Tổng quan nghiên cứu
Trong tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị và Hiến pháp năm 2013, việc nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo đảm không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm. Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử ghi nhận tại Điều 27 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã tạo hành lang pháp lý bảo đảm tính đúng đắn của phán quyết sơ thẩm.
Giai đoạn xét xử phúc thẩm đóng vai trò kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn 2015 - 2019 trên phạm vi toàn quốc ghi nhận toàn ngành Kiểm sát nhân dân đã thụ lý thực hành quyền công tố đối với 74.728 bị cáo theo thủ tục phúc thẩm. Trong đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã đưa ra xét xử 49.751 bị cáo, đạt tỷ lệ giải quyết khoảng 66,58%.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn này vẫn bộc lộ nhiều bất cập do một số quy định pháp luật chưa cụ thể, thiếu sự phối hợp liên ngành chặt chẽ và nhận thức chưa đồng nhất giữa các cấp kiểm sát. Nghiên cứu này hướng đến việc hệ thống hóa toàn diện lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự, nâng cao chất lượng tranh tụng và hiệu quả thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước theo Điều 107 Hiến pháp năm 2013, xác lập Viện kiểm sát nhân dân là thiết chế duy nhất thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng lý thuyết về chế độ hai cấp xét xử được ghi nhận trong luật quốc tế tại Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và cụ thể hóa tại Điều 27 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Các khái niệm nòng cốt được làm rõ bao gồm: quyền công tố, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, nhiệm vụ của Viện kiểm sát và quyền hạn của Viện kiểm sát. Bên cạnh đó, luận văn tiến hành so sánh đối chiếu với mô hình công tố tại 3 hệ thống pháp luật lớn trên thế giới: Cộng hòa liên bang Đức với 116 văn phòng công tố cấp tỉnh và 25 văn phòng công tố cấp khu vực; Hoa Kỳ với 12 tòa phúc thẩm liên bang phụ trách xem xét các sai sót áp dụng luật; và Liên bang Nga theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2001 thay thế luật năm 1960.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và hồ sơ nghiệp vụ phúc thẩm trên toàn quốc trong thời gian 5 năm, từ năm 2015 đến năm 2019.
Về quy mô, cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 74.728 bị cáo được thụ lý và 49.751 bị cáo đã xét xử phúc thẩm trong giai đoạn khảo sát. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm phản ánh toàn diện, chính xác bức tranh thực tiễn mà không bị sai lệch bởi các yếu tố cục bộ.
Tác giả kết hợp linh hoạt các phương pháp phân tích: thống kê mô tả, phân tích quy phạm pháp luật, tổng hợp định lượng và so sánh luật học. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, xác thực của các chỉ số thực chứng, từ đó làm căn cứ vững chắc cho việc đánh giá những thành tựu đạt được cũng như chỉ ra nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế trong hoạt động công tố phúc thẩm.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích dữ liệu thực tiễn công tác thực hành quyền công tố giai đoạn 2015 - 2019 cho thấy các phát hiện cụ thể sau:
Thứ nhất, tỷ lệ giữ nguyên bản án sơ thẩm chiếm ưu thế với 29.079 bị cáo, đạt tỷ lệ 60,60% trên tổng số 49.751 bị cáo đã xét xử. Tỷ lệ y án theo từng năm có xu hướng giảm từ 65,68% năm 2016 xuống còn 56,11% năm 2019.
Thứ hai, tỷ lệ sửa bản án sơ thẩm chiếm tỷ trọng rất cao với 17.155 bị cáo, tương đương 35,55%. Xu hướng sửa án tăng mạnh từ 30,91% năm 2016 lên mức đỉnh điểm 40,66% năm 2018 và duy trì ở mức 38,97% vào năm 2019.
Thứ ba, tỷ lệ hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại là 1.001 bị cáo, chiếm 3,14% tổng số bị cáo đã xét xử; số vụ hủy điều tra lại tăng đều từ 268 vụ (tỷ lệ 2,61%) năm 2015 lên 338 vụ (tỷ lệ 3,47%) năm 2019. Trong khi đó, số vụ hủy án để xét xử lại là 252 vụ với 395 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,51%, tăng từ 36 vụ năm 2015 lên 100 vụ năm 2019.
Thứ tư, Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với 95 vụ với 121 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,19%, tăng từ 4 vụ năm 2015 lên 41 vụ năm 2019.
