Chương 1 trình bày phần giới thiệu đề tài; khái quát về: vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu của luận văn; phần trọng tâm của chương là cơ sở lý thuyết của đề tài, qua đó nêu các phần như: các nghiên cứu có liên quan đến đề tài, xây dựng khung phân tích và chọn mô hình kinh tế, xây dựng giả thiết nghiên cứu, mô tả bộ dữ liệu. Chương 2 sẽ trình bày phần thống kê mô tả trên cơ sở xây dựng các bảng thống kê mô tả, tần suất một chiều, hai chiều và có các kết luận ban đầu về những nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục. Ở chương 3 sẽ tiến hành phân tích cơ sở dữ liệu, thực hiện chạy mô hình hồi quy trên phần mềm, phân tích ý nghĩa các chỉ số trong mô hình kết quả. Và sau cùng ở chương 4 là phần kết luận của đề tài, các khuyến nghị chính sách căn cứ trên kết quả phân tích cơ sở dữ liệu.2 Các nghiên cứu trước có liên quan Chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới trong các năm qua.
Các nghiên cứu dù được thực hiện ở các quốc gia khác nhau, với những đặc điểm kinh tế - xã hội có không ít khác biệt nhưng kết luận về các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục đều có những chi tiết tương đồng. Thu nhập của hộ gia đình có tác động mạnh đến chi tiêu của hộ cho giáo dục là nhận định mà nhiều nghiên cứu đã đề cập đến. Mauldin và cộng sự 5 (2001) đã thực hiện nghiên cứu chi tiêu của cha mẹ dành cho giáo dục của con cái họ ở bậc tiểu học và trung học cơ sở trên căn cứ phân tích bộ dữ liệu có được từ khảo sát chi tiêu năm 1996 của Cục thống kê Lao động Hoa Kỳ. Qua phân tích nghiên cứu khẳng định thu nhập sau thuế của cha mẹ càng cao thì họ càng sẵn lòng hơn trong chi tiêu giáo dục của con cái.
Các bậc cha mẹ trong nghiên cứu nhận thức được rằng nếu họ đầu tư nhiều tiền cho việc học của con mình thì chính con của họ sẽ nhận được kết quả tốt đẹp trong tương lai về tri thức, chất lượng cuộc sống. Tilak (2002) qua nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu hộ gia đình của người dân vùng nông thôn Ấn Độ cũng có nhận định thu nhập của hộ gia đình càng cao thì mức chi cho giáo dục của hộ tăng theo. Khi tìm hiểu về chi tiêu cho giáo dục ở các vùng đô thị của Trung Quốc, Qian và Smyth (2010) đã xác định có mối liên hệ chặt chẽ giữa thu nhập của người cha và người mẹ với mức chi tiêu của họ dành cho giáo dục của con em họ. Nếu như sự gia tăng thu nhập có tác động tích cực đến chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục thì quy mô của hộ hay số lượng thành viên trong hộ cũng làm gia tăng chi tiêu cho giáo dục nhưng mang tính gánh nặng, tiêu cực.
Nghiên cứu của Tilak (2002) đã cho thấy thực trạng này ở Ấn Độ - một quốc gia có dân số đông thứ hai thế giới (sau Trung Quốc). Mặc dù chính phủ Ấn Độ gần đây cũng đã áp dụng chính sách kế hoạch hóa gia đình, hạn chế tỷ lệ tăng dân số tự nhiên nhưng ở vùng nông thôn chính sách này vẫn chưa được người dân thực hiện tốt, vẫn còn tình trạng nhiều hộ gia đình đông người. Chi tiêu cho giáo dục của các hộ này ở mức cao, chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập nhưng chất lượng giáo dục mà các thành viên có được chỉ ở mức trung bình thấp. Điều này cho thấy gánh nặng nhân khẩu tác động tiêu cực đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình.
6 Nơi sinh sống của hộ gia đình cũng có tác động không nhỏ đến mức chi tiêu của hộ cho giáo dục. Khảo sát của Mauldin và cộng sự (2001) cho các hộ gia đình sống ở vùng Đông Bắc và phía Tây Hoa Kỳ thì chi tiêu cho giáo dục ít hơn các hộ gia đình sống ở phía Nam. Đặc điểm của vùng Đông Bắc và phía Tây của Hoa Kỳ chủ yếu là các vùng nông thôn với những thảo nguyên rộng lớn, mật độ dân cư thấp, ít các đô thị sầm uất, giàu có như ở vùng miền Nam đất nước. Như vậy, sự khác biệt trong chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục ở các vùng nêu trên gần như tương đương với so sánh chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục ở nông thôn và thành thị của Hoa Kỳ.
Nghiên cứu ở Trung Quốc của Qian và Smith (2010) dù chỉ tập trung ở các thành phố lớn nhưng cũng có phân biệt nơi sinh sống của hộ gia đình theo vị trí địa lý của đô thị. Kết quả nghiên cứu đã nêu ra hiện tượng khá thú vị rằng trong nhóm gia đình có thu nhập cao nhất nếu gia đình sinh sống ở các vùng đô thị duyên hải thì xác xuất họ gởi con cái đi du học cao hơn các hộ có cùng đặc điểm nhưng ở những vùng đô thị khác. Các nghiên cứu cũng cho thấy sự tác động có ý nghĩa của trình độ học vấn, nghề nghiệp của những người có quyền quyết định trong gia đình lên chi tiêu của hộ cho giáo dục. Khảo sát Mauldin và cộng sự (2001) cho thấy những gia đình có cha, mẹ chỉ có bằng trung học trở xuống thì số tiền chi cho giáo dục của con ít hơn những người đã đạt bằng cử nhân hoặc sau đại học.
