Mở đầu va Kết luận, nội dung bài khóa luận gồm 3 chương như sau: Chương một: Qua trình hinh thành và phat triển của Nho giáo Chương hai: Qua trình du nhập va phat triển của Nho giáo ở Nhat Ban, Việt Nam Chương ba: Ảnh hưởng của Nho giáo trong đời sống ở Nhật Bản, Việt SVTH: Hoang Thị Hoa Khéa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tien Thuận RN SE ———————————— ———————E— CHUONG 1: QUA TRINH HINH THANH VA PHAT TRIEN CUA NHO GIAO 1. Khong Tử - người sáng lập Nho giáo 1.1, Boi cảnh lịch sử Trung Quốc là một vùng trên thể giới có chế độ phong kiến phát triển sớm. Tử the kỷ XVIII - IV TCN, 1400 năm xã hội Trung Quốc chuyển mình lên nha nước phong kién chuyên chế cũng với quả trình thong nhất dat nước từ hang trăm nha nước phong kiến cat cử địa phương.
Tir khi nha Chu lên giữ ngỗi Thiên Tử, chế độ vẫn theo lỗi phong kiến, chia thiên hạ ra làm hơn 70 nước, để phong cho những người công thần vả các con cháu làm Chu Hau. Những nước chư hau ấy đều được quyền tự chủ, nhưng hang năm phải triéu công thiên tử nhà Chu, và khi có sự chỉnh phạt ở đâu, thi phải theo mệnh lệnh thiên tử dem quân đi tong chỉnh. “ Nước Tau thud ay ở quanh quản trong vùng sông Hoàng Hà, vào độ chừng năm sdu tỉnh ở phía Bắc nước Tàu ngày nay. Các nước Chư hau lớn thì bằng hai ba tinh của ta bay giờ.
nhỏ thi bằng một vai huyện gì dé", Khi nhà Chu còn thịnh thi trật tự vẫn được phân minh, nhưng từ khi nhà Chu đã suy nhược, phải dời đô vẻ phía Đông ở đất Lạc Áp, mệnh lệnh của Thiên tử không ai theo, các nước Chư hau phan ra có đến 160 nước. Chiến tranh ngày cảng kịch liệt, cương thường dé nát, nhân dan đồ than. Chư hau ai mạnh thi lam bá cả thiên hạ, như nước Tẻ, nước Tan, nước Tong, nước Sở, nước Ngô, nước Viét. roi nước nọ kiêm nước kia, thiên tử cũng không có đủ uy quyền mà ngăn cắm được.
Thời đại ấy sử Tau gọi là Xuan Thu thời dai. " Trang thời Xuân Thu loạn lạc như thể, daa dé vương dal trước mer tôi, người đời say đảm về đường công lợi. không ai thiết gì đến nhân nghĩa nữa. ! 'Trịch: Trin Trọng Kim, Nha giáo, NXB Văn học, trang 19 12 SVTH: Hoang Thị Hoa Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Trịnh Tiến Thuận Nhưng cũng vì thể cục biến loạn, dân tình khổ sở, người trong nước mới lo tìm cách sửa đổi để cứu giúp thiên ha", vậy nên các học thuyết mới hưng thịnh lên. Thưở ấy có Khổng Tử dem phát minh cái đạo Thánh Hiển ra, lập thành một học thuyết có hệ thống, lấy nhân nghĩa lễ trí mà dạy người, lấy cương thường mà hạn chế nhân dục dé giữ trật tự ở trong xã hội cho vững mạnh. Trước khi Nho giáo ra đời, xã hội Trung Quốc đã tồn tại các học thuyết sơ khai: Vua Phục Hy đưa ra “ Bát quái", gồm 8 qué: Can, Kham, Can, Chan, Tến, Ly, Đoài, Khôn. Vua Hạ - Vũ có * Cửu trù”, 9 biện pháp trị nước”.
Vua Nghiêu - Thuan có “ Điển hình"; Chu Công soạn ra “ Lễ nhạc”. Nho giáo tổng kết các tri thức có từ trước, dé ra thuyết chính trị - xã hội.Nho giáo ra đời gắn với Không Tử. Tiểu sử Khổng Tử người làng Xương Bình, huyện Khúc Phy, nay thuộc phủ Duyện Châu, tinh Sơn Đông bên Td. Ngài dong ddi người nước Tổng ( Hà Nam).
