mở đầu: Chƣơng này trình bày lý do chọn đề tài; mục tiêu và câu hỏi; đối tƣợng và phạm vi; phƣơng pháp nghiên cứu; đóng góp và kết cấu luận án. Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu trƣớc: Chƣơng này trình bày tổng quan các nghiên cứu trƣớc trong và ngoài nƣớc; xác định khoảng trống và đƣa ra định hƣớng nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết: Chƣơng này trình bày và phân tích các khái niệm nền tảng nhƣ: quyết định DTKH, RRKT, RRKD của khách hàng, RRKD của CTKT, đặc điểm BQT, mức độ chuyên ngành của CTKT và phân tích một số lý thuyết nền, đề xuất mô hình sơ khởi. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu: Chƣơng này giới thiệu phƣơng pháp và quy trình nghiên cứu; thang đo các khái niệm nghiên cứu ban đầu; các phƣơng pháp cụ thể trong từng giai đoạn nghiên cứu.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu: Chƣơng này trình bày và bàn luận kết quả NC của luận án. Chƣơng 5: Kết luận, hàm ý và hạn chế của đề tài: Chƣơng này trình bày các kết luận và đề xuất một số hàm ý liên quan tới quyết định DTKH cho các CTKT và những hạn chế của đề tài. 8 HƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN ỨU TRƢỚ Trong quá trình kiểm toán, các CTKT có thể gặp phải rủi ro nhƣ là bị kiện tụng và gánh chịu hậu quả pháp lý rất cao nếu YKKT đƣa ra trên BCKT không phù hợp. Điều này làm cho các CTKT bị tổn thất về tài chính, sụt giảm uy tín và thậm chí có thể ngừng hoạt động.
Tại Hoa Kỳ, sau các sự cố Kế toán và Kiểm toán xảy ra từ những năm đầu thế kỷ 21, Luật Sarbanes - Oxley 2002 đƣợc Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn ngày 30/07/2002 trong đó có những nội dung liên quan đến trách nhiệm của KTV, nâng cao CLKT. Để nâng cao CLKT, đối phó với rủi ro kiện tụng ngày càng gia tăng, một trong những biện pháp mà các CTKT thực hiện là tăng cƣờng kiểm soát quy trình CNKH mới, DTKH cũ. Trong vài năm gần đây, nhiều nghiên cứu ở nƣớc ngoài đã tìm hiểu về chủ đề CN, DTKH, đặc biệt là về chủ đề các nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định CN, DTKH. Chƣơng này trƣớc tiên trình bày về tổng quan các NC trƣớc liên quan các nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định CN, DTKH.
Dựa trên cơ sở kết quả tổng quan, tác giả xác định các khoảng trống nghiên cứu. Phần cuối của chƣơng sẽ đƣa ra định hƣớng NC cho luận án. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc trên th giới về các nhân tố ảnh hƣởng đ n quy t định chấp nhận, duy trì khách hàng 1. Tổng quan các nghiên cứu chung về chấp nhận và duy trì khách hàng Các NC trƣớc về chủ đề này rất đa dạng, các dòng nghiên cứu chính gồm: các NC về các nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định CN, DTKH; các NC về mô hình ra quyết định CN, DTKH.1 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận, duy trì khách hàng Trong hơn hai thập kỷ qua, khá nhiều NC với các phƣơng pháp khác nhau đã tìm hiểu về các nhân tố ảnh hƣởng tới quyết định CN, DTKH.
Sự phát triển của các NC này có thể đƣợc chia thành ba giai đoạn tƣơng ứng với ba nhóm chủ đề chính nhƣ sau: 9 Giai đoạn đầu tiên (1) là giai đoạn NC về ảnh hƣởng của các nhân tố rủi ro (RRKT, RRKD của khách hàng, RRKD của CTKT) đến quyết định CN, DTKH. Trong đó, các NC nổi bật đó là: Huss và Jacobs (1991), Asare và Knechel (1995), Johnstone (2000); Johnstone (2001); Johnstone và Bedard (2003); Johnstone và Bedard (2004). Giai đoạn tiếp theo (2) là giai đoạn NC về ảnh hƣởng của đặc điểm BQT của khách hàng đến quyết định CN, DTKH. Trong đó, ảnh hƣởng của đặc điểm BQT của khách hàng đã đƣợc các nhà nghiên cứu xem xét trên nhiều khía cạnh nhƣ: HĐQT, UBKT (Cohen và Hanno, 2000; Lee và cộng sự, 2004; Sharma và cộng sự, 2008; El-Sayed Ebaid, 2011; Cassell và cộng sự, 2012).
