CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ DU LỊCH: 1. - Du lịch: Khái niệm : là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú trường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu , giải trí , nghỉ dưỡng , trong một khoảng thời gian nhất định. - Điểm Du lịch: là cấp thấp hất trong hệ thống phân vị , về mặt lãnh thổ , điểm du lịch có qui mô nhỏ .Trên các bản đồ vùng du lịch , người ta thể hiện điểm du lịch bằng những điểm riêng biệt.
- Tuyến Du lịch: là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không. - Cụm du lịch: là đơn vị du lịch kết hợp lãnh thổ của các điểm du lịch cùng hoặc khác chức năng du lịch, thuận tiện cho việc đi lại của du khách, có sức hấp dẫn đa dạng, thời gian lưu giữ du khách được từ 1 ngày đến 3 ngày. - Vùng du lịch: là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị .Vùng du lịch như một tổng thể thống nhất của các đối tượn và hiện tượng tự nhiên , nhân văn xã hội … bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch và môi trường kinh tế _ xã hội xung quanh với chuyên môn hóa nhất định trong lĩnh vực du lịch .Mức độ chuyên môn hóa cao. - Trung tâm du lịch: là sự kết hợp lãnh thổ của các điểm du lịch.
Hay nói rõ hơn, trung tâm du lịch gồm các điểm chức năng được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế - kĩ thuật. Nó có khả năng và sức thu hút khách du lịch rất lớn. Các loại hình du lịch: - Du lịch văn hóa: kết hợp với du lịch tham quan nghiên cứu.Tham quan nghiên cứu nền văn hóa Việt Nam: các di tích lịch sử, các lễ thội sinh hoạt tâm linh thuộc các nền văn minh văn hóa các dân tộc, các làng nghề truyền thống : làng tranh Đông Hồ, Làng lụa Vạn Phúc, làng nghề dệt thổ cẩm. - Du lịch sinh thái: là lọai hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
- Du lịch nghỉ dưỡng: là loại hình giúp cho con người phục hồi sức khoẻ và lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi, những căng thẳng thường xuyên xảy ra trong cuộc sống. - Du lịch caravan: theo các nhà tổ chức du lịch, có nghĩa là những gia đình đi du lịch theo đoàn và mỗi xe đều có kéo theo những rơ-mooc nhỏ dùng làm nơi nghỉ ngơi. 4 - Du lịch Mice: là du lịch hội nghị, hội thảo, du lịch khen thưởng và du lịch sự kiện , triển lãm. Khái niệm du lịch “bụi” (du lịch ba lô)? Du lịch "bụi" hay còn gọi là du lịch ba-lô ( Backpacking Tourism) là loại hình du lịch thường được các cá nhân hay một nhóm nhỏ áp dụng.
Hình thức này phù hợp cho việc khám phá thiên nhiên và trải nghiệm cuộc sống thường ngày của dân địa phương. Khác với du lịch tour trọn gói (package tour), du khách đi theo hình thức du lịch bụi sẽ không bị bó buộc trong một không gian xác định và không bị giới hạn thời gian lịch trình của chuyến tour. Du lịch bụi sẽ giúp du khách tiết kiệm khá nhiều chi phí và thu nhập được nhiều trải nghiệm thú vị. Lịch sử khai sinh loại hình du lịch bụi (du lịch ba lô)? Xét về góc độ lịch sử, Giovanni Francesco Gemelli Careri (1651-1725) được xem là người khai sinh ra loại hình du lịch bụi.
Sinh ra ở vùng Radicena, (ngày nay là Taurianova) Calabria, Italia vào năm 1651, Giovan Francesco Gemelli Careri là một quan tòa làm việc tại tòa án Naples. Tuy nhiên ông đã không thành công trong công việc của mình. Năm 1685, ông đã đi du lịch Châu Âu. Một năm sau, ông trở lại quê hương và tiếp tục làm công việc của một vị quan tòa.
Tuy nhiên ông không thỏa mãn với cuộc sống của mình, ông luôn muốn thấy được nhiều thứ mới mẻ. Đó cũng là lý do vào năm 1693, ông bắt đầu chuyến hành trình vòng quanh thế giới kéo dài trong 5 năm. Sau khi kết thúc chuyến hành trình, ông đã viết sách về chuyến hành trình của mình. cuốn sách đó đã được tái bản năm lần ở Italia và được dịch thành nhiều thứ tiếng.
Khái niệm du khách Tây “ba lô”? Nếu xét loại hình du lịch thì đối tượng khách Tây ba lô được xếp vào loại hình du lịch cá nhân:tức là cá nhân tự định ra chuyến hành trình, kế hoạch lưu trú, địa điểm và ăn uống tùy nghi. Loại hình này phát triển với tốc độ nhanh và trong những năm gần đây đã chiếm ưu thế. Những đặc điểm đặc trưng của đối tượng này được thể hiện : - Sử dụng các phương tiện công cộnsg làm phương tiện di chuyển chính trong chuyến hành trình. - Lưu trú tại các dịch vụ lưu trú giá rẻ như mini hotel, phòng trọ (guesthouse).
