Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU GIAO TIẾP VỚI CHA MẸ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái niệm nhu cầu Trong tâm lý học, khi bàn về nhu cầu, các tác giả trong và ngoài nước có nhiều quan điểm khác nhau: Theo tác giả B. Lomov: “Nhu cầu cá nhân là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển. Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình.73] Từ điển Tâm lý học của Viện Tâm lý học được định nghĩa như sau: “Nhu cầu là trạng thái của cá nhân, xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân.100] Theo tác giả Lê Thị Bừng (2008): “Nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi người trong những điều kiện nhất định đảm bảo cho sự sống và sự phát triển của con người”.
Khác với nhu cầu mang tính bản năng của loài vật, nhu cầu của con người mang tính xã hội. Nhu cầu của con người thay đổi và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. [5] Theo Nguyễn Xuân Thức (2015), “Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển”.223] Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Nhu cầu là một thuộc tính nhân cách, biểu thị mối quan hệ tích cực của cá nhân với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần phải được thỏa mãn để tồn tại và phát triển”. [9] 12 Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cũng cho rằng “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển”.204] Theo tác giả Vũ Dũng, “Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, để cá nhân tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định” [6, tr.568] Như vậy, qua phân tích và tổng hợp từ các tác giả trên, tôi xin sử dụng khái niệm nhu cầu của tác giả Nguyễn Quang Uẩn là khái niệm công cụ nghiên cứu của đề tài luận văn như sau: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển”.
Đặc điểm của nhu cầu Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng. Chính đối tượng của nhu cầu đã thúc đẩy con người hoạt động, sáng tạo ra thế giới đối tượng để thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao của con người. Khi nào nhu cầu gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn nó thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động nhắm tới đối tượng. Nội dung của nhu cầu là do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nhu cầu quy định.
Nội dung của nhu cầu do điều kiện thỏa mãn nó quy định. Điều kiện thỏa mãn nhu cầu của con người nằm trong xã hội, vì vậy nhu cầu của con người mang tính xã hội. Nội dung cụ thể của nhu cầu còn phụ thuộc vào phương thức thỏa mãn nó. Phương thức thoả mãn nhu cầu lại tuỳ thuộc vào tri thức, mục đích, động cơ, nhân cách, hoàn cảnh cuộc sống của con người.
Nhu cầu mang tính chu kì. Khi một nhu cầu nào đó được thoả mãn không có nghĩa nhu cầu ấy bị chấm dứt. Nhu cầu của con người luôn thay đổi và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Tính chất chu kì này do tính chất chu kì của sự biến đổi của hoàn cảnh sống xung quanh và của trạng thái 13 cơ thể gây nên khi đó nhu cầu được tái hiện, củng cố, phát triển và phong phú.
[5], [9] [25] Nhu cầu của con người có bản chất xã hội và gắn với lịch sử. Bản chất xã hội, lịch sử của nhu cầu được thể hiện ở nội dung, phương thức, điều kiện thỏa mãn nhu cầu của con người ở những giai đoạn lịch sử cụ thể. [11], [17] Nhu cầu có tính cấp thiết. Khi xuất hiện nhu cầu, cá nhân phải nỗ lực hoạt động để thỏa mãn nhu cầu.
Nếu thỏa mãn được nhu cầu thì tâm lý cá nhân lúc này trở nên tích cực, phấn khởi, là động lực cơ bản cho những hoạt động tiếp theo hiệu quả hơn. Ngược lại, khi nhu cầu không được thỏa mãn sẽ là yếu tố tiêu cực tác động đến tâm lý của cá nhân và là yếu tố cản trở hoạt động của chủ thể. Nếu một nhu cầu nào đó trở nên cấp bách cần phải thỏa mãn thì đó là nhu cầu cấp thiết của con người. [11] Luận văn tập trung vào tính cấp thiết của nhu cầu để làm rõ những đòi hỏi, mong muốn của học sinh cần được thõa mãn trong hoạt động giao tiếp với cha mẹ.
Phân loại nhu cầu Theo nhà tâm lý học tâm lí học Abraham Maslow, nhu cầu được chia thành 5 bậc. Sau đó, vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp này đã được các nhà tâm lý học thuộc trường phái tâm lý học nhân văn hiệu chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng là 8 bậc: Nhu cầu vật chất; nhu cầu về sự an toàn; nhu cầu xã hội; nhu cầu về sự tự trọng; nhu cầu về sự khẳng định mình; nhu cầu về nhận thức; nhu cầu về thẫm mỹ; sự siêu nghiệm. [5], [9], [13] Tác giả Henry Murray chia nhu cầu thành 20 loại bao gồm các nhu cầu như sau: Chiếm ưu thế; gây hấn; tìm kiếm các mối liên hệ bạn bè; bỏ rơi người khác; tự ti; phục tùng thụ động; nhu cầu về sự tôn trọng, ủng hộ; nhu cầu thành đạt; nhu cầu trở thành trung tâm của sự chú ý; nhu cầu vui chơi; ích kỷ; tính xã hội; nhu cầu tìm người bảo trợ; nhu cầu giúp người; nhu cầu tránh 14 bị trách phạt; nhu cầu tự vệ; nhu cầu vượt qua những thất bại; nhu cầu an toàn; nhu cầu ngăn nắp, trật tự; nhu cầu phán đoán. [9] Theo tác giả Lê Thị Bừng, nhu cầu được phân loại thành 3 loại cơ bản như sau: Nhu cầu vật chất; nhu cầu tinh thần; nhu cầu xã hội.
