Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2006 2008

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long giai, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2012

109
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Kết cấu của luận văn

2. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Các quan điểm về nghèo

2.2. Xác định ngưỡng nghèo

2.3. Các thước đo chỉ số nghèo thông dụng

2.4. Các nguyên nhân dẫn đến nghèo

2.5. Tóm tắt chương 1

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Sơ lược về đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Phương pháp thống kê mô tả

3.4. Kiểm định sự khác biệt của giá trị trung bình và kiểm định quan hệ giữa các biến định tính

3.5. Tiêu chí phân tích nghèo

3.6. Cơ sở xác định nghèo

3.7. Nguồn số liệu

3.8. Mô hình kinh tế lượng

3.9. Các biến độc lập

3.10. Nhóm các nhân tố thuộc hộ gia đình-vốn con người. Nhóm nhân tố liên quan vốn tài nguyên thiên nhiên, vốn tài chính, vốn thể chế

3.11. Mô hình nghiên cứu

3.12. Tóm tắt chương 2

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Tổng quan về tình trạng nghèo tại vùng nghiên cứu

4.2. Nghèo theo vị trí địa lý

4.3. Quan hệ giữa tình trạng nghèo với tuổi chủ hộ

4.4. Quan hệ giữa tình trạng nghèo với giới tính của chủ hộ

4.5. Quan hệ giữa tình trạng nghèo với tình trạng học vấn của hộ

4.6. Quan hệ giữa tình trạng nghèo với tỷ lệ người phụ thuộc

4.7. Quan hệ giữa tình trạng nghèo với thành phần dân tộc của hộ

4.8. Quan hệ giữa tình trạng nghèo với nghề nghiệp chính và tình trạng việc làm của chủ hộ

4.9. Quan hệ giữa tình trạng nghèo với tài sản-đất đai của hộ gia đình

4.10. Quan hệ giữa tình trạng nghèo với khả năng tiếp cận tín dụng của hộ

4.11. Quan hệ giữa tình trạng nghèo với các đặc điểm hạ tầng cơ sở

4.12. Kết quả ước lượng tham số mô hình logistic đánh giá tác động của các nhân tố nghèo của Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL

4.13. Thảo luận chính sách

4.14. Giới hạn nghiên cứu

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghèo Đói Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long 2006 2008

Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những khu vực kinh tế trọng điểm của Việt Nam, đóng góp lớn vào sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu. Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói vẫn còn tồn tại ở nhiều địa phương trong vùng. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ hộ nghèo tại ĐBSCL vẫn cao, đặc biệt ở các huyện như Thốt Nốt, Tịnh Biên, và U Minh. Nghiên cứu này sẽ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đói trong giai đoạn 2006-2008, từ đó đưa ra những giải pháp khả thi nhằm cải thiện đời sống người dân.

1.1. Đặc Điểm Kinh Tế Xã Hội Của Vùng ĐBSCL

ĐBSCL có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với sản phẩm chính là lúa gạo và thủy sản. Tuy nhiên, sự phát triển không đồng đều giữa các tỉnh thành đã dẫn đến tình trạng nghèo đói. Các yếu tố như chính sách phát triển, tình hình kinh tếđặc điểm xã hội đều ảnh hưởng đến mức sống của người dân.

1.2. Tình Hình Nghèo Đói Tại ĐBSCL Giai Đoạn 2006 2008

Trong giai đoạn 2006-2008, tỷ lệ nghèo đói tại ĐBSCL đã giảm nhưng vẫn còn nhiều hộ gia đình sống dưới ngưỡng nghèo. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 16% năm 2006 xuống còn 14,5% năm 2008. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều xã có tỷ lệ hộ nghèo cao trên 30%, cho thấy sự cần thiết phải có các chính sách hỗ trợ cụ thể.

II. Các Nhân Tố Kinh Tế Ảnh Hưởng Đến Nghèo Đói Tại ĐBSCL

Các nhân tố kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tình trạng nghèo đói. Những yếu tố như vốn tài chính, vốn con người, và cơ sở hạ tầng đều có tác động lớn đến khả năng thoát nghèo của các hộ gia đình. Nghiên cứu sẽ phân tích chi tiết các nhân tố này và mối quan hệ của chúng với tình trạng nghèo đói.

