 500 DN vừa và nhỏ của Malaysia trong lĩnh vực sản xuất để điều tra ảnh hưởng của các nhân tố chính đến MAPs, kết quả thu về 110 bảng khảo sát hợp lệ để sử dụng cho nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty, mức độ cạnh tranh thị trường, cam kết của chủ sở hữu / người quản lý, CNSXTT có ảnh hưởng đáng kể đến MAPs. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng có hạn chế là chỉ tập trung vào các doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực sản xuất, do đó kết quả nghiên cứu thực nghiệm có thể thiếu tính tổng quát đối với tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Malaysia (SMEs). Nghiên cứu này lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT, và 11 cung cấp một sự hiểu biết sâu hơn về MAPs trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nghiên cứu này tương đồng với kết quả của Kamilah Ahmad (2012). Nghiên cứu của đồng tác giả Leite, Akaísa Afonso Fernandes, Paula Odete Leite, Joaquim Mendes (2016) “Contingent factors that influence the use of management accounting parcices in the Portuguese textile and clothing sector”. Tác giả khảo sát 58 công ty ngành công nghiệp dệt may và quần áo thuộc Hiệp hội Dệt may Bồ Đào Nha (ATP). Tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu năm nhân tố: (1) cạnh tranh, (2) sự đa dạng sản phẩm, (3) quy mô của tổ chức, (4) tầm quan trọng của chi phí thông tin đối với quyết định, và (5) CNSXTT với việc áp dụng KTQT.
Các giả thuyết của mô hình phân tích được hỗ trợ bởi lý thuyết dự phòng. Kết quả nghiên cứu cho ra 4 nhân tố tác động đến việc áp dụng KTQT ngoại trừ biến: (4) tầm quan trọng của chi phí thông tin đối với quyết định là không có ý nghĩa thống kê. Nhân tố: CNSXTT ảnh hưởng tích cực và trực tiếp. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của các tác giả Kamilah Ahmad (2012), Tuan Zainun Tuan Mat (2010), Luận văn thạc sĩ Kinh tế Kamilah Ahmad, Shafie Mohamed Zabri (2015).