CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1.1 Nghiên cứu mục tiêu của việc lựa chọn chính sách kế toán Mariana Gurau (2014) tiến hành nghiên cứu “Three types of accounting policies reflected in financial statements: case study for Romania”. Tác giả đã lựa chọn các phương pháp kế toán khác nhau cho ba nhóm chính sách và áp dụng cho cùng một bộ BCTC để so sánh và phân tích. Nghiên cứu đã chứng minh rằng bức tranh tài chính của một DN được nhìn từ những người khác nhau thì khác nhau, không thể nói rằng ai đó bóp méo sự thật. Kết quả nghiên cứu cho thấy ba nhóm CSKT mà DN lựa chọn trong từng trường hợp nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau như sau: - Thứ nhất, nhóm CSKT nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Hầu hết các DN hoạt động đều mong muốn có lời, mục tiêu lớn nhất của họ đó là tạo ra lợi nhuận. Do đó, họ có động cơ mạnh mẽ để lựa chọn các CSKT nhằm tối thiểu hóa các loại chi phí phát sinh nhằm tăng lợi nhuận có thể đạt được đến mức tối đa nhất. - Thứ hai, nhóm CSKT nhằm mục tiêu bảo toàn vốn, đảm bảo lợi nhuận bền vững trong dài hạn. Bằng cách ghi nhận chi phí theo giá trị hợp lý, mục tiêu đảm bảo hoạt động ổn định, san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để tránh những lên xuống bất thường của thu nhập, tức là giảm lợi nhuận những năm lợi nhuận cao để dự trữ cho những năm lợi nhuận thấp.
DN vừa phải duy trì khả năng hoạt động liên tục và phải đảm bảo sự phát triển của mình. - Thứ ba, nhóm CSKT được lựa chọn nhằm giảm thiểu thuế thu nhập nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với quy định của luật thuế, thông qua độ trễ thời gian của thuế. DN chọn cách ghi nhận chi phí nhiều hơn ở kỳ hiện tại và đẩy lợi nhuận sang các kỳ sau sao cho trong toàn chu kỳ sống của DN, số thuế thu nhập (của DN và cổ đông) phải đóng là thấp nhất. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Watts và Zimmerman (1990) tiến hành nghiên cứu “Positive Accounting Theory, A Ten Year Perspective”.
Nghiên cứu hướng đến ba mục tiêu: thứ nhất là trình bày quan điểm về quá trình phát triển của kế toán thực chứng đến thời điểm hiện tại và tóm tắt những bằng chứng về lý thuyết thực hành kế toán; thứ hai là đánh giá các phương pháp nghiên cứu và phương pháp luận sử dụng để giải thích cho những quy luật và cuối cùng là định hướng tương lai cho nghiên cứu kế toán thực chứng. Họ đã tổng hợp lại các nghiên cứu lý thuyết kế toán thực chứng trong những năm 1980 và đề xuất cách để cải thiện nghiên cứu thực chứng trong lựa chọn kế toán. Điều quan trọng nhất của cải tiến là liên kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực nghiệm. Nhóm tác giả chỉ trích những nghiên cứu chỉ tập trung vào một sự lựa chọn kế toán tại một thời điểm trong khi hầu hết các nhà quản lý cung cấp thông tin đầu ra có thể là do kết hợp ảnh hưởng của một số lựa chọn kế toán.
Ba giả thuyết nghiên cứu chính được đặt ra là: giả thuyết kế hoạch trả thưởng, giả thuyết nợ và giả thuyết chi phí chính trị (với giả thiết đặt ra là người quản lý là người theo chủ nghĩa cơ hội và giả thiết hợp đồng hiệu quả). Giả thuyết kế hoạch trả thưởng cho rằng các DN có kế hoạch trả thưởng theo lợi nhuận thì nhà quản lý có nhiều khả năng lựa chọn các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận kỳ báo cáo để tăng khoản tiền thưởng của mình. Giả thuyết nợ cho rằng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của DN càng cao thì nhà quản lý có nhiều khả năng lựa chọn các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận kỳ báo cáo để tránh vi phạm những quy định trong hợp đồng vay vốn. Giả thuyết chi phí chính trị cho rằng các DN càng lớn có nhiều khả năng lựa chọn các phương pháp kế toán làm giảm lợi nhuận kỳ báo cáo để giảm thiểu chi phí chính trị.
Kết quả thử nghiệm ban đầu của giả thuyết kế hoạch trả thưởng cho thấy nó không thích hợp trong nhiều trường hợp, ví dụ khi lợi nhuận trong kỳ nhỏ hơn mức tối thiểu để được thưởng thì nhà quản lý có động cơ lựa chọn phương pháp kế toán làm giảm lợi nhuận kỳ báo cáo để chuyển qua năm sau. Bằng chứng thực nghiệm thu được của giả thuyết nợ và giả thuyết chi phí chính trị nhìn chung là phù hợp. Giai đoạn tiếp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 theo có rất nhiều nghiên cứu xây dựng dựa trên giả thuyết này và được phát triển thêm để dự đoán những quy luật thực nghiệm mới. Steven Young (1998) tiến hành nghiên cứu “The Determinants of Managerial Accounting Policy Choice: Further Evidence for the UK”.
