phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm hai chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và quy định về nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng quy định về nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH VỀ NHẬP TÀI SẢN RIÊNG VÀO TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận về nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng 1. Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản riêng Sở hữu tài sản là quyền cơ bản của công dân đã đƣợc ghi nhận tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013 của nƣớc ta, cụ thể nhƣ sau: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh họat, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” [8].
Cụ thể hóa nội dung về quyền sở hữu của công dân, Nhà nƣớc ta đã ban hành BLDS năm 2015 để quy định một cách bao quát, chung nhất về tài sản, quyền tài sản của công dân, theo đó, quyền sở hữu đƣợc thể hiện bởi ba quyền năng là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Trên cơ sở đó, Luật HN&GĐ cũng đã ghi nhận về chế độ tài sản của vợ chồng, theo đó, pháp luật HN&GĐ cho phép và ghi nhận vợ, chồng có quyền sở hữu tài sản riêng. Việc xác định đâu là tài sản riêng, đâu là tài sản chung vợ chồng sẽ khác nhau tùy thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng lựa chọn là chế độ tài sản theo thỏa thuận hay chế độ tài sản theo luật định, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng. Về nguyên tắc, trƣờng hợp vợ chồng lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận thì tài sản riêng của vợ, chồng đƣợc xác định theo thỏa thuận của vợ chồng; còn trƣờng vợ chồng lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định thì tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm: 9 - Một là, tài sản mỗi bên vợ chồng có được từ trước khi kết hôn: Theo quy định tại Điều 43 Luật HN&GĐ năm 2014: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn” [14].
Sự kiện kết hôn hay thời kỳ hôn nhân là một trong những căn cứ quan trọng để xác định tài sản là tài sản chung hay tài sản riêng, vợ chồng. Theo quy định của pháp luật hiện hành, thời kỳ hôn nhân đƣợc hiểu là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ, chồng đƣợc tính từ ngày đăng ký kết hôn đƣợc ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký kết hôn hoặc kể từ ngày đƣợc công nhận quan hệ hôn nhân do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cấp. Kể từ thời điểm này, quan hệ hôn nhân đƣợc pháp luật bảo vệ, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ yêu thƣơng, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau theo quy định của pháp luật. Đồng thời, quan hệ tài sản vợ, chồng sẽ phải chịu sự điều chỉnh của Luật HN&GĐ.
Trƣớc ngày đăng ký kết hôn, tài sản của mỗi bên vợ, chồng theo nguyên tắc xác định quyền sở hữu sẽ là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng nếu hai vợ chồng không có thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Sau khi đăng ký kết hôn, họ sẽ bắt đầu cuộc sống chung và cùng nhau tạo lập ra tài sản chung. Việc pháp luật HN&GĐ ghi nhận tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có đƣợc trƣớc khi kết hôn là tài sản riêng đã góp phần bảo vệ quyền lợi của mỗi bên vợ, chồng, bảo vệ quyền sở hữu của họ đối với tài sản của mình, việc quy định trên cũng là căn cứ pháp lý quan trọng khi phải xác định tài sản của vợ chồng khi xảy ra tranh chấp. - Hai là, tài sản của vợ, chồng đƣợc thừa kế riêng, đƣợc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 thì tài sản riêng vợ, chồng là tài sản vợ, chồng đƣợc thừa kế riêng, đƣợc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân.
Khi chủ sở hữu tài sản để lại di sản thừa kế hay tặng cho tài sản của 10 mình cho một bên vợ, chồng thì quyền sở hữu sẽ đƣợc xác lập với mỗi bên vợ, chồng. Ý chí của chủ sở hữu tài sản khi đó là nhằm mục đích chuyển dịch quyền sở hữu cho từng cá nhân chứ không phải cho cả hai vợ chồng. Do đó, để đảm bảo quyền tự định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của mình trong việc chuyển dịch tài sản, pháp luật hiện hành đã ghi nhận khả năng xác lập quyền sở hữu hay quyền sử dụng riêng đối với tài sản mà vợ, chồng đƣợc thừa kế, tặng cho riêng. Trong thực tế đời sống, chủ sở hữu thƣờng sẽ để lại thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng đối với những ngƣời thân trong gia đình, họ hàng hay bạn bè thân quen của mỗi bên vợ, chồng.
