Luận văn: Quản lý nhà nước về nhập khẩu thép phế liệu tại Việt Nam - ĐHK kinh tế

Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước: Nghiên cứu hoạt động nhập khẩu thép phế liệu tại Việt Nam. Phân tích thực trạng và giải pháp quản lý hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò nhập khẩu thép phế liệu trong kinh tế tuần hoàn

Hoạt động nhập khẩu thép phế liệu đóng một vai trò chiến lược trong nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế tuần hoàn. Thép phế liệu không phải là rác thải, mà là một nguyên liệu sản xuất thép quan trọng, giúp giảm phụ thuộc vào khai thác quặng sắt tự nhiên, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính. Việc tận dụng nguồn phế liệu nhập khẩu cho phép các doanh nghiệp trong nước chủ động được nguồn cung, ổn định sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo Viện nghiên cứu Công nghiệp tái chế thép phế liệu của Mỹ (ISRI), sử dụng thép phế liệu giúp tiết kiệm đến 74% năng lượng và giảm 86% ô nhiễm không khí so với sản xuất từ quặng. Tuy nhiên, để hoạt động này phát huy hiệu quả, công tác quản lý nhà nước cần được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích kinh tế và mục tiêu bảo vệ môi trường, ngăn chặn nguy cơ biến Việt Nam thành bãi rác công nghiệp.

1.1. Tầm quan trọng của thép phế liệu như một nguồn nguyên liệu

Thép phế liệu là sản phẩm được loại ra trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng nhưng vẫn còn giá trị sử dụng cao, trở thành đầu vào thiết yếu cho ngành luyện kim. Theo luận văn của Nguyễn Thị Khánh Ly (2015), trong thép phế liệu chứa đến 97% là sắt, giúp giảm thiểu tạp chất trong quá trình tái chế. So với việc sản xuất từ quặng sắt, vốn đòi hỏi đầu tư lớn và tiêu thụ nhiều than cốc, sản xuất từ thép phế liệu chỉ cần điện và dung môi, giúp giảm chi phí đáng kể. Nguồn cung trong nước hiện chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu, ví dụ, nhu cầu khoảng 5 triệu tấn/năm trong khi nguồn cung nội địa chỉ đạt 1,2 triệu tấn/năm. Do đó, việc nhập khẩu là giải pháp tất yếu để cung ứng đủ nguyên liệu sản xuất thép, thúc đẩy ngành công nghiệp thép phát triển bền vững và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

1.2. Phân tích nhu cầu và thực trạng nhập khẩu tại Việt Nam

Nhu cầu nhập khẩu thép phế liệu tại Việt Nam tăng mạnh từ sau năm 2005, khi các nhà máy luyện thép quy mô công nghiệp lớn như của Tập đoàn Hòa Phát đi vào hoạt động. Luận văn gốc chỉ ra rằng, sản lượng nhập khẩu đã tăng từ 1,4 triệu tấn (năm 2010) lên đến 3,5 triệu tấn (năm 2014). Các thị trường cung cấp chính bao gồm Mỹ, Úc, và đặc biệt là Nhật Bản trong những năm gần đây. Hoạt động này không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất mà còn tạo ra việc làm và thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ trợ. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng này cũng đặt ra những thách thức lớn về công tác quản lý, đòi hỏi một hệ thống chính sách quản lý phế liệu nhập khẩu hiệu quả để kiểm soát chất lượng và ngăn ngừa các rủi ro tiềm ẩn về môi trường.

II. Các thách thức trong quản lý nhập khẩu phế liệu hiện nay

Hoạt động quản lý nhà nước đối với việc nhập khẩu thép phế liệu đang đối mặt với nhiều thách thức phức tạp. Vấn đề lớn nhất là cân bằng giữa mục tiêu phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh môi trường. Việc nới lỏng quản lý có thể dẫn đến tình trạng nhập khẩu rác thải công nghiệp trá hình, gây ra ô nhiễm xuyên biên giới và tác động tiêu cực lâu dài đến hệ sinh thái. Ngược lại, việc siết chặt quá mức bằng các hàng rào kỹ thuật phức tạp có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu chân chính, làm tăng chi phí và giảm sức cạnh tranh. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng như Tổng cục Hải quanBộ Tài nguyên và Môi trường đôi khi còn chưa đồng bộ, dẫn đến những bất cập trong khâu kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Việc thiếu một khung pháp lý hoàn chỉnh, cập nhật và dễ áp dụng cũng là một rào cản lớn.

