Chương 1: SXNN đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt ở vùng ĐBSCL thì lúa là cây trồng chủ yếu tạo ra thu nhập trong SXNN. Những rủi ro trong SXNN đã gây thiệt hại mỗi năm hàng nhìn tỷ đồng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 BHNN theo chỉ số khắc phục được những rủi ro đó. Hiện nay chưa có nghiên cứu nào thực hiện ở huyện Châu Phú về xác định các nhân tố ảnh hưởng đến WTJ và xác định WTP trong BH cây lúa.Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến WTJ và xác định WTP cho BH cây lúa.
Số liệu từ dự án nghiên cứu của Thầy Phùng Thanh Bình. Sử dụng mô hình giá sẵn lòng trả trong nghiên cứu.Phương pháp xử lý là thống kê mô tả, đánh giá ngẫu nhiên CVM và phương pháp xây dựng câu hỏi IB. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình lý thuyết áp dụng cho nghiên cứu. Trong đó có hai mô hình nghiên cứu khác nhau: (i) Mô hình sẵn sàng tham gia (WTJ) mua bảo hiểmvới biến phụ thuộc WTJ xác định việc tham gia mua bảo hiểm của nông hộ trồng lúa và các yếu tố có ảnh hưởng tăng hay giảm đến quyết định tham gia này; (ii) Mô hình sẵn sàng trả (WTP) cho việc mua bảo hiểm với biến phụ thuộc WTP là ý định xác định mức phí bảo hiểm mà nông hộ có thể sẵn sàng chi trả cho việc mua bảo hiểm cây lúa và các yếu tố có ảnh hưởng tăng hay giảm đến quyết định này.Đồng thời trình bày bảng câu hỏi điều tra khảo sát, thu thập số liệu, số lượng mẫu.
LÝ THUYẾT VỀ LỰA CHỌN BẤT LỢI VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC. Thuật ngữ lựa chọn bất lợi (adverse selection) thường được sử dụng trong ngành bảo hiểm.Bảo hiểm rủi ro về các loại cây trồng ở Mỹvà một số nước khác trên thế giới thường bị thất bại trên khía cạnh thương mại, do các khoản bồi thường bảo hiểm vượt quá thu nhập và chi phí hành chính, thậm chí trong những năm thời tiết tốt, sự thất bại của rủi ro bảo hiểm cây trồng này chủ yếu vấn đề lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại). Rủi ro đạo đức có nghĩa là người mua bảo hiểm có thể thay đổi hành vi sau khi đã mua bảo hiểm sao cho vẫn đạt được mức tối ưu cần thiết, bởi vì bảo hiểm là làm giảm sự mất mát liên quan, những sự thay đổi đó có thể làm tăng xác suất xảy ra sự cố hoặc làm tăng mức độ nghiêm trọng của sự mất mát; trong khi lựa chọn bất lợi có nghĩa là những người thường có khả năng xảy ra những rủi ro, mất mát thì sẵn sàng cho việc mua bảo hiểm. Nếu công ty không phát hiện những người như vậy thì thiệt hại sẽ xảy ra.Ví dụ: một nông dân trì hoãn ngày trồng cây để chờ thông tin về thời tiết, nếu họ có thông tin về thời tiết tốt họ sẽ triển khai trồng cây mà không cần mua bảo hiểm; ngược lại họ vẫn sẽ triển khai trồng cây nhưng có mua bảo hiểm cây trồng (lựa chọn bất lợi); nhưng khi đã lựa chọn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 mua bảo hiểm rồi, nông hộ có thể sẽ không chăm sóc tốt cây trồng và tìm giải pháp né tránh các rủi ro như khi họ không mua bảo hiểm (rủi ro đạo đức)(Quiggin và cộng sự, 1993).
BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP VÀ CÁC RỦI RO THƯỜNG XẢY RA 2. Rủi ro và giảm thiểu rủi ro trong nông nghiệp Cộng đồng nông thôn ở các nước đang phát triển thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro trong cuộc sống hàng ngày,hầu hết trong số họ có liên quan đến sinh kế nông nghiệp; trong khi việc sản xuất nông nghiệp thì thường phải đối mặt với nhiều rủi ro chủ yếu do thời tiết gây ra như sâu bệnh, ngập lụt, giông bão, hạn hán,…. và thu nhập không chắc chắn do ảnh hưởng giá cả đầu ra (Trang, 2013). Trọng tâm của nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào những rủi ro nói trên và việc bảo hiểm cây lúa.
