Chương 1 TÓNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÉN ĐÈ TÀI Sự phục hưng của Nho gia trong những năm đầu thế kỉ XXI ở Trung Quốc với “cơn sốt” Nho học và “Nho giáo nhiệt” đã thu hút nhiều học giả ở Việt Nam và thế giới quan tâm nghiên cứu với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu kinh điển Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào nội dung tác phâm hoặc truyền bá kinh điển Nho gia ở Trung Quốc và Việt Nam giai được trước thế kỉ XXI. Có thể nói, nghiên cứu đại chúng hóa kinh điển Nho gia còn có một khoảng trắng lớn. Trong quá trình nghiên cứu và khả năng tiếp cận thông tin, tác giả chưa tìm kiếm được công trình luận án nào về nghiên cứu đại chúng hóa Kinh điển Nho gia ở Việt Nam giai đoạn sau năm 2000.
Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010, trong 11 năm, có 6.540 công trình nghiên cứu được công bố trên cơ sở dữ liệu có sử dung từ khóa “kinh điển Nho gia” (fi82##t) và tổng số luận án (luận văn được cấp bang là 1.249 bài đăng trên các tạp chí nghiên cứu về Luận ngữ. Tuy nhiên khi sử dụng khóa “đại chúng hóa Nho gia” (ZÄÍ{tfi2#) hoặc “đại chúng hóa kinh điển Nho gia” (ASM RAD thì chỉ tìm được 25 kết quả nhưng trong giai đoạn từ 2010 - 2021. Tác giả ý thức được van đề tông quan tình hình nghiên cứu phải liên quan mật thiết đến đề tài, tuy nhiên với khoảng trắng về mặt nghiên cứu, lý luận và các nghiên cứu về kinh điển Nho gia, tác phẩm Ludn ngữ đồng thời là nguồn tài liệu dé phân tích đánh giá quá trình đại chúng hóa kinh điền Nho gia. Chính vì vậy, khi viết tong quan tình hình nghiên cứu liên quan đến dé tài “Nghién cứu đại chúng hóa kinh điển Nho gia 10 năm dau thé ki XXI ở Trung Quốc - Trường hợp tác phẩm Luận ngữ” tác giả tập trung chủ yếu giới thiệu tình hình nghiên cứu đại chúng hóa kinh điển Nho gia ở các nước Phương Tây, ở Trung Quốc.
Về tình hình nghiên cứu trong nước, tác giả hệ thống hóa kết quả nghiên cứu kinh điển Nho gia theo các chuyên ngành nghiên cứu. Nghiên cứu kinh dién Nho gia ở các nước Phương Tây Không Tử là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, những tư tưởng của ông không chỉ ảnh hưởng đến lịch sử Trung Quốc cách đây hơn 2.000 năm mà còn trở thành tài sản chung của nền văn minh nhân loại. Vào tháng 1 15 năm 1988, tại Hội nghị quốc tế của những người đoạt giải Nobel lần đầu tiên được tổ chức tai Paris, 75 người tham gia đã đưa ra 16 kết luận dựa trên chủ đề “Đối diện với thế kỷ 21.” Một trong số đó là "Nhân loại muốn tiếp tục tồn tại, chúng ta phải trở lại cách đây 25 thé ky dé tìm hiểu trí tuệ của Không Tử"[137]. Từ đó thấy rằng đánh giá của các học giả phương Tây đánh giá cao về Không Tử.
Tư tưởng của Không Tử (Confucius) và tác phẩm Luận ngữ (The Analects) là một trong những trọng tâm nghiên cứu của giới Hán học Anh Mỹ. Các nghiên cứu về Kinh dién từ những học giả Nho học, Hán học, Lịch sử Trung Quốc. như William Theodore de Bary, Joseph R. và các học giả người Mỹ gốc Hoa như Wing-tsit Chan (Trần Vinh Tiệp), Tu Weiming (Đỗ Duy Minh), Yu Ying-shih (Du Anh Thời), Cheng, Chung-Ying (Thành Trung Anh).