2.1. Nguy cơ về ô nhiễm xuyên biên giới và an ninh môi trường

Rủi ro lớn nhất từ hoạt động nhập khẩu phế liệu là nguy cơ biến Việt Nam thành nơi tập kết chất thải nguy hại. Các lô hàng phế liệu có thể bị trà trộn các tạp chất độc hại, rác thải phóng xạ hoặc các vật liệu không thể tái chế, gây khó khăn cho quá trình xử lý và có thể phát tán chất độc ra môi trường đất, nước và không khí. Công ước Basel mà Việt Nam là thành viên đã có những quy định chặt chẽ về vận chuyển chất thải nguy hại xuyên biên giới, tuy nhiên việc giám sát và thực thi vẫn còn nhiều kẽ hở. Do đó, công tác quản lý môi trường tại các cảng biển và cửa khẩu phải được đặt lên hàng đầu, yêu cầu sự đầu tư về công nghệ giám định và năng lực chuyên môn của cán bộ để đảm bảo an ninh môi trường quốc gia.

2.2. Khó khăn cho doanh nghiệp trước các hàng rào kỹ thuật

Mặc dù cần thiết, các hàng rào kỹ thuật như tiêu chuẩn chất lượng, quy định về làm sạch, và tỷ lệ tạp chất cho phép đôi khi lại gây khó khăn cho doanh nghiệp. Các quy định thay đổi liên tục, thiếu sự nhất quán có thể khiến doanh nghiệp không kịp thích ứng. Chi phí cho việc giám định chất lượng phế liệu và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia về phế liệu như QCVN 31:2018/BTNMT là không nhỏ. Hơn nữa, sự khác biệt trong quy định giữa Việt Nam và các nước xuất khẩu cũng tạo ra những tranh chấp thương mại không đáng có. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng một lộ trình áp dụng các quy định một cách minh bạch, hợp lý và có tham vấn ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi.

III. Giải pháp siết chặt chính sách quản lý phế liệu nhập khẩu

Để giải quyết các thách thức, việc hoàn thiện khung pháp lý là giải pháp nền tảng. Các quy định nhập khẩu phế liệu cần được xây dựng một cách khoa học, rõ ràng và phù hợp với thông lệ quốc tế. Trọng tâm của nhóm giải pháp này là việc thực thi hiệu quả Nghị định 08/2022/NĐ-CP, quy định chi tiết Luật Bảo vệ Môi trường 2020. Văn bản này đã tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ hơn, yêu cầu cao hơn về trách nhiệm của doanh nghiệp và quy định rõ ràng về các điều kiện nhập khẩu. Việc chuẩn hóa quy trình cấp giấy phép nhập khẩu phế liệu và áp dụng cơ chế ký quỹ bảo vệ môi trường là những công cụ hữu hiệu để sàng lọc các doanh nghiệp đủ năng lực, đồng thời đảm bảo nguồn tài chính để xử lý các sự cố môi trường nếu có.

3.1. Phân tích Nghị định 08 2022 NĐ CP và các quy định mới

Nghị định 08/2022/NĐ-CP được xem là một bước tiến quan trọng trong chính sách quản lý phế liệu nhập khẩu. Nghị định này quy định rõ các tiêu chí về công nghệ, kho bãi và năng lực xử lý môi trường mà doanh nghiệp phải đáp ứng. Theo đó, chỉ những doanh nghiệp trực tiếp sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, có công nghệ tái chế tiên tiến và báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt mới đủ điều kiện nhập khẩu. Nghị định cũng đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt về quy chuẩn kỹ thuật đối với phế liệu nhập khẩu, buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ chặt chẽ QCVN 31:2018/BTNMT. Việc thực thi nghiêm túc các quy định này sẽ góp phần loại bỏ các đơn vị làm ăn thiếu trách nhiệm và nâng cao chất lượng nguồn phế liệu nhập khẩu.