2.1. Vốn Tài Chính Và Khả Năng Tiếp Cận Tín Dụng

Vốn tài chính là yếu tố quyết định đến khả năng đầu tư và phát triển sản xuất của hộ gia đình. Nhiều hộ nghèo không có khả năng tiếp cận tín dụng, dẫn đến việc không thể đầu tư vào sản xuất hoặc kinh doanh, từ đó duy trì tình trạng nghèo đói.

2.2. Vốn Con Người Và Giáo Dục

Trình độ học vấn và kỹ năng của người dân ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tìm kiếm việc làm và thu nhập. Những hộ gia đình có trình độ học vấn thấp thường gặp khó khăn trong việc thoát nghèo. Đầu tư vào giáo dụcđào tạo nghề là cần thiết để nâng cao năng lực lao động.

III. Các Nhân Tố Xã Hội Ảnh Hưởng Đến Nghèo Đói Tại ĐBSCL

Ngoài các nhân tố kinh tế, các nhân tố xã hội cũng có ảnh hưởng lớn đến tình trạng nghèo đói. Các yếu tố như địa lý, giới tính, và tình trạng hôn nhân đều có thể tác động đến khả năng thoát nghèo của hộ gia đình. Nghiên cứu sẽ xem xét các yếu tố này và cách chúng tương tác với nhau.

3.1. Địa Lý Và Khả Năng Tiếp Cận Dịch Vụ

Vùng sâu vùng xa thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục và tín dụng. Điều này làm gia tăng tình trạng nghèo đói và khó khăn trong việc phát triển kinh tế.

3.2. Giới Tính Và Vai Trò Của Phụ Nữ

Phụ nữ thường chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận các nguồn lực và cơ hội. Nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội có thể giúp giảm nghèo hiệu quả hơn.

IV. Chính Sách Phát Triển Để Giảm Nghèo Đói Tại ĐBSCL

Để giảm tình trạng nghèo đói, cần có các chính sách phát triển hiệu quả. Các chính sách này cần tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng, đào tạo nghề, và hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo. Nghiên cứu sẽ đề xuất một số chính sách cụ thể nhằm cải thiện tình hình.

4.1. Cải Thiện Cơ Sở Hạ Tầng

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, và nước sạch là cần thiết để tạo điều kiện cho người dân phát triển sản xuất và cải thiện đời sống.

4.2. Đào Tạo Nghề Và Tạo Việc Làm

Chương trình đào tạo nghề cần được triển khai rộng rãi để nâng cao kỹ năng cho người lao động, giúp họ có cơ hội tìm kiếm việc làm và tăng thu nhập.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Và Ứng Dụng Thực Tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các nhân tố kinh tếxã hội đều có tác động mạnh mẽ đến tình trạng nghèo đói tại ĐBSCL. Việc áp dụng các chính sách phát triển phù hợp có thể giúp cải thiện tình hình. Nghiên cứu sẽ trình bày các kết quả cụ thể và ứng dụng thực tiễn của chúng.

5.1. Kết Quả Phân Tích Dữ Liệu

Phân tích dữ liệu cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các nhân tố kinh tế và tình trạng nghèo đói. Các hộ gia đình có khả năng tiếp cận tài chính tốt hơn thường có tỷ lệ nghèo thấp hơn.

5.2. Ứng Dụng Chính Sách Vào Thực Tiễn

Các chính sách đã được áp dụng tại một số địa phương cho thấy hiệu quả trong việc giảm nghèo. Cần tiếp tục mở rộng và điều chỉnh các chính sách này để phù hợp với từng khu vực cụ thể.

VI. Kết Luận Và Hướng Tương Lai Về Nghèo Đói Tại ĐBSCL

Tình trạng nghèo đói tại ĐBSCL vẫn là một thách thức lớn. Nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp cụ thể. Hướng tới tương lai, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước và cộng đồng để thực hiện các chính sách giảm nghèo hiệu quả.

6.1. Tóm Tắt Các Nhân Tố Ảnh Hưởng

Các nhân tố kinh tế và xã hội đều có vai trò quan trọng trong việc xác định tình trạng nghèo đói. Cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa chúng.