Nghiên cứu của họ đã trở thành một tài liệu tham khảo quan trọng và bé sung cho các nghiên cứu Nho giáo Trung Quốc đương đại. Nghiên cứu của các học giả người Hoa Kiều Thành Trung Anh (Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, Dai hoc Hawaii tại Manoa) cho rang, với văn minh nhân loại của thé kỷ XXI nên sử dụng tu tưởng của Không Tử. Thực hiện phương châm tu dưỡng của nhà Nho mà Không Tử đã nêu “chi u dao, cứ đức, y w nhân, du u nghệ” [6] (dịch nghĩa: Không Tử nói: “Dé tâm chí vào đạo, giữ gìn đức hạnh, nương theo điều nhân, vui vẻ lục nghệ (tức lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số) và noi theo cách xử thế “Tử tuyệt tứ: v6 ý, vô tat, vô có, vô ngấ” [6] (dịch nghĩa: Không Tử bỏ han bốn tật: “vô ý” là xét việc gi thì không đem ý riêng (hoặc tu dục) của mình vào mà cứ theo lẽ phải; “vô tất”, tức không quyết răng điều đó tất đúng, việc đó tất làm được; “vô cố”, tức không cố chấp; “vô ngã”, tức quên mình đi, không cho cái ta làm mờ ám (hoặc không ích kỉ mà phải chí công vô tư) [37] đã có trong Luận ngữ thì thế giới tuy có bất đồng, nhưng vẫn giữ được cục diện hoà hợp, vẫn bảo đảm được “hoà nhỉ bat đồng” mà thời xưa Khong Tử đã nói. Chu Khiêm (Godwin C.
Chu) là nhà nghiên cứu của trung tâm Đông Phương thuộc đại học Hawaii. Trong tác phẩm nỗi tiếng The Great Wall in Ruins xuất bản lần đầu năm 1993 tiến hành khảo sát sự ảnh hưởng của Nho học tới xã hội hiện đại trên 16 nhiều tầng của xã hội học gồm quan hệ gia đình, tổ chức, luân ly trong công việc, xã hội, giá trị văn hóa. Trong cuốn sách Bàn về Nho học hiện dai, Du Anh Thời cho rằng tất cả các phan tử trí thức, bất kế là phản đối hay đồng tình với Nho gia đều từng là những “người trong cuộc” của nền văn hóa Nho gia, bởi trong kinh nghiệm sống của họ đã thâm thấu các giá trị của Nho gia ở những mức độ khác nhau. Ông lý giải tư tưởng Nho gia có thê trở thành chủ lưu trong lịch sử Trung Quốc là bởi tư tưởng của Nho giáo được đại đa số triều đại thời kỳ phong kiến Trung Quốc sử dụng.
Song, chế độ phong kiến sup đồ từ cuối thoi Thanh, cho nên “lối thoát của Nho hoc hiện dai dựa vào lễ nghĩa dùng trong cuộc sống thường nhật” [116]. Chỉ có đưa Nho học vào đời song thực tế gần gũi hàng ngày mới có thê hóa giải các vấn dé của xã hội hiện đại đặt ra. Giá trị hạt nhân của Nho giáo là “luân lý”, giá trị này càng cần thiết trong xã hội hiện đại hóa, toàn cầu hóa hiện nay. Đỗ Duy Minh từng nói đến sự chuyên hướng sang hiện đại của truyền thống Nho học, chuyển hoá một cách sáng tạo, sự phát triển trong thời kì thứ ba của chủ nghĩa nhân văn Nho gia, “xuất phát từ truyền thong Nho gia và tiếp thu tinh than hiện đại của phương Tây”, “sáng tạo Nho học trong bối cảnh da nguyên hoá” [63].