3.2. Quy trình xin giấy phép và ký quỹ bảo vệ môi trường

Thủ tục xin giấy phép nhập khẩu phế liệu đã được chuẩn hóa, yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ hồ sơ chứng minh năng lực tài chính, công nghệ và các giải pháp bảo vệ môi trường. Một trong những quy định mang tính ràng buộc cao là yêu cầu về ký quỹ bảo vệ môi trường. Theo Nghị định 08/2022/NĐ-CP, doanh nghiệp phải ký quỹ một khoản tiền đáng kể trước khi thông quan lô hàng. Số tiền này sẽ được hoàn trả sau khi doanh nghiệp hoàn thành trách nhiệm xử lý phế liệu và tuân thủ các quy định môi trường. Đây là một cơ chế tài chính hiệu quả, vừa là công cụ đảm bảo, vừa có tác dụng răn đe, buộc các doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu phải có trách nhiệm cao hơn trong toàn bộ quá trình từ nhập khẩu đến tái chế.

IV. Cách tối ưu quy trình giám định chất lượng phế liệu nhập

Hiệu quả của công tác quản lý phụ thuộc rất lớn vào quy trình kiểm tra, giám sát tại cửa khẩu. Việc tối ưu hóa quy trình giám định chất lượng phế liệu là yếu tố then chốt để ngăn chặn rác thải công nghiệp. Giải pháp chính là tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Tổng cục Hải quan, Bộ Tài nguyên và Môi trường, và các đơn vị giám định độc lập. Thay vì kiểm tra thủ công, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại như máy quét container, hệ thống phân tích nhanh tại chỗ để sàng lọc các lô hàng có nguy cơ cao. Việc xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về các nhà xuất khẩu uy tín và các đối tượng có rủi ro gian lận thương mại cũng sẽ giúp cơ quan chức năng thực hiện kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, giảm thời gian thông quan cho các doanh nghiệp tuân thủ tốt.

4.1. Vai trò của Tổng cục Hải quan và Bộ Tài nguyên Môi trường

Sự phối hợp giữa Tổng cục Hải quanBộ Tài nguyên và Môi trường (BTNMT) là xương sống của hệ thống kiểm soát. BTNMT chịu trách nhiệm xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia về phế liệu, ban hành danh mục phế liệu được phép nhập khẩu và cấp giấy phép cho các doanh nghiệp đủ điều kiện. Trong khi đó, Tổng cục Hải quan là lực lượng thực thi trực tiếp tại cửa khẩu, có nhiệm vụ kiểm tra, đối chiếu hồ sơ và hàng hóa thực tế. Để cơ chế này hoạt động trơn tru, cần có quy chế phối hợp thông tin rõ ràng, cho phép Hải quan truy cập nhanh chóng vào hệ thống dữ liệu về giấy phép do BTNMT cấp. Các cuộc thanh tra, kiểm tra liên ngành đột xuất cũng cần được tổ chức thường xuyên để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.

4.2. Áp dụng tiêu chuẩn quốc gia TCVN và QCVN 31 2018 BTNMT

Việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn kỹ thuật là bắt buộc để đảm bảo chất lượng phế liệu. QCVN 31:2018/BTNMT là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu sắt, thép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất. Quy chuẩn này quy định cụ thể về các chỉ tiêu vật lý, hóa học, mức độ tạp chất tối đa cho phép và các yêu cầu về làm sạch. Mọi lô hàng nhập khẩu đều phải được lấy mẫu và giám định sự phù hợp với quy chuẩn này. Kết quả giám định từ các tổ chức được công nhận là căn cứ pháp lý quan trọng để cơ quan hải quan quyết định cho thông quan hay buộc tái xuất. Việc tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn này không chỉ bảo vệ môi trường mà còn giúp các nhà sản xuất có được nguồn nguyên liệu đầu vào chất lượng, ổn định.

V. Bí quyết tuân thủ thủ tục nhập khẩu thép phế liệu hiệu quả

Đối với các doanh nghiệp, việc nắm vững và tuân thủ các quy định là chìa khóa để hoạt động nhập khẩu diễn ra suôn sẻ. Thủ tục nhập khẩu thép phế liệu bao gồm nhiều bước phức tạp, từ xin giấy phép, ký quỹ, khai báo hải quan đến giám định chất lượng. Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng một đội ngũ chuyên trách có am hiểu sâu về luật pháp, đặc biệt là các văn bản mới như Nghị định 08/2022/NĐ-CP. Việc lