Chương 1 NHO GIÁO VỚI TÍNH CÁCH LÀ HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI —_ _. Cơ sở kinh tế - xã hội va tiền dé tư tưởng đối với Sự hình thành Nho giáo. Nho giáo xuất hiện ở Trung Quốc thời cổ đại do Không Tử (551 - 479 TCN) sáng lập. Tất nhiên trước Khổng Tử, “trước khi có một hệ thống học thuyết và đạo lý gọi là Nho giáo, đã có những con người và những tầng lớp xã hội gọi là nho xuất hiện" [34, tr.
Những tư tưởng, nguyên lý cơ bản của Nho giáo đã nằm rải rác ở các bộ Thu, Thi, Lễ, Dịch. Chính Khổng Tử đã san định những bộ kinh này với tinh thần “thudt nhỉ bất tác” nhưng chủ yếu là tiép thu, hệ thống và khẳng định những tư tưởng, nguyên lý của Nho gia, những bài học kinh nghiệm của đạo trị nước ở các triều đại trước đây. Cơ sở kinh tế - xã hội của sự hình thành Nho giáo. La một học thuyết chính trị - xã hội, Nho giáo cũng nảy sinh, tồn tại trên một cơ sở hạ tầng, một tồn tại xã hội nhất định.
Thời đại Khổng Tử là thời kỳ mà xã hội Trung Quốc diễn ra những biến đổi sâu sắc trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên lĩnh vực kinh tế: O Trung Quốc, đến thời Xuân Thu, là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nên nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Vào khoảng thế kỷ XI - V (TCN), ở Trung Quốc đã xuất hiện những trung tâm kinh tế, chính tri, văn hoá lớn. Sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh tế đã ảnh hưởng, tác động to lớn đến lính vực chính trị - xã hội.
No làm xuất hiện một cục diện mới trong xã hội Trung Quốc - thời Xuân Thu, đó là "Triều đại nhà Chu suy sụp từ đầu Đông Chu đến đây là hết han. Tình trạng xen kế lẫn nhau giữa hình thái chiếm hữu nô lệ cứ lùi dân và hình thái phong kiến cát cứ mới nảy sinh với xu thế hướng tới tập quyền ngày càng mạnh mẽ cũng chấm dứt" [31,tr. Sự tác 12 động đó trước hết và rõ rệt nhất là đối với các hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai cấp của xã hội. Hệ quả tất yếu là, những mâu thuần vốn có và mới nảy sinh trong lòng xã hội ngày càng sâu sắc, trầm trọng hơn, đặc biệt là mâu thuẫn giữ a gia i cấp thố ng trị bóc lột với gia i cấp nôn g dân và các tần g lớp bị thống trị, bị bóc lột khác.
Nếu như trước đây, như sách Kinh Thi viết: "Đất đai thân dân dướ i gầ m trờ i này khô ng ở đâu khô ng phả i là của vua " thì đến lúc này, cái quyền sở hữu tối cao và tuyệt đối đó đã bị một lớp người mới lên (giai cấp địa chủ ) có sức mạn h kin h tế tiến côn g và chi ếm dụn g. Tìn h trạ ng mất đất, mất dân đã làm cho giai cấp quý tộc nhà Chu suy yếu. Và từ sự suy yếu về kin h tế, đã dẫn tới sự suy yếu về địa vị và vai trò chính trị của nhà Chu. Ngôi Thiên tử của nhà Chu chỉ còn là hình thức, trong khi đó, các nước chư hầu dùng chiến tranh để thôn tính lẫn nhau, “Chư hầu lấn quyền thiên tử, đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, con giết cha, trật tự xã hội rất là rối loạn" [I,tr.
Tình trạng đó càng làm cho xã hội thêm rối loạn, trật tự kỷ cương từ trong gia đình đến ngoài xã hội theo mô hình và thể chế của nhà Chu bị vi phạm. Bên cạnh đó là tinh trạng trên yếu, dưới mạnh do tang lớp địa chủ mới lên ngày càng giàu có, lấn at quý tộc cũ, "thậm chí tang lớp này còn chiếm cả chính quyền như họ Quý thị ở nước Lỗ, họ Trần ở nước Té" [136,tr. Rõ ràng, tình trạng chiến tranh liên miên giữa các nước chư hầu đã làm cho đất nước suy kiệt, đời sống của nhân dân ngày càng đau khổ, cùng cực; sự xuất hiện nhiều cuộc bạo động, khởi nghĩa của nông dân để phản kháng, chống lại chế độ nha Chu; trật tự, kỷ cương xã hội ngày càng rối loạn;. tất cả đã uy hiếp sự tồn tại của chế độ cũng như cách tổ chức, quản lý xã hội của nhà Chu và tạo ra một hợp lực đẩy nhà Chu đến bờ diệt vong.
Mặt khác, sự rối loạn trật tự xã hội đã tạo ra mot tình trạng phi nhân tính, vô đạo đang thống tri trong xã hội, làm cho các mối quan hệ giữa người với người đều bị biến dạng ghê gớm. Thực tiễn xã hội lúc bấy giờ đã đặt ra một vấn đề lớn: Cách tổ chức và quản lý xã hội theo mô hình nhà Chu không còn thích hợp nữa. Vậy cần phải lam thế nào để thiết lập lại trật tự, kỷ cương của xã hội, và điều quan trọng 13 hơn, là đưa xã hội vào thế ổn định để phát triển. Việc nhận thức đúng đắn và giải đáp có hiệu quả vấn đề này gắn liền và có mối quan hệ mật thiết với việc lựa chọn mô hình xã hội cùng với phương thức quản lý nào để đưa xã hội Trung Quốc thoát ra khỏi tình trạng rối loạn, khủng hoảng và phát triển là nỗi băn khoăn của thời đại và là nội dung chủ yếu trong đời sống tư tưởng chính trị của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ.