Trong cuộc hội thảo “Đồi mới Nho học trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế” tổ chức ở Bắc Kinh tháng 10 - 2005, ông nói: Nho học thể hiện một cách đột xuất tư tưởng giáo dục luân lý xã hội, đạo lý làm người, học vấn sinh mệnh, phương thức của cuộc song, thé hiện tin ngưỡng của tinh thần nhân văn, là triết học và cũng là tôn giáo. Với thuyết “Nho giáo đệ tam kỳ phát triển”, Đỗ Duy Minh một lần nữa tai khang định thé ki XXL, triết học Trung Quốc (Nho giáo) sẽ là chủ lưu của cả thế giới, tinh thần Hoa Hạ sẽ được mở rộng ra toàn nhân loại. Trong cuốn sách Nho học thé ki XXI, trên cơ sở xem xét lại lịch sử phát triển của Nho học, suy nghĩ về khó khăn khi phát triển Nho giáo hiện dai và tự chuyền hóa, Đỗ Duy Minh đã đưa ra sứ mệnh của Nho học thé ki XXI: Nhận thức Nho học như thé nào?; Khó khăn của Nho học hiện đại và tự chuyên hóa; Giai đoạn thứ 3 của Nho hoc và Nho học thế ki XXI; Năm van đề của Nho học thé ki XXI. Đỗ Duy Minh đưa năm 17 van đề: Thứ nhát, giá tri cốt lõi của tinh thần nhân văn Nho gia; Tứ hai, sự chuyền hướng tinh thần triết học: Ý nghĩa đương dai của tâm tính học Nho gia; Thir ba, văn hóa đa nguyên, đối thoại hài hòa giữa các nền văn hóa: Từ góc độ Nho gia; Thứ tw, phát triển đối thoại văn minh và ý nghĩa của nó với thé giới; Thứ năm, đối thoại văn minh và tìm tiếng nói chung trong thời đại mới.
Nghiên cứu của các học giả Mỹ Từ những năm 80, 90 của thé ki XX, giới nghiên cứu Nho hoc tai Mỹ chia hai trường phái: phái Nho học Boston và phái Nho học Hawaii. Đặc điểm chủ yếu của phái nghiên cứu Nho học đại học Boston là “đối thoại”. phái Nho học Boston đặt giả thuyết đối thoại giữa Nho giáo và Hồi giáo, Nho học Hawaii lại đặt giả thuyết đối thoại giữa Nho giáo và Kito giáo. Các giả thuyết này nhanh chóng du nhập về Trung Quốc.
Tuy nhiên, những cuộc “đối thoại liên tôn” đó còn nhiều ý kiến trái chiều. Các học giả đại diện là Robert Cummin Neville và John Berthrong. Đại diện phái Nho học Hawaii (Thuyên thích phái) là Roger T.Ames và David L. Du chủ trương tư tưởng của hai phái khác nhau nhưng cùng đóng góp lớn cho việc nghiên cứu và quảng bá Nho học ra thế giới.Ames va Henry Rosemont Jr, viết The Analec of Confucius: A philosophical Translation (dịch: Luận ngữ của Không Tử: Một ban dịch triết hoc), cuốn sách đã đưa triết lý đạo Không sang tiếng Anh dé giới thiệu về lịch sử, triết lý, các lý luận của Không Tử.
Khác với các bản dịch kinh điển Nho gia trước, Roger T.Ames dựa vào tính triết học dé dịch. Ban dich thé hiện sự kết hợp giữa triết học phương Tây, Chủ nghĩa thực dụng và Nho học. Ví dụ trong quan niệm về giá trị trung tâm Luận ngữ là “Nhân” va “Quân tử” Roger T.Ames và Henry Rosemont Jr đưa ra khái niệm “hành vi có thâm quyền” và “người mẫu mực” [Roger T.Ames và Henry Rosemont Jr, 1998].Ames, dùng từ như vậy mới khiến đọc giả phương Tây hiểu được hệ tư tưởng Nho gia của Trung Quốc cô đại. Ngoài ra, ông còn các công trình tiêu biểu liên quan đến Nho giáo như: Quyển lực của văn hoá Nho giáo viết cùng với Peter Hershock, nhà xuất bản trường Đại học Bang New York năm 18 2006; Sách Sự tw mãn: Nho giáo và Đạo trong tắm gương của phương Đông và phương Tây nhà xuất bản Đại học Hồ Bắc năm 2006.
Hershock - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông - Tây Hoa Kỳ, đã phát biểu trong Hội thảo quốc tế “Nho giáo và triết lý giáo dục đương đại” năm 2019: “Trong thế kỷ XXI, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, con người càng lún sâu vào các vòng xoáy của thời cuộc, đó là lúc nhu cau giáo dục xã hội càng được coi trọng.