Thảo luận kết quả
Thực trạng tỷ lệ sửa án ở mức cao (35,55%) và tỷ lệ hủy án có chiều hướng tăng phản ánh cả mặt tích cực lẫn hạn chế. Về mặt tích cực, Kiểm sát viên cấp phúc thẩm đã chủ động phát hiện nhiều sai sót của cấp sơ thẩm trong việc áp dụng điều luật, đánh giá tính chất hành vi và quyết định mức hình phạt. Về mặt hạn chế, số liệu cho thấy công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử ở cấp sơ thẩm tại một số địa phương còn thiếu sót, chưa đánh giá toàn diện chứng cứ và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ đường thể hiện sự tương phản giữa xu hướng giảm của tỷ lệ y án (từ 65,68% xuống 56,11%) và sự gia tăng của tỷ lệ sửa án (từ 30,91% lên 38,97%), cùng bảng ma trận phân loại nguyên nhân hủy bản án. So chiếu với kinh nghiệm của Liên bang Nga và Cộng hòa liên bang Đức, quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên tòa cần được mở rộng và độc lập hơn khi phát biểu quan điểm, bổ sung chứng cứ mới theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 nhằm bảo đảm phán quyết phúc thẩm chính xác, thấu tình đạt lý.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị trọng tâm:
Thứ nhất, sửa đổi và hoàn thiện quy định tại Điều 342 và Điều 354 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cần quy định rõ giới hạn quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo hướng bảo đảm không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, đồng thời phân định ranh giới giữa việc rút một phần và rút toàn bộ kháng nghị. Chủ thể thực hiện: Quốc hội; Thời gian thực hiện: giai đoạn 2022 - 2025; Mục tiêu định lượng: giảm 20% các vướng mắc tố tụng liên quan đến thủ tục xử lý kháng nghị tại tòa.
Thứ hai, ban hành Thông tư liên tịch giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn chi tiết Điều 353 về thủ tục thu thập, xác minh và chuyển giao chứng cứ mới theo biểu mẫu nghiệp vụ số 10/XP. Chủ thể thực hiện: Liên ngành tư pháp Trung ương; Thời gian thực hiện: hoàn thành trong 12 tháng; Mục tiêu định lượng: bảo đảm 100% chứng cứ bổ sung được thẩm tra và tống đạt cho các bên trước ngày mở phiên tòa ít nhất 05 ngày làm việc.
Thứ ba, tăng cường tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu về kỹ năng xét hỏi, tranh luận và xử lý tình huống phát sinh tại tòa cho hơn 3.000 Kiểm sát viên làm công tác phúc thẩm. Chủ thể thực hiện: Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội và Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại TP. Hồ Chí Minh; Thời gian thực hiện: định kỳ hàng năm giai đoạn 2022 - 2026; Mục tiêu định lượng: nâng tỷ lệ bảo vệ thành công kháng nghị phúc thẩm lên trên 85%.
Thứ tư, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số liên thông theo dõi các vụ án bị hủy, sửa để định kỳ hàng quý ban hành văn bản rút kinh nghiệm nghiệp vụ đối với Viện kiểm sát cấp sơ thẩm. Chủ thể thực hiện: Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Thời gian thực hiện: triển khai trong 24 tháng; Mục tiêu định lượng: kéo giảm tỷ lệ án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy do lỗi chủ quan xuống dưới 1,0%.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung công trình mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
Thứ nhất, đội ngũ Kiểm sát viên và Kiểm tra viên thuộc ngành Kiểm sát nhân dân (với hơn 10.000 cán bộ toàn ngành) có thể sử dụng luận văn làm tài liệu hướng dẫn kỹ năng nghiệp vụ thực hành quyền công tố, xử lý việc thay đổi, bổ sung kháng nghị và xây dựng bản phát biểu quan điểm giải quyết vụ án theo đúng Điều 266 và Điều 354 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Thứ hai, Thẩm phán và Thư ký Tòa án nhân dân các cấp có thể tham khảo để nắm bắt cơ chế tiếp nhận chứng cứ mới, phương thức phối hợp tố tụng liên ngành và đánh giá tính có căn cứ của kháng cáo, kháng nghị trong hơn 49.000 vụ án phúc thẩm được thụ lý hàng năm.