6.2. Định Hướng Chính Sách Trong Tương Lai

Cần có các chính sách linh hoạt và phù hợp với từng địa phương để giảm nghèo bền vững. Việc theo dõi và đánh giá hiệu quả của các chính sách cũng rất quan trọng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2006 2008

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Các quan điểm về nghèo Nghèo là một khái niệm diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Trong đề tài này, tác giả sẽ lược khảo các khái niệm về nghèo được các tổ chức, cá nhân nghiên cứu nghèo đói thường sử dụng.

Qua đó, tác giả tìm hiểu những khía cạnh của nghèo đói cũng như quan điểm của những nghiên cứu trước đó. Người nghèo nghĩa là những người có mức sống thấp, họ không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người: Rowntree (1901) cho rằng nghèo là tình trạng thiếu một số lượng tiền cần để “có được những thứ tối thiểu cần thiết cho việc duy trì thể chất thuần tuý” (trích trong Nguyễn Trọng Hoài, 2007). Ủng hộ cho định nghĩa trên, hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do tổ chức Economic and Social Commission for Asia and the Pacific (ESCAP) tổ chức ở Thái Lan năm 1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Blackwood và cộng tác viên (1994) xác định "nghèo" là phần dân số mà không thể đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cơ bản và phụ thuộc vào các biến số như giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, tỷ lệ tử vong ở trẻ em.

Blackwood và cộng tác viên (1994) đề cập “nhu cầu cơ bản” bao gồm nhu cầu vật chất (thực phẩm, sự chăm sóc về y tế, giáo dục, chỗ ở, v.v…) và phi vật chất (sự tham gia, danh dự) và đòi hỏi “có một cuộc sống đầy ý nghĩa". Báo cáo đánh giá vùng về tình hình nghèo đói và quản lý nhà nước có sự tham gia của cộng đồng (RPGA, 2003), nhận thức về đói nghèo của nhóm những người nghèo ở vùng ven biển miền Trung và vùng ĐBSCL, một hộ nghèo có nghĩa là có một ngôi nhà xây tạm bợ (không mái ngói, không tường gỗ), thường xuyên có người ốm, không có hoặc có ít gia súc, không có vốn để kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 7 doanh, thiếu kinh nghiệm kinh doanh, không có tài sản có giá trị, có mảnh đất nhỏ và cằn cỗi, có quá nhiều con nhỏ, là người già và cô đơn, bị mất mùa hoặc có thuyền đánh cá không may mắn, không có đủ thức ăn cho quá ba tháng và phải kiếm củi hoặc làm thuê để sống qua ngày. Khái niệm về nghèo này được dùng đề xác định người nghèo ở nước ta cũng như một số quốc gia khác trên thế giới về nghèo đói do tính đơn giản, trực diện của nó. Nghèo khiến người nghèo không có khả năng và quyền tự do để đạt cuộc sống mà họ mong muốn, hơn nữa họ còn thiếu cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng: Theo Sen (1999), nghèo là không có khả năng và quyền tự do đáng kể để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn”.

Theo báo cáo phát triển Việt Nam (BCPTVN, 2004), nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện: thu nhập bị hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị xỉ nhục, không được người khác tôn trọng. Qua thời gian, ngân hàng thế giới cũng có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong các báo cáo của mình. Trong Báo cáo phát triển Việt Nam năm 1990, định nghĩa nghèo đói của tổ chức này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2000-2001, báo cáo đã thêm vào khái niệm những nét mới như tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương.

Báo cáo cho rằng, xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng, nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường; nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra bên lề xã hội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 8 nên không có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế đó, và nghèo chính là tình trạng mà cá nhân hoặc hộ gia đình không có khả năng có mức sống tối thiểu. Tóm lại, nghèo đói là một phạm trù rất rộng và định nghĩa về nghèo đói có thể được hiểu không chỉ sự túng thiếu về mặt vật chất, mà còn liên quan đến rủi ro, tính dễ bị tổn thương, vấn đề xã hội và các cơ hội (WB, 2006).

Tổng hợp tất cả những quan niệm về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo - Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. Trong nghiên cứu tác giả sử dụng chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới để tính toán và phân tích. - Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người. - Thiếu khả năng và quyền tự do để đạt cuộc sống mà họ mong muốn, thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.