- Hình ảnh của khách du lịch bụi gắn liền với ba lô,sách hướng dẫn du lịch (guide book). 5 - Thời gian đi du lịch lâu hơn với loại hình du lịch khác. - Lịch trình chuyến đi mang tính độc lập và linh động. Mục tiêu khi đi du lịch là được trải nghiệm, tìm hiểu phong cách sống và được gặp gỡ người dân nước bản địa.
- Tham gia nhiều vào các hoạt động khám phá, giải trí 1. SẢN PHẦM DU LỊCH: 1. Khái niệm: Sản phẩm du lịch là tổng hợp của nhiều thành phần khác nhau, bao gồm vật hữu hình và vô hình. Hầu hết các sản phẩm du lịch là những dịch vụ, những kinh nghiệm, những tinh hoa của nhân loại.Sản phẩm du lịch là hỗn hợp các yếu tố hình thành một tổng thể không thể tách rời gồm : các di sản du lịch (tài nguyên thiên nhiên , tài nguyên nhân văn, lịch sử , văn hóa , nghệ thuật ) , các phương tiện vận chuyển , truyền tải đối tượng du lịch đến với tài nguyên du lịch, các dịch vụ cung cấp và sử dụng tài nguyên du lịch.
Qui trình xây dựng sản phẩm du lịch: - Khảo sát tuyến điểm, cung đường - Khảo sát dịch vụ (nhà hàng, khách sạn, điểm tham quan, dịch vụ mua sắm, giải trí ban ngày và ban đêm) - Đánh giá chất lượng tuyến điểm, tính khả thi (mới, hấp dẫn, khác biệt của cung đường) 1. Xây dựng chương trình tour hoàn chỉnh: + Nghiên cứu nhu cầu của thị trường (khách du lịch) + Nghiên cứu khả năng đáp ứng: Tài nguyên, các nhà cung cấp du lịch, mức độ cạnh tranh trên thị trường vv… + Xác định khả năng và vị trí của công ty lữ hành. + Xây dựng mục đích, ý tưởng của chương trình du lịch. +Giới hạn quỹ thời gian và mức giá tối đa.
+ Xây dựng tuyến hành trình cơ bản, bao gồm những điểm du lịch chủ yếu , bắt buộc của chương trình. + Xây dựng phương án vận chuyển. + Xây dựng phương án lưu trú, ăn uống. + Những điều chỉnh nhỏ, bổ sung tuyến hành trình.Chi tiết hóa chương trình với những hoạt động tham quan, nghỉ ngơi , giải trí.
+ Xác định giá thành và giá bán của chương trình + Xây dựng quy định của chương trình du lịch 6 1. NHU CẦU DU LỊCH: 1. Phân tích mối quan hệ giữa Tháp nhu cầu của Maslow và nhu cầu du lịch: 5 tầng trong tháp nhu cầu Maslow - Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi. - Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
- Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy. - Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng. - Tẩng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt. Thông qua các tầng tháp nhu cầu của Maslow, ta có thể thấy quá trình hình thành nhu cầu du lịch của con người được diễn ra theo hai giai đoạn: Giai đoạn 1: Do sự căng thẳng mệt mỏi trong cuộc sống dẫn đến nhu cầu phải nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe, thúc đẩy con người đi du lịch.
7 Giai đoạn 2: Xã hội ngày càng phát triển, trình độ dân trí được nâng cao, thời gian nhàn rỗi nhiều, mối quan hệ thân thiện hòa bình giữa các quốc gia dẫn đến phát sinh nhu cầu tinh thần như khám phá, hiểu biết về những điều mới mẻ ở những điểm du lịch: phong cảnh, địa hỉnh, các di tích văn hóa lịch sử, phong tục tập quán, con người bản xứ… (Nhu cầu tinh thần-love/belonging và nhu cầu tự thể hiện bản thân-physiological). Trong thời gian du lịch, con người lại nảy sinh thêm nhu cầu khác như nhu cầu dịch vụ về cơ sở vật chất, về văn hóa tinh thần, về hàng hóa… 1. Khái niệm nhu cầu du lịch: Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người. Nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý (sự đi lại) và các nhu cầu tinh thần (nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định, nhận thức và giao tiếp).
Nhu cầu du lịch phát sinh là kết quả tác động của lực lượng sản xuất trong xã hội và trình độ sản xuất xã hội.Trình độ sản xuất xã hội càng cao, các mối quan hệ càng hoàn thiện thì nhu cầu du lịch biến thành động cơ thúc đẩy con người đi du lịch. Nói cách khác, nhu cầu du lịch của xã hội chỉ có thể phát triển khi điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội được nâng cao. Các nhu cầu của khách du lịch: - Nhu cầu vận chuyển – dịch vụ vận chuyển. - Nhu cầu ở và ăn uống – dịch vụ lưu trú và ăn uống.
- Nhu cầu cảm thụ cái đẹp và giải trí – dịch vụ tham quan giải trí - Các nhu cầu khác: mua hàng, thông tin, chăm sóc, thẩm mỹ, y tế… 1.