Thứ ba, Luật sư và Người bào chữa hình sự (với hơn 15.000 luật sư trên cả nước) có thêm cơ sở thực tiễn để hiểu rõ phạm vi quyền năng của Kiểm sát viên, từ đó xây dựng chiến lược tranh tụng, đối đáp và bảo vệ hiệu quả quyền lợi của thân chủ tại phiên tòa phúc thẩm.
Thứ tư, Giảng viên, Học viên cao học và Nghiên cứu sinh ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự tại hơn 20 cơ sở đào tạo luật lớn có thể khai thác khung lý luận chuyên sâu, chuỗi số liệu 5 năm (2015 - 2019) và nguồn tài liệu so sánh pháp luật quốc tế phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu.
Câu hỏi thường gặp
Viện kiểm sát có được quyền bổ sung kháng nghị làm xấu hơn tình trạng của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm không? Theo Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP, tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát không được bổ sung, thay đổi kháng nghị theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo như đề nghị tăng hình phạt hay không cho hưởng án treo. Quyền kháng nghị tăng nặng chỉ hợp lệ khi thực hiện trước phiên tòa và còn trong thời hạn luật định từ 15 đến 30 ngày.
Kiểm sát viên có thẩm quyền tự mình thu thập chứng cứ mới ở cấp phúc thẩm không? Căn cứ Điều 353 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 39 Quy chế nghiệp vụ số 505/QĐ-VKSTC năm 2017, Kiểm sát viên hoàn toàn có quyền tự mình xác minh, thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu Viện kiểm sát cấp sơ thẩm bổ sung tài liệu bằng văn bản nghiệp vụ Mẫu số 10/XP nhằm bảo vệ quan điểm công tố hoặc làm sáng tỏ tình tiết có lợi cho bị cáo.
Tỷ lệ bản án hình sự sơ thẩm bị cấp phúc thẩm tuyên sửa trong giai đoạn 2015 - 2019 là bao nhiêu? Theo số liệu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tỷ lệ sửa án sơ thẩm bình quân chiếm 35,55% với 17.155 bị cáo trên tổng số 49.751 bị cáo đã xét xử. Tỷ lệ này đạt mức cao nhất vào năm 2018 với 40,66% số vụ, chủ yếu do cấp sơ thẩm áp dụng chưa chuẩn xác các điều khoản định khung và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Điểm khác biệt căn bản về nhiệm vụ của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm so với sơ thẩm là gì? Khác với phiên tòa sơ thẩm, theo Điều 354 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Kiểm sát viên tại tòa phúc thẩm không đọc bản cáo trạng và bản luận tội. Thay vào đó, Kiểm sát viên trình bày ý kiến về tính hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án dựa trên kết quả xét hỏi, tranh tụng công khai tại phiên tòa.
Kinh nghiệm quốc tế của Đức và Hoa Kỳ về quyền công tố tại cấp phúc thẩm có điểm gì nổi bật? Tại Cộng hòa liên bang Đức với 116 văn phòng công tố cấp tỉnh và 25 văn phòng công tố khu vực, thời hạn kháng nghị là 01 tuần hoặc 01 tháng và công tố viên được kháng nghị vì lợi ích bị cáo. Tại Hoa Kỳ với 12 tòa phúc thẩm liên bang, việc xem xét lại bản án chủ yếu tập trung vào các sai sót áp dụng pháp luật và vi phạm thủ tục sơ thẩm.
Kết luận
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và nền tảng pháp lý về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố tại giai đoạn xét xử phúc thẩm theo Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Đánh giá thực chứng bức tranh thụ lý 74.728 bị cáo và xét xử 49.751 bị cáo trong 5 năm (2015 - 2019), làm rõ nguyên nhân của tỷ lệ 35,55% bản án bị sửa và 3,14% bị hủy điều tra lại.
- Tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ từ 3 hệ thống pháp luật lớn (Đức, Mỹ, Nga) để vận dụng linh hoạt vào điều kiện cải cách tư pháp tại Việt Nam.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá gắn với lộ trình 2022 - 2025 nhằm hoàn thiện Điều 342, Điều 353 Bộ luật Tố tụng hình sự và nâng cao kỹ năng cho hơn 3.000 Kiểm sát viên.
- Khẳng định giá trị thực tiễn to lớn của công trình trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền con người và bảo đảm truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật theo Nghị quyết số 49-NQ/TW.
Các cơ quan tư pháp và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình để ứng dụng vào công tác thực hành quyền công tố, đồng thời làm tiền đề mở rộng nghiên cứu trong giai đoạn 2025 - 2030.