Ông tô ba đời dời sang ở nước Lỗ( Sơn Đông). Thân phụ ngài là Thúc Lương Ngột làm quan võ, lay người vợ trước sinh được chín người con gái. Người vợ lẻ sinh được một người con trai tên là Mạnh Bì, nhưng lại có tật qué chân. "' Đến lúc gan già óng than phụ mới lấy bà Nhan thị sinh ra ngài.
Ngài sinh vào mùa Đông thang mười năm Canh Tuất là năm thứ 2) đời vua Linh Vương nhà Chu, tức là năm $51 trước Tây lịch kỷ nguyên. Bà Nhan thị có lên cau tự trên núi Ni Khâu, cho nên khi sinh ra ngài mới nhân điềm ấy mà đặt tên ngài là Khâu, tên tự là Trọng Ni. Có sách chép rằng trán ngài cao và gỏ lên, cho nên mới đặt tên là Khâu. Khâu nghĩa là cái go".
* Trịch: Trần Trọng Kim, Nho giáo. trang 20 ** Cửu trủ" thời vua Hạ - Vũ la: Điển: về phép tắc; Mỏ: về mưu kế; Huan: về dạy agười; Cao: những lời trên ban xuống: Thệ: việc quản sy; Mệnh: mệnh lệnh của cắp trên cho cắp didi, “Trích: Trin Trọng Kim, Nho giáo, NXB Van học, trang 20, 13 SVTH: Hoàng Thị Hoa Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận Ngài sinh trường theo lẽ tự nhiên như mọi người, nhưng vì ngài là một bậc giáo tỏ, hậu thế mới đặt ra những chuyện huyền bí. nói rằng trước khi sinh ra ngài.
bả Nhan thị thấy con kỷ lần nhả tờ ngọc thư có chữ đẻ rằng: “Con của thủy tinh, nồi nhà Chu đã suy mà làm vua không ngôi: Bà Nhan thị thay vậy, lẩy dây lụa buộc vào sửng con ly lan. Được may ngày thì con kỳ lân đi mắt. Đến khi sinh ngài có hai con rỗng xuống quản chung quanh nhà và có năm ông lão là năm vị sao trên trời xuống đứng giữa sân. Ở trong phòng bà Nhan thị nghe trên trời có âm nhạc và có tiếng nói rằng: Trời cảm lòng câu nguyện cho sinh ra con thánh "°.
Những chuyện ay tuy là truyện người đời sau bia đặt ra, nhưng cũng là bằng chứng rõ là người đời ưa sự quai la, nhất lả những người đã làm nên công nghiệp lớn, hoặc đã sáng lập ra tông giáo nào, đều có chuyện lạ để làm cho cái phẩm giá khác người thường. Theo truyện chép trong chính sử thi khi Khổng Tử lên ba tuổi thân phụ mất. Khi còn nhỏ, Không Tử thích chơi trò bày các khay đẻ cúng và chơi trò tế lễ như đèn, nến. “Chơi với chứng bạn, ngài xếp chúng bạn ngôi thành hàng trước rỗi ngài ngôi một cách cung kinh.
hoặc bay dé tế lễ tập cúng tế với nhau. Năm lên bảy tuổi, ngài khởi học với An Bình Trọng, quan đại phu của vua Cảnh Công nước Té. Bam tính thông mình, ngài học viết rat dễ dàng. Ngài học xa, kiển văn rộng, hiểu thấu lẽ huyền điệu của tạo hóa '^.
Năm ngài 19 tudi thi thành gia that, rồi ra nhận chức Uy lại, coi sự gạt thóc ở kho, sau lại làm Tư Chức lại coi việc nuôi bỏ dé để dùng về việc cúng tế. Thưở ấy tuy ngài còn trẻ tuổi. nhưng ndi tiếng là người giỏi, cho nên quan nước Lỗ là Trọng Tôn Cỏ cho hai con là Hà Kị và Nam Cung Quát theo ngài học lễ. Ngai vốn là người học theo Nho thuật cho nên Ngài rất chú ý vẻ lễ nghỉ và những phép tắc của các dé vương đời trước.