Giai đoạn kế tiếp (3) là giai đoạn nghiên cứu về ảnh hƣởng của mức độ chuyên ngành của CTKT đến quyết định CN, DTKH. Trong đó, mức độ chuyên ngành đã đƣợc các nhà nghiên cứu kiểm tra theo hai hƣớng đó là: mức độ chuyên ngành của CTKT (Hertz, 2006; Cenker và Nagy, 2008; Hsieh và cộng sự, 2013; Hsieh và Lin, 2016) và mức độ chuyên môn của chủ phần hùn (Hsieh và Lin, 2016). Những năm gần đây, các NC về các nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định CN, DTKH vẫn tiếp tục đƣợc thực hiện. Trong đó, các nghiên cứu chú trọng đến xem xét ảnh hƣởng của các nhân tố thuộc RRKD của CTKT nhƣ ảnh hƣởng đạo đức của khách hàng (tính chính trực của NQL khách hàng) (Conn và cộng sự, 2019; Wolfe và Sterna, 2020), ảnh hƣởng của việc hạn chế về nguồn lực của CTKT (Conley, 2019).
Cụ thể, các dòng NC chính có thể kể ra bao gồm: (1) Các NC về ảnh hƣởng của các nhân tố rủi ro đ n quy t định CN, DTKH Khá nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu về ảnh hƣởng của các nhân tố rủi ro tới quyết định CN, DTKH. Các NC chủ yếu đã đƣợc thực hiện tại các quốc gia nhƣ Hoa Kỳ (Huss và Jacobs, 1991; Asare và Knechel, 1995; Johnstone, 2000; Johnstone, 2001; Johnstone và Bedard, 2003; Johnstone và Bedard, 2004; Asare và cộng sự, 2005; Cenker và Nagy, 2008; Conn và cộng sự, 2019; Conley, 2019), Canada (Gendron, 2001; Gendron, 2002), Hà Lan (Wittek và cộng sự, 2008), Hi Lạp (Papadopouloua, 10 2021), Trung Quốc (Chow và cộng sự, 2006), Singapore (Sharma và cộng sự, 2008), Ai Cập (El-Sayed Ebaid, 2011), Tunisia (Ouertani và Damak-Ayadi, 2012), Đài Loan (Hsieh và Lin, 2016); … Huss và Jacobs là một trong những tác giả NC khá sớm các nhân tố ảnh hƣởng tới quyết định CN, DTKH. Huss và Jacobs (1991) nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng tới quyết định của KTV trong quyết định CNKH ở Hoa Kỳ thông qua phƣơng pháp định tính. Kết quả NC cho thấy RRKT, RRKD của khách hàng, RRKD của CTKT là các nhân tố quan trọng trong quyết định CN, DTKH.
Trong đó, các yếu tố thuộc RRKT ảnh hƣởng tới việc CNKH gồm tính chính trực của NQL khách hàng; nguyên nhân thay đổi CTKT. Các yếu tố thuộc RRKD khách hàng ảnh hƣởng tới quyết định CNKH gồm khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán nhanh, sự cạnh tranh ngành. Các yếu tố thuộc RRKD của CTKT ảnh hƣởng tới quyết định CNKH gồm mức độ ngƣời sử dụng dựa vào BCTC đƣợc kiểm toán để ra quyết định, khả năng của CTKT để thực hiện kiểm toán (nhân sự), chi phí kiện tụng tiềm năng. Một nghiên cứu khác cũng đƣợc thực hiện ở Hoa Kỳ sau đó là nghiên cứu của Asare và Knechel (1995).
Các tác giả tìm hiểu cách thức mà CTKT sàng lọc các khách hàng tiềm năng và hiện tại. Định lƣợng là phƣơng pháp đƣợc sử dụng thông qua phƣơng pháp thử nghiệm. Kết quả nghiên cứu cho thấy RRKT, RRKD của khách hàng, RRKD của CTKT có ảnh hƣởng tới việc CNKH. Trong đó, các yếu tố thuộc RRKT bao gồm tính chính trực của Giám đốc điều hành, năng lực của kế toán, động cơ của NQL trong việc điều chỉnh BCTC, triết lý quản lý và thái độ NQL đối với kiểm soát.