[5] Như vậy, có rất nhiều cách phân loại nhu cầu dựa theo những tiêu chí khác nhau. Mỗi cách phân loại nhu cầu đều có sự hợp lý và sự phân loại cũng chỉ mang tính chất tương đối vì các nhu cầu trên thực tế có liên hệ mật thiết, tác động qua lại và đan xen vào nhau. Các mức độ của nhu cầu Theo X. Rubinstein, sự hình thành một nhu cầu cụ thể có sự tham gia của ý thức và phải trải qua các giải trình sau [9]: - Ý hướng, là bước khởi đầu của nhu cầu, chủ thể chưa ý thức đầy đủ về đối tượng và khả năng thoả mãn nhu cầu.
- Ý muốn, là khi chủ thể đã ý thức rõ về đối tượng, mục đích hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu, nhưng chưa có, đang tìm kiếm phương thức, điều kiện thỏa mãn nhu cầu. - Ý định, là giai đoạn chủ thể ý thức đầy đủ về mục đích, phương thức, phương tiện, điều kiện hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu và sẵn sàng hành động. Rubinstein mức độ nhu cầu thể hiện qua việc chủ thể ý thức về đối tượng và phương thức thỏa mãn nó. Mức độ nhu cầu tăng dần từ mức rất thấp, mức thấp, mức trung bình, mức cao và mức rất cao.
+ Mức rất cao: Đây là mức cao nhất biểu hiện sự rất cần thiết, phải giải quyết ngay, cá nhân khi được đáp ứng nhu cầu sẽ tác động một cách tích cực đến đời sống. Ở mức độ này, mọi hoạt động của cá nhân đều hướng tới việc cần phải thỏa mãn nhu cầu, nhằm để đạt trạng thái tâm lý tích cực. 15 + Mức cao: Đây là mức mà nhu cầu của cá nhân tương đối cần thiết và mong muốn được thỏa mãn, mà sự hài lòng về sự thỏa mãn các nhu cầu tương đối cao. Ở mức này các nhu cầu đã được đáp ứng với sự mong đợi tương đối.
+ Mức trung bình: Ở mức độ này thì nhu cầu của cá nhân là vừa phải, chỉ dừng lại ở mức thiết yếu. Có nhiều yếu tố đã thỏa mãn được kỳ vọng của cá nhân và cũng còn nhiều yếu tố tác động làm cho hoạt động của cá nhân chưa thật sự hài lòng. + Mức thấp: Thể hiện nhu cầu của cá nhân ít, mức độ hài lòng về các hoạt động còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được một phần nào đó về nhu cầu. Nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thỏa mãn giao tiếp.
+ Mức rất thấp: Đây là mức mà việc thỏa mãn các nhu cầu của cá nhân chưa được thực hiện, các yếu tố thỏa mãn nhu cầu rất thấp, chưa thực sự làm cá nhân hài lòng, không thỏa mãn được sự mong đợi trong giao tiếp. Nhu cầu giao tiếp 1.1 Khái niệm giao tiếp Có rất nhiều nhà nghiên cứu khác nhau đưa ra khái niệm giao tiếp, chúng tôi xin nêu dẫn một số khái niệm cụ thể dưới đây.Đarưghin: “Giao tiếp là quá trình tác động lẫn nhau, trao đổi thông tin ảnh hưởng lẫn nhau, hiểu biết và nhận thức lẫn nhau.” [1] Phạm Minh Hạc đã định nghĩa: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau. Lêonchiev đưa ra định nghĩa giao tiếp như sau: “Đó là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lí và sử dụng những phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ.” [1] 16 Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “Giao tiếp là sự trao đổi giữa người và người thông qua ngôn ngữ nói, viết, cử chỉ. Ngày nay từ này ngụ sự trao đổi ấy thông qua một bộ giải mã, người phát tin mã hóa một số tín hiệu, người tiếp nhận giải mã, một bên truyền một ý nghĩa nhất định để bên kia hiểu được”.
[Dẫn theo 20] Theo Nguyễn Xuân Thức trong quyển Tâm lí học đại cương: “Giao tiếp là quá trình tác động qua lại giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người, thông qua đó, con người trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau”. [25] Tác giả Nguyễn Ngọc Bích “Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều người thông qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết, tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau”.