Và mặc dù có sự đa dạng trong khái niệm nghèo, các nhà nghiên cứu vẫn thường đo lường nghèo trong các phân tích nhằm cung cấp thông tin cho các chính sách công hoặc để đánh giá được mức độ thành công của các chính sách đó. Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau chung nhất thường là ở chỗ thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.Trong nghiên cứu tác giả sử dụng chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới để tính toán và phân tích. Xác định ngưỡng nghèo Wagle (2002) đề ra ba tiêu chuẩn chính về cách tiếp cận nghèo: tình trạng về kinh tế, sức khỏe và tình trạng bị gạt ra ngoài lề của xã hội (và có 3 bước để xác định nghèo đói: (i) định nghĩa phúc lợi của hộ gia đình/ cá nhân, (ii) xác định một giá trị chuẩn (tối thiểu) để tách biệt 2 nhóm nghèo và không nghèo (gọi là ngưỡng nghèo) và (iii) tính toán các chỉ số thống kê tổng hợp dựa trên mối quan hệ giữa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 9 phúc lợi kinh tế và ngưỡng nghèo (WB, 2005).

Trong đó, đo lường phúc lợi phức tạp hơn, nó rộng hơn chỉ số phúc lợi kinh tế. Bởi phúc lợi còn bao gồm tuổi thọ, chế độ dinh dưỡng, điều kiện nhà ở, tỷ lệ trẻ em đến trường, tỷ suất tử vong của trẻ em (WB, 2005). WB (2005), ngưỡng nghèo (hay còn gọi nghèo) là ranh giới để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo. Có hai cách chính để xác định ngưỡng nghèo: 1.

Ngưỡng nghèo tuyệt đối: Chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh. Phương pháp chung để xác định ngưỡng nghèo này sử dụng một rổ các loại lương thực được coi là cần thiết, để đảm bảo mức độ dinh dưỡng tốt cho con người. Rổ lương thực đó sẽ tính đến cả cơ cấu tiêu dùng lương thực của các hộ gia đình đặc thù của một nước.Trên cơ sở đó hai ngưỡng nghèo tuyệt đối sẽ được tính toán. Ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm: đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một gia đình có thể đủ mua một lượng lương thực, thực phẩm để cung cấp cho mỗi thành viên trong hộ một lượng calo là 2100 calo một ngày.

Ngưỡng nghèo này thường thấp vì nó không tính đến chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực khác. Ngưỡng nghèo chung: đo lường chi phí để mua đủ một lượng hàng hóa lương thực thực phẩm cung cấp lượng calo là 2100 calo và một số mặt hàng phi lương thực. Trên bình diện quốc tế, WB đã tính toán ngưỡng nghèo tuyệt đối cho các nước thu nhập thấp là 1 đô la Mỹ/ngày, từ 2 đô la cho châu Mỹ La tinh và Caribe, đến 4 USD cho những nước Đông Âu, cho đến 14,40 USD cho những nước công nghiệp. Để đảm bảo tính so sánh được giữa các nước, những ngưỡng nghèo này được tính theo ngang giá sức mua.

Từ năm 1981, chuẩn nghèo toàn cầu được áp dụng ở mức thunhập 1 USD/ngày. Chuẩn nghèo này đã được điều chỉnh thành 1,25 USD/ngày kể từ năm 2005, sau khi tính đến yếu tố lạm phát. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 10 Còn ở Việt Nam hiện tại chưa có sự thống nhất về tiêu chí đánh giá nghèo theo thu nhập hay theo chi tiêu dùng. Vì vậy, trên thực tế việc phân tích đánh giá nghèo vẫn sử dụng một trong hai ngưỡng nghèo tuyệt đối: - Ngưỡng nghèo của Tổng cục thống kê (TCTK), xác định dựa theo cách tiếp cận của WB là sử dụng chỉ tiêu chi tiêu để đo lường nghèo.

Chuẩn nghèo chung của TCTK và WB với mức chi tiêu bình quân/người/tháng qua các năm như sau: năm 2002: 160 nghìn đồng, năm 2004: 173 nghìn đồng, năm 2006: 213 nghìn đồng và năm 2008: 280 nghìn đồng. - Ngưỡng nghèo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), xác định ngưỡng nghèo mang tính chất tương đối hơn và tiếp cận từ khía cạnh thu nhập. Chuẩn nghèo do Bộ LĐTBXH đưa ra đã được điều chỉnh năm lần vào các năm 1993, 1997, 1998, 2001 và 2005. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