Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC. Các khái niệm cơ bản về chất lượng trong giáo dục đại học. Khái niệm về chất lượng. Chất lượng là phạm trù có ý nghĩa định tính, mang tính chủ quan của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia hay thời kỳ khác nhau.
Cách tiếp cận, nhận thức khác nhau mà có khái niệm khác nhau về chất lượng. Dưới đây là một số khái niệm tiêu biểu về chất lượng: - Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” (Nguyễn Như Ý, 2009).Juran: “Chất lượng bao gồm những đặc điểm của sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng và tạo ra sự thỏa mãn đối với khách hàng” (Phạm Ngọc Tuấn và Nguyễn Như Mai, 2003, trang 9). - Theo Viện tiêu chuẩn Anh Quốc, British Standards Institution, chất lượng là “toàn bộ các đặc trưng cũng như tính chất của một sản phẩm hoặc một dịch vụ giúp nó có khả năng đáp ứng những yêu cầu được xác định rõ hoặc ngầm hiểu” (BSI, 1991). - Theo ISO 9000:2000 trong phần thuật ngữ đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” (Nguyễn Kim Định, 2010, trang 63).
Mỗi khái niệm được nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lượng. “Chất lượng” của một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó không chỉ là tập hợp các thuộc tính mà còn là mức độ các thuộc tính ấy thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng trong những điều kiện cụ thể, hay nói một cách khác nó vừa có tính chủ quan, vừa có tính khách quan. 6 Trên cơ sở phân tích và tham khảo các khái niệm về “chất lượng” tác giả đưa ra quan điểm như sau: Chất lượng là tổng thể các yếu tố định tính, định hình về đối tượng được xem xét mà qua đó con người có thể nhìn nhận và đánh giá một cách chính xác, thể hiện sự hài lòng với đối tượng đó. Chất lượng trong giáo dục đại học.
Chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”. Chất lượng đầu vào được đánh giá qua các yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, năng lực giảng viên, chất lượng sinh viên đầu vào. Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng với đặc trưng sản phẩm là “con người lao động” có thể hiểu là kết quả đầu ra của quá trình giáo dục và được thể hiện cụ thể giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu của từng ngành đào tạo. Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”.
Chất lượng đầu ra được đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn, kiến thức đã lĩnh hội, bản lĩnh nghề nghiệp…của sinh viên. Thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của nhà trường. Cách đánh giá, nhìn nhận đầu ra của các trường rất khác nhau phụ thuộc vào tiêu chí đánh giá của mỗi trường, mỗi tổ chức tiếp nhận người lao động và xã hội. Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”.
“Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị “đầu ra” trừ đi giá trị “đầu vào”, kết quả thu được là “giá trị gia tăng” mà trường đại học đã đem lại cho sinh viên và được đánh giá là chất lượng giáo dục đại học. 7 Nếu theo quan điểm này về chất lượng giáo dục đại học, một loạt vấn đề phương pháp luận nan giải sẽ nảy sinh: khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó. Hơn nữa các trường trong hệ thống giáo dục lại rất đa dạng, không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các trường đại học. Vả lại, cho dù có thể thiết kế được bộ công cụ như vậy, “giá trị gia tăng” được xác định sẽ không cung cấp thông tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào tạo trong từng trường đại học.
Hơn nữa, giá trị đầu vào, đầu ra là những khái niệm mang nặng định tính, từ đó khái niệm giá trị gia tăng khó xác định và mang bản chất định tính. Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”. Giá trị học thuật là sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ giảng viên trong trường. Điều này đồng nghĩa trường đại học nào có đội ngũ Giáo sư, Tiến sĩ nhiều, có uy tín khoa học cao, có các công trình khoa học, đóng góp cho xã hội thì được xem là trường có chất lượng cao.
Thực tế, các Viện Đại học, Trường Đại học danh tiếng trên thế giới và của Việt Nam là những nơi hội tụ, làm việc của nhiều nhà khoa học đầu ngành, đạt nhiều giải thưởng lớn, uy tín. Hạn chế của cách tiếp cận này là ở chỗ, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ giảng viên và nghiên cứu khi xu hướng chuyên ngành hóa ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng. Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm định”. Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm định” xem trọng quá trình bên trong trường và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định.