Tác giả nghiên cứu các nhân tố quyết định sự lựa chọn CSKT của các công ty thuộc ngành công nghiệp và thương mại tại nước Anh. Dựa vào nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990), trên cơ sở lý thuyết chi phí hợp đồng, lý thuyết ổn định lợi nhuận và lý thuyết tín hiệu. Lý thuyết chi phí hợp đồng đặt ra giả thuyết nợ, giả thuyết kế hoạch trả thưởng, cho rằng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và kế hoạch trả thưởng trên lợi nhuận trong kỳ có mối tương quan thuận với sự lựa chọn CSKT. Lý thuyết ổn định lợi nhuận đặt ra giả thuyết DN lựa chọn CSKT làm tăng lợi nhuận nếu lợi nhuận đạt được dưới mức mục tiêu và ngược lại nhằm giảm thiểu biến động trong báo cáo thu nhập.
Lý thuyết tín hiệu đưa ra giả thuyết rằng nhà quản lý lựa chọn CSKT phù hợp với dòng tiền kỳ vọng của DN trong tương lai. Nghiên cứu tiến hành phân tích chỉ số tài chính từ mẫu báo cáo của 533 công ty ngành công nghiệp và thương mại tại Anh trong khoảng thời gian khác nhau từ năm 1988 đến 1991. Kết quả nghiên cứu giải thích được sự lựa chọn CSKT chịu ảnh hưởng của mức vay nợ, mục tiêu ổn định lợi nhuận và dấu hiệu dòng tiền mong muốn trong tương lai của DN. Frank (2004) tiến hành nghiên cứu “Economic Determinants of Multiple Accounting Method Choices in a Swiss Context”.
Tác giả nghiên cứu các nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn các phương pháp kế toán của các công ty niêm yết tại Thụy Sĩ. Các DN tại Thụy Sĩ được cho phép lựa chọn CSKT trong phạm vi rộng hơn tại Mỹ. Trong bối cảnh môi trường kinh tế trị trường được đặc trưng bởi mức độ truy đòi nợ, các công ty chủ yếu sử dụng nợ là nguồn tài chính chủ yếu và hầu hết được cung cấp bởi ngân hàng. Các nhân tố tác giả dự đoán có ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán là đòn bẩy tài chính, bản chất của tài sản, chi phí chính trị và mức độ pha loãng cổ phần.
Các giả thuyết đặt ra đối với nhân tố đòn bẩy tài chính là công ty dựa trên nợ tài chính nhiều, các khoản vay ngân hàng và cá nhân, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng nợ tài chính càng cao thì DN có động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cơ để tăng thu nhập và giảm tỷ lệ đòn bẩy (tỷ lệ nợ trên tổng tài sản). Đối với nhân tố bản chất của tài sản, các công ty có chỉ số Tobin’s Q (giá trị thị trường/giá trị sổ sách của DN) cao, chi tiêu cho hoạt động nghiên cứu và phát triển nhiều thì DN có động cơ để tăng thu nhập và giảm tỷ lệ đòn bẩy. Khi xem xét ảnh hưởng bởi nhân tố chi phí chính trị, các công ty có quy mô lớn, lực lượng lao động nhiều thường có động cơ giảm lợi nhuận để hạn chế chi phí phí chính trị này. Nghiên cứu cũng xem xét đến mức độ pha loãng cổ phần, các công ty có độ pha loãng quyền sở hữu càng cao, cổ phần bị chia nhỏ cho càng nhiều cổ đông nắm giữ sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho nhà quản lý sử dụng các CSKT để làm tăng lợi nhuận.
Mẫu được chọn để tiến hành nghiên cứu các chỉ số trên BCTC là 106 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thụy Sĩ. Kết quả của nghiên cứu cho thấy các nhà quản lý của các công ty Thụy Sĩ có nhiều khả năng lựa chọn CSKT để điều chỉnh lợi nhuận và tỷ lệ đòn bẩy tài chính khi độ pha loãng quyền sở hữu cao và lực lượng lao động nhiều. Ngoài ra, mức vay nợ, quy mô công ty và chính sách thưởng cho nhà quản lý có ảnh hưởng đáng kể. Christos Tzovas (2006) tiến hành nghiên cứu “Factors influencing a firm’s accounting policy decisions when tax accounting and financial accounting coincide”.
Tác giả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN khi kế toán thuế và kế toán tài chính trùng nhau. Bảng câu hỏi khảo sát được gửi đến nhà quản lý của 200 DN lớn nhất tại Hy Lạp, 63 phản hồi hoàn thành đáp ứng yêu cầu đưa vào phân tích. Các nhân tố ảnh hưởng là nhận thức của các bên liên quan, mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế mà các mục tiêu này có thể không đồng nhất hoặc mâu thuẫn nhau. Chẳng hạn, khi mục tiêu của DN là giảm nghĩa vụ thuế tức là phải giảm mức lợi nhuận, khi đó DN sẽ bị ảnh hưởng xấu đến đánh giá từ bên ngoài DN về tình hình tài chính, năng lực hoạt động dẫn đến chi phí tiếp cận vốn vay tăng và các vấn đề khác liên quan,… Nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng về mức độ mà DN muốn báo cáo lợi nhuận giảm để giảm nghĩa vụ thuế và mức độ DN muốn báo cáo lợi nhuận tăng để tác động tích cực đến quyết định cho vay của ngân hàng, tránh vi phạm các cam kết vay vốn hay tăng giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 trị cổ phiếu của DN, từ đó để giải thích sự lựa chọn CSKT trên cơ sở hiệu quả kinh tế.
Kết quả nghiên cứu này cũng có thể áp dụng cho các DN hoạt động trong môi trường tương tự Hy Lạp (ví dụ như các nước châu Âu). Ngoài ra, những phát hiện của nghiên cứu này có thể tạo điều kiện cho các chuyên gia tiến hành phân tích tài chính quốc tế, đồng thời góp phần vào việc giải thích các hành vi kế toán của các DN tại Hy Lạp.Dey và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu “Determinants of Accouning Choices in Egypt”.