Yếu tố thuộc RRKD của khách hàng là khả năng thanh toán. Yếu tố thuộc RRKD của CTKT nhƣ cơ hội cho dịch vụ tƣ vấn quản lý. Johnstone (2001) nghiên cứu nhận thức của các KTV tại Hoa Kỳ về tầm quan trọng của ba thành phần rủi ro hợp đồng (RRKT, RRKD của khách hàng và RRKD của CTKT) đối với quyết định CNKH qua phƣơng pháp định tính. Kết quả NC cho thấy RRKT là nhân tố quan trọng nhất, tiếp theo là RRKD của khách hàng và RRKD của CTKT ảnh hƣởng tới quyết định CNKH.
Trong đó, các yếu tố đƣợc xếp 11 theo thứ tự quan trọng thuộc RRKT gồm: thái độ của NQL đối với KSNB, mối quan hệ giữa khách hàng và CTKT trong quá khứ, mức độ yêu cầu các xét đoán trong đánh giá tài sản, bản chất của ngành, sự tồn tại bộ phận kiểm toán nội bộ. Các yếu tố đƣợc xếp theo thứ tự quan trọng thuộc RRKD của khách hàng gồm: tình hình tài chính của khách hàng so với các khách hàng khác trong ngành, thông tin về kế hoạch dài hạn của NQL, sự cạnh tranh trong ngành. Các yếu tố đƣợc xếp theo thứ tự quan trọng thuộc RRKD của CTKT gồm: chuyên gia CTKT, khả năng cổ phiếu công ty đƣợc kiểm toán đƣa ra công chúng lần đầu (IPO); cơ hội của dịch vụ phi kiểm toán (NAS); thời điểm kết thúc năm tài chính (mùa bận rộn) và chiến lƣợc giá cả của đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra, những thông tin liên quan tính chính trực của NQL khách hàng là một trong các yếu tố quan trọng khác ảnh hƣởng tới quyết định CNKH.
Nghề nghiệp kiểm toán bị chỉ trích khá nhiều từ những vụ bê bối về các hành vi gian lận tài chính của các công ty hàng đầu trên thế giới nhƣ Enron, WorldCom, Parmalat, AHOLD. Các chỉ trích cho rằng KTV có thể quá quan tâm đến lợi nhuận và không coi trọng các chuẩn mực nghề nghiệp nhƣ họ cần nên làm. Việc vi phạm các chuẩn mực nghề nghiệp nếu dẫn đến BCTC có sai sót trọng yếu có thể gây ra những hậu quả lớn cho cả cá nhân KTV, CTKT và xã hội. Wittek và cộng sự (2008) cho rằng nghề kiểm toán ngày càng có xu hƣớng vi phạm một số nguyên tắc nghề nghiệp, trong đó có tính độc lập trƣớc áp lực cạnh tranh.
KTV CNKH mới mặc dù phí kiểm toán không đủ và/hoặc với động cơ có đƣợc các dịch vụ bổ sung (phi kiểm toán). Động cơ thƣơng mại hóa ngày càng tăng và những thay đổi sâu sắc trong chính sách khen thƣởng và quản trị của doanh nghiệp kiểm toán là một trong những lý do ảnh hƣởng đến sự xói mòn các tiêu chuẩn nghề nghiệp. Động cơ thƣơng mại là một mối đe dọa tiềm ẩn đối với đạo đức nghề nghiệp trong các giai đoạn của một cuộc kiểm toán. Một số NC đã tìm hiểu về cách thức mà KTV đƣa ra quyết định CNKH là dựa vào tính chuyên nghiệp hay tính thƣơng mại nhƣ Gendron (2001), Gendron (2002).
Gendron (2001) xem xét cách thức mà KTV đƣa ra quyết định CNKH là dựa vào tính chuyên nghiệp hay tính thƣơng mại, với phƣơng pháp nghiên 12 cứu định tính. Nghiên cứu đƣợc thực hiện tại ba công ty thuộc nhóm big 6 ở Canada. Kết quả nghiên cứu cho thấy hai trong ba CTKT, quá trình ra quyết định CNKH phù hợp với tính chuyên nghiệp. CTKT chấp nhận một khách hàng tiềm năng tùy thuộc vào khả năng phân công các KTV có kinh nghiệm.