Kiểm định chất lượng quan tâm xem xét các trường có thu thập đủ thông tin cần thiết hay 8 không, quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng có hợp lý và hiệu quả không. Khi có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được quyết định chính xác, chất lượng giáo dục đại học được đánh giá qua quá trình thực hiện. Điểm yếu của cách đánh giá này sẽ khó lý giải những trường hợp khi một trường có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể có những quyết định chưa phải là tối ưu. Chất lượng được đánh giá bằng “văn hóa tổ chức riêng”.
Trường đại học được đánh giá là có chất lượng khi nó có “văn hóa tổ chức riêng” với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức. Tóm lại, mặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng trong giáo dục đại học song các nhà nghiên cứu cố gắng tìm ra những cách tiếp cận phổ biến nhất. Cơ sở của các cách tiếp cận này xem chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, động, đa chiều và với những người ở các cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó.
Theo tác giả, nếu dựa trên quan điểm của một nhà quản lý thì chất lượng giáo dục phải được xem xét theo cả quá trình từ đầu vào € quá trình giảng dạy € đầu ra. Chất lượng đào tạo và các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo. Chất lượng đào tạo. Cũng như chất lượng giáo dục, chất lượng đào tạo luôn là vấn đề được xã hội quan tâm và quan trọng nhất trong các cơ sở giáo dục vì nó không những có ý nghĩa sống còn đối với mỗi cơ sở đào tạo mà còn có tầm quan trọng đối với sự phát triển của đất nước.
Dưới đây là một số quan điểm về chất lượng đào tạo: 9 - “Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể” (Trần Khánh Đức, 2004, trang 105) - Theo Phạm Minh Hạc “Chất lượng đào tạo là kết quả tổng hợp phản ánh mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình giáo dục đào tạo ở từng người học, từng lớp, trường, địa phương và cả nước có sự phát triển bền vững”. Qua việc tìm hiểu và xem xét các khái niệm, tác giả đưa ra quan điểm riêng của mình: Chất lượng đào tạo được nhìn nhận như là việc xây dựng chương trình, phương pháp dạy và học tiến tiến, nhằm tạo ra “sản phẩm” giáo dục chất lượng, có hiệu quả cao, giúp người học có thể tiếp nhận và cảm thụ một cách hiệu quả nhất trong suốt quá trình học tập và có ý nghĩa trong quá trình lập thân, xây dựng nghề nghiệp. Chất lượng đào tạo hướng tới mục đích là góp phần tạo nên một nền giáo dục có chất lượng. Vì vậy, chất lượng đào tạo cũng cần phải được xem xét và đánh giá theo cả quá trình, từ đầu vào € quá trình dạy học € đầu ra.
Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo. Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo với các đặc trưng sản phẩm là người lao động có thể hiểu là kết quả, là đầu ra của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo. Xuất phát từ quan niệm chất lượng đào tạo nêu trên, hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo đối với từng ngành đào tạo bao gồm những tiêu chí sau: (1). Phẩm chất về xã hội – nghề nghiệp (đạo đức, ý thức, trách nhiệm, uy tín,…).
Các chỉ số về sức khỏe, tâm lý, sinh học,… (3). Trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn. Năng lực hành nghề (cơ bản và thực tiễn). Khả năng thích ứng với thị trường lao động (6).
Năng lực nghiên cứu và tiềm năng phát triển nghề nghiệp MỤC TIÊU Quá trình đào tạo CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐÀO TẠO Kiến thức - Đặc trưng giá trị nhân cách, nghề nghiệp. - Giá trị sức lao động - Năng lực hành nghề - Trình độ chuyên môn nghề nghiệp (kiến thức, kỹ năng…) - Năng lực thích ứng với thị trường lao động - Năng lực phát triển nghề Kỹ năng Thái độ nghiệp (Theo chương trình đào tạo) NGƯỜI LAO ĐỘNG Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo (Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO và TQM, NXB Giáo dục,2004) 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đại học. Khi nói đến đào tạo là nói đến quá trình rèn luyện nhân cách và tri thức con người từ thấp đến cao với nhiều cách thức, phương pháp tác động khác nhau.