Việc này đƣợc thực hiện theo ý chí tự nguyện của chủ sở hữu mà không bị ai ép buộc. Mỗi bên vợ, chồng khi nhận đƣợc tài sản đó có thể xác lập quyền sở hữu riêng cho mình. Ngoài ra, trên thực tế còn có trƣờng hợp chủ sở hữu tuyên bố tặng cho chung để lại thừa kế chung cho cả hai vợ, chồng nhƣng lại xác định riêng tỷ lệ giá trị tài sản mà vợ, chồng sẽ đƣợc hƣởng. Theo nguyên tắc, phần đƣợc xác định riêng đó sẽ thuộc tài sản riêng của vợ, chồng mà không đƣợc nhập vào tài sản chung, tài sản đó chỉ trở thành tài sản chung khi hai vợ, chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung hoặc thỏa thuận tài sản đó là tài sản chung.
- Ba là, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng Nhu cầu thiết yếu đƣợc giải thích tại khoản 20 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 nhƣ sau: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình” [14]. Đây là điểm mới trong quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 mang ý nghĩa mở rộng so với khái niệm tài sản riêng chỉ bao gồm “đồ dùng, tư trang cá nhân” của vợ, chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000. Mặc dù đã đƣợc giải thích cụ thể nhƣ trên, tuy nhiên, việc xác định tài sản là nhu cầu thiết yếu của 11 vợ, chồng trên thực tế vẫn phát sinh một số vƣớng mắc nhất định. Bởi lẽ, đối với mỗi gia đình khác nhau, hoàn cảnh sống khác nhau, điều kiện kinh tế khác nhau thì những nhu cầu đƣợc coi là thiết yếu cũng sẽ khác nhau.
Có thể với một số gia đình thì nhu cầu thiết yếu chỉ là những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày nhƣ quần, áo, giày, dép,… nhƣng đối với một số gia đình khác thì nhu cầu thiết yếu phải bao gồm cả những tiện nghi khác nhƣ ô tô, máy tính hay những vật dụng có giá trị lớn khác. Thông thƣờng, khi có tranh chấp xảy ra, cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền sẽ dựa vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình để nhận định một cách linh hoạt. - Bốn là, tài sản mà vợ chồng đƣợc chia khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ cho phép vợ, chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong ba trƣờng hợp, bao gồm: chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để đầu tƣ kinh doanh riêng; để thực hiện nghĩa vụ riêng hoặc trong trƣờng hợp có lý do chính đáng khác. Tuy nhiên, không chỉ trong những trƣờng hợp trên mà còn nhiều trƣờng hợp khác vợ, chồng muốn chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, ví dụ: nhiều trƣờng hợp vợ, chồng có mâu thuẫn với nhau nhƣng không muốn ly hôn vì nhiều lý do ràng buộc khác mà vẫn muốn chia tài sản chung.
Quy định trên có phần làm hạn chế quyền tự định đoạt về tài sản của vợ chồng, không còn đáp ứng đƣợc nhu cầu thực tế của xã hội. Do đó, Luật HN&GĐ năm 2014 đã bỏ quy định này, cho phép vợ chồng đƣợc quyền thỏa thuận việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không cần đáp ứng điều kiện về mục đích của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo quy định định của Luật HN&GĐ năm 2000. Tuy nhiên, thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa hai vợ, chồng cần đáp ứng các điều kiện về hình thức về nội dung đƣợc quy định từ Điều 38 đến Điều 40 Luật HN&GĐ năm 2014, cụ thể: về hình thức, 12 thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải lập thành văn bản có công chứng, về nội dung của thỏa thuận không đƣợc trái quy định của pháp luật và đặc biệt không đƣợc làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền, lợi ích hợp pháp của con chƣa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với ngƣời khác. Trƣờng hợp một trong hai bên vợ, chồng muốn chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhƣng không thỏa thuận đƣợc với nhau thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo đó, sau khi chia tài sản chung vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản đƣợc chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung đƣợc xác định là tài sản riêng của vợ, chồng (Điều 40Luật HN&GĐ năm 2014). - Năm là, tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.