Trình độ học vấn của chủ hộ gia đình càng cao thì họ chi cho giáo dục của cả hộ càng nhiều cũng là đánh giá khá tương tự của Tilak (2002). Qian và Smyth (2010) cung cấp thông tin chi tiết hơn về sự ảnh hưởng của học vấn, nghề nghiệp cha mẹ đến chi phí cho việc học tập của người con, cụ thể là những gia đình mà người mẹ có trình độ cao đẳng, đại học, người cha làm trong những ngành nghề mang tính chuyên nghiệp thì chi phí cho giáo dục dành cho con 7 cái cũng có xu hướng tăng cao đồng thời họ cũng có xu hướng chọn những loại hình giáo dục có chất lượng cao hơn. Ngoài ra, trong nghiên cứu của mình, Mauldin và cộng sự (2001) cũng nhận thấy có mối liên hệ giữa tuổi tác của cha mẹ và số tiền mà họ chi cho giáo dục của con em mình. Cụ thể là nếu hộ gia đình nào có các bậc cha mẹ tuổi đời càng cao thì họ sẵn lòng chi nhiều hơn cho giáo dục, có thể họ đã có nhiều sự trải nghiệm và hiểu biết hơn về lợi ích và tác động tích mang lại từ đầu tư phát triển vốn con người.
Liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục, Tilak (2002) cho rằng sở dĩ chi phí chung cho giáo dục tăng cao là do giá tiền của chi học phí, sách giáo khoa, văn phòng phẩm tăng. Nhận định này gần như hiển nhiên đúng vì tổng chi phí cho các thành phần này chính là tổng chi của hộ gia đình cho giáo dục. Nghiên cứu ở Ấn Độ cũng cho thấy loại trường (công lập, bán công, tư thục) cũng tạo được ảnh hưởng của mình, học sinh học ở hệ công lập thì cha mẹ ít phải chi tiêu hơn các ở các loại trường khác. Ngoài ra, bậc học của những người đang đi học càng cao thì chi tiêu của gia đình cho giáo dục sẽ càng nhiều.
Tổng hợp về các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục, chúng ta có bảng sau đây: Bảng 1.3 Tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan Nghiên cứu Các kết luận của nghiên cứu Nhận định về nghiên cứu “Chi tiêu của cha Số tiền cha mẹ chi tiêu cho Tổng chi tiêu của hộ gia đình mẹ đối với giáo giáo dục của con mình phụ cho giáo dục trong nghiên cứu dục của con cái”thuộc vào các nhân tố: chỉ được tính trong 3 tháng nên – Mauldin và - thu nhập sau thuế nhiều khả năng còn bỏ sót cộng sự (2001) - trình độ học vấn của cha mẹ nhiều khoản chi quan trọng cho - tuổi của cha mẹ giáo dục vào các thời điểm - nơi sinh sống của gia đình khác nhau trong năm. “Các nhân tố Các nhân tố ảnh hưởng có ý (1) Nghiên cứu đã chỉ ra được quyết định đến nghĩa đến chi tiêu hộ gia đình các yếu tố khá đa dạng có liên chi tiêu hộ gia cho giáo dục gồm có: quan đến mức chi tiêu hộ gia 8 đình cho giáo dục - thu nhập của hộ đình cho giáo dục. ở vùng nông thôn - quy mô hộ (2) Tuy nhiên, tác giả sử dụng Ấn Độ” – Tilak - trình độ chủ hộ phương pháp OLS trong mô (2002) - bậc học của người đi học hình cùng tồn tại các biến thu - loại hình trường theo học nhập, chi tiêu cho giáo dục, chi - mức học phí, chi phí học tập phí học tập… khả năng gây ra hiện tượng đa cộng tuyến khá cao có thể dẫn đến kết quả ước lượng thiếu chính xác. “Chi tiêu cho giáo Mức chi tiêu cho giáo dục của (1) Nghiên cứu đã tách biệt dục ở vùng thành các bậc cha mẹ dành cho con được rõ ràng nhu cầu và chi thị Trung Quốc: của mình tùy thuộc vào: phí cho giáo dục trong nước và tác động của thu - thu nhập của cha mẹ đi du học nước ngoài.
nhập, đặc điểm - trình độ, nghề nghiệp của cha (2) Số quan sát của mẫu nghiên gia đình và nhu mẹ. cứu khá lớn (gần 11.000 quan cầu học tập trong - nơi sinh sống của hộ gia đình sát). nước và ngoài (3) Sử dụng phương pháp tobit nước” – Qian và để xử lý dữ liệu qua đó tối ưu Smyth (2010) được kết quả phân tích 1.3 Hệ thống các lý thuyết 1.1 Các khái niệm liên quan đến hộ gia đình 1.1 Hộ gia đình Hộ gia đình được xem như là một đơn vị thống kê dân số, một tập hợp người có mối quan hệ gắn kết với nhau có lúc người ta đồng nhất nó với khái niệm gia đình. Xét trên ý nghĩa thống kê mỗi con người chỉ có thể thuộc về một và chỉ một hộ gia đình nào đó.