Theo Smith and Watts (2009), những hộ giàu có khả năng tự đảm bảo cuộc sống của họ thông qua những tài sản dự trữ như tiền tiết kiệm gửi ngân hàng, việc kinh doanh khác,… trong khi những hộ nông dân sống phụ thuộc chủ yếu vào SXNN như cây trồng và thường đối mặt với giảm năng suất cây trồng do rủi ro về thời tiết hoặc những cú sốc trong sản xuất nên gây thiệt hại lớn về thu nhập. Những hộ nông dân này sẵn sàng bỏ ra một số chi phí để đối phó hoặc giảm thiểu những rủi ro và các cú sốc gây thiệt hại cho thu nhập của họ. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc những hộ nông dân sẵn sàng bỏ ra chi phí để giảm thiểumột phần hoặc hoàn toàn những thiệt hại do rủi ro về thời tiết hoặc các cú sốc khác như: (i) Quy mô, kích thước của những mất mát tiềm năng có thể xảy ra gây tổn thất lớn đến thu nhập, tài sản của hộ dân. Ví dụ: ở các nước giàu như Nhật, Úc thì họ có thể sẽ không mua bảo hiểm cho chiếc xe đạp vì giá trị không lớn đối với thu nhập của họ, nhưng họ sẵn sàng bỏ ra chi phí mua bảo hiểm cho việc rò rỉ khí gas gây cháy nhà vì ảnh hưởng lớn đến thu nhập của họ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 (ii) Một yếu tố quan trọng thứ hai là tần suất xảy ra những thiệt hại làm biến động sản lượng cây trồng.Khi thiệt hại không xảy ra thường xuyên (khoảng 20-30 năm xảy ra một lần), mặc dù xảy ra thiệt hại lớn thì những hộ nông dân không muốn bỏ ra những chi phí để giảm thiểu những rủi ro, thiệt hại tiềm năng này; nhưng khi những thiệt hại xảy ra thường xuyên, mặc dù gây thiệt hại nhỏ thì những hộ nông dân sẵn sàng bỏ ra một mức phí để giảm nhẹ thiệt hại. (iii) Mức độ nghiêm trọng dự kiến xảy ra gây tổn thất đáng kể. Những hộ dân có khả năng sẽ tìm cách để giảm thiểu rủi ro, mất mát khi những thiệt hại xảy ra lớn. (iv) Chi phí để giảm thiểu rủi ro.
Trong quyết định về việc có nên bỏ ra khoảng chi phí để mua bảo hiểm cho việc giảm thiểu rủi ro hay không, thì hộ nông dân sẽ cân nhắc chi phí bỏ ra có đem lại lợi ích mong muốn của họ không? (v) Phần thu nhập mà những hộ nông dân sẽ nhận lại được bao nhiêu khi bỏ ra khoản phí cho việc giảm thiểu rủi ro. Những hộ dân thích được bồi thường căn cứ vào những tổn thất thực tế họ phải gặp phải, tức là sản lượng và doanh thu của họ ở mức thấp. Một phần quan trọng khác là khi xảy ra thiệt hại thì họ cần được khoản bồi thường kịp thời. (vi) Cân nhắc giữa khoản phí bỏ ro để giảm thiểu rủi ro so với những chiến lược quản trị rủi ro thay thế.
Những nông hộ, trang trại nông nghiệp sẽ xem xét các chiến lược quản trị rủi ro của họ như đa dạng hoá cây trồng, đầu tư vào lĩnh vực khác trồng trọt như chăn nuôi, đầu tư thuỷ lợi, hoặc trồng ở những nơi khác nhau,… có rẻ tiền và hiệu quả hơn so với khoản phí bỏ ra để giảm thiểu rủi ro không? 2. Bảo hiểm cây trồng ở các nước đang phát triển. Những người ủng hộ bảo hiểm nông nghiệp như là một chiến lược đối phó rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, nó góp phần giúp nông dân có cách nhìn tốt hơn về thay đổi mô hình sản xuất sao cho có lợi, tăng đầu tư khoa học công nghệ, đầu tư nhiều hơn cho sản xuất, cải thiện thu nhập và đảm bảo nguồn cung cấp lương thực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 cho quốc gia. Khi có bảo hiểm nông nghiệp, các ngân hàng cũng tự tin hơn trong việc cho vay sản xuất nông nghiệp và có thể tăng tín dụng cho vay xứng đáng với khoảng thu nhập dự kiến của họ.
Chương trình bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu được thực hiện chủ yếu thông qua sự bao cấp của Chính phủ hoặc thông qua quan hệ đối tác công tư (PPP). Do vai trò quan trọng của nông nghiệp trong phát triển kinh tế và vấn đề rủi ro trong sản xuất nông nghiệp nên Chính phủ thường có sự can thiệp quản lý rủi ro. Thực tế, bảo hiểm nông nghiệp thường nhận được sự trợ cấp lớn từ Chính phủ và có sự can thiệp mạnh mẽ. Các can thiệp bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu nhằm mục đích là: bảo vệ các hộ nông dân nghèo, các tổ chức tài chính cho vay sản xuất nông nghiệp, bảo đảm các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, giảm dự trữ tài chính cho thiên tai cứu trợ và phát triển mạng lưới an sinh xã hội tốt.
Trong lịch sử, việc thực hiện bảo hiểm cây trồng ở các nước thường bị thất bại do mức phí bảo hiểm thấp, xác định bảo hiểm nông nghiệp chưa rõ ràng giữa mục tiêu thương mại và xã hội, thiếu quản lý trong kiểm soát rủi ro và giám định tổn thất do thông tin bất cân xứng, chi phí giao dịch cao và khả năng thanh toán của các công ty bao hiểm khi xảy ra các thảm hoạ lớn. Tại Việt Nam, chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp dựa trên mối quan hệ phát triển đối tác công tư (PPP) và việc thực hiện bảo hiểm dựa vào chỉ số (Trang, 2013). Bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số. Bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số được đưa vào thí điểm ở Việt Nam như là một biện pháp bảo vệ thu nhập của người nông và sinh kế của họ trước những tác động không mong muốn từ môi trường bên ngoài.
Khi xảy ra rủi ro đối với một loại cây trồng cụ thể được bảo hiểm thì khoanh vùng thiệt hại và xác định mức giảm thu nhập(Phạm Khánh Nam, 2013). Theo website: www.org (2013), khi năng suất thực tế sụt giảm ít nhất 90% so với năng suất bình quân trong 3 mùa vụ tương ứng của 3 năm gần nhất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 và được cơ quan có tính pháp lý xác nhận do thiên tai dịch bệnh quy định trong hợp đồng thì sẽ được công ty bảo hiểm theo chỉ số năng suất bồi thường.