Khổng Tir bắt đầu day học hỏi * Trích: Tran Trọng Kim, Nho giáo, NXB Văn hoc, trang 21. * Trịch: Toan Anh, Tín ngưỡng Việt Nam ( quyển thượng), NXB Trẻ, trang 233 14 SVTH: Hoàng Thị Hoa Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận 20 tuổi, dùng ngay nhà ông làm trường học, cha mẹ học trò muốn tặng lễ vật ít nhiều gi cũng được. Ông dạy về ba môn chính: sử, thơ và những quy tắc vẻ chính danh, Ong thường bảo “ Tu cách người ta phát ra nhờ “ thị ", ý chi vững vàng nhờ * nhạc "”.
Ông không dạy môn lí luận mà, nhưng ông mài giữa trí tuệ của môn sinh bang cách ôn tôn chỉ cho sự suy luận lầm lẫn ở đâu và luôn luôn phải có tinh than mẫn nhuệ. “ Nguoi nào chẳng tự hỏi: Minh phải có tinh than mẫn nhué. Người nào chẳng tự hỏi: Minh phải làm cái này ra sao? Mình phải làm cải dé ra sao? Thì ta cũng chẳng có cách nào chỉ bảo cho được" *. "Kẻ nào không hăng hải muốn hiểu thì ta không thé giúp cho hiểu được, kẻ nào không dam tỏ ý kiến thì ta không thé giúp cho phát biểu ý kiến được.
Ta ven lén cho một góc mà chẳng chịu tim ba góc kia thì ta không giảng thêm cho nữa"? Ông tin chắc chắn rằng chỉ bậc đại ngu thì học mới không ích lợi gì, còn những người khác học thì thế nào trí tuệ và tư cách cũng được cải thiện. “ Khóng có người nào học ba năm mà không thấy khá hon”. Đặc biệt, "ngài day người ta những điều hiểu, dé, trụng, thứ, tu, tẻ, trị, bình Hiểu: Dé thờ cha kinh mẹ Dé: dé hòa thuận với anh em Trung: để hết lòng với vua với nước Thứ: dé & với người cho hợp lẽ Tu: để tự sửa nét mình * Trích: Nguyễn Hiến Lẻ địch, Lịch sử vin minh Trung Hoa, NXB Van hỏa thông tin, trang 60 Hưng u thị, lập ư 18, thành w nhạc. nhạc, có sách dịch la Kinh thi.
* Trích: Nguyễn Hiến Lẻ dich, sdd. * Trích: Nguyễn Hiển Lê dich, sđđ. ' Có lẻ là câu tam niên học bắt chỉ ư che, bắt dj đc dã” (luận ngũ - Thái Bá ~ 8) mã Durant đã dich ra như vậy. Nhưng thực ra nghĩa khác hẳn: “ ít có người học đạo trong ba nằm mà chẳng cỏ chi cầu bỏng lộc” Không tử có ý chế bai người ta chỉ mong sớm ra làm quan, mặc di làm quan có thé fa để giúp nước, giúp nhà, l5 SVTH: Hoàng Thị Hoa Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Trịnh Tiến Thuận — Trị: dé lay đạo trị nước Bình: để yên thiên hạ. Tảm điêu trên là tôn chỉ của ngài mà cũng là của nho giáo. Ngoài tám điều đó, ngài lại dạy người ta lục nghệ là: Lễ, phép giữ lễ nghỉ Nhạc, phép am nhạc Xa. phép bản cung Ngư.
phép cưỡi ngựa Thư, phép viết Số, phép tinh Theo ngày nay, LỄ là phép giao thiệp, Nhạc để giải trí, Xa và Ngự là thể thao, Thư là văn nghệ, còn sé là toản pháp ˆ`'. Mới đầu ông ít học trò nhưng chẳng bao lâu người ta thấy ông đức cao, học rộng, nên về cuối đời, ông có thé tự hào rằng có tới ba ngàn môn sinh nhờ ông dạy dỗ mà thành tài, có địa vị rực rỡ trong xã hội. Một số môn sinh - có thời được tới bảy chục ( thất thập nhị hiển) - sống với ông như các môn sinh An Độ sống với guru ( tôn sư), quí mến ông lắm, ngăn cản ông khi ông muốn làm cái gì có hại cho ông, và phản đối dữ dội khi có ai nói xấu ông. Mặc dù, rất nghiêm với môn sinh, ông cũng yêu vai người hơn con ông nữa; khi một môn sinh, Nhan Hỏi chết, ông khóc nức nở.