Chính vì vậy trong xã hội Trung Quốc đã xuấ t hiệ n nhi ều tru ng tâm , nhi ều tụ điể m của nhữ ng kể sĩ. Mặ c dù thà nh phan xuấ t thâ n của tan g lớp kẻ sĩ này là da dạn g, phứ c tạp như ng nhì n chu ng, họ déu đứng trên lập trường của giai cấp, tang lớp mình mà phê phán (cải tao hay xoá bỏ) trật tự xã hội cũ. Tình hình trên đã tạo nên cục diện "Bách gia tranh minh", "Bách gia chư tử" mà kết quả là làm xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, nhiều học phái khác nhau trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Sự ra đời của Nho giáo với tư cách là học thuyết triết học, học thuyết chính trị - xã hội, đạo đức cũng từ bối cảnh đó.
Tiên đề tư tưởng cho sự hình thành Nho giáo. Sự ra đời của Nho giáo còn bắt nguồn (tiếp thu, kế thừa) ft đời sống tư tưởng (tôn giáo, chính trị, đạo đức) của Trung Quốc từ trước đến bấy giờ, đặc biệt dưới thời nhà Chu. Về tôn giáo, nhà Chu đề cao tư tưởng "kính trời", "hợp mệnh trời", "thờ thượng dé", "trời và người hợp nhất". Nhà Chu cho rằng, Trời (còn gọi là thượng đế) là lực lượng có nhân cách, có ý chí và có uy quyền tuyệt đối.
Chính vì vậy mà nhà Chu cho rằng, vì nhà Ân không biết mệnh trời, hành động không hợp với mệnh trời, do vậy Thượng đế đã trừng phạt và để cho nhà Chu thay thế nhà Ân cai trị dân. Về chính trị, những nhà tư tưởng của tầng lớp quý tộc nhà Chu khẳng định rằng, vì nhà Chu biết và làm theo "mệnh trời" mà được "nhận dan" từ tay nhà Ân để "hưởng dân" và "trị dân" suốt đời; nếu kẻ nào chống lại "mệnh trời" đó thì nhà Chu vâng mệnh trời và thay trời trừng phạt, chém giết. Vua nhà Chu là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất và mọi người trong xã hội đều là thần dân của nhà vua; vua là Thiên tử (con trời) được thay trời thống trị thiên hạ, 14 cai trị dân. Rõ ràng, tư tưởng chính trị dưới thời nhà Chu là hết sức phản động nhưng lại được phủ lên một lớp son tôn giáo về "ý trời", "mệnh trời”.
Về đạo đức, tư tưởng đạo đức của nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiéu làm nòng cốt. Từ quan niệm chính trị - tôn giáo "Trời và người hợp nhất", nhà Chu khẳng định rằng, vì các bậc tiên vương nhà Chu có đức mà được sánh cùng thượng đế, được thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân., cho nên các vua đời sau phải biết kính cái đức đó, phải biết bồi dưỡng nó để cho con cháu được hưởng nước, hưởng dân lâu dài. H/ế/ là thờ phụng tổ tiên, phải nhớ công lao của tổ tiên mà giữ gìn phép tắc tổ tiên để lại. Có cái đức Hiếu như vậy, mới nhận được mệnh trời mà được hưởng nước, hưởng dân mãi mãi.
Đây là một quan niệm đạo đức nhằm củng cố và tuyên truyền sự tồn tại vĩnh viễn địa vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu và nhà nước quý tộc Chu. Nho giáo tiếp nhận vào hệ thống của mình những tư tưởng tôn giáo, chính trị, đạo đức trên đây của nhà Chu, về thực chất, cũng là sự tiếp nhận một phương thức chính trị mà giai cấp thống trị của các triều đại trước đây đã thực hiện là sử dụng thdn quyền dé củng cố và thực hiện vương quyền (tất nhiên không chấp nhận sự lấn at của than quyền đối với vương quyền) trong việc cai tri. Đến thời Khổng Tử, Nho giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nó không thể không liên hệ mật thiết với đời sống kinh tế và phản ánh đời sống kinh tế của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, để khắc phục tình trạng rối loạn xã hội và đưa xã hội vào thế ổn định và phát triển, Nho giáo một mặt, ở phương diện nào đó, vân thừa nhận và sử dụng sức mạnh của thần quyền.
Nhưng mặt khác, mặt cơ bản, tư tưởng của Nho giáo phải khẳng định địa vị đứng trên của vương quyền đối với thần quyền cũng như vị trí, vai trò của con người trong những diễn biến của lịch sử. Thực ra, trong đời sống chính trị của Trung Quốc từ trước đến thời Khổng Tử, các thế lực thống trị xã hội phải quan tâm, dù ở một mức độ nào đó, đến đời sống của nhân dân, đến vai trò của người dân. Điều này không phải là ý muốn chủ quan của các thế lực thống trị xã hội mà nó phản ánh một thực tế ở Trung Quốc (cũng như các nước phương Đông nói chung) là, địa vị 15 thống trị xã hội không phải bao gi ờ và lú c nà o cũ ng bị qu yế t đị nh tr ực ti ếp bở i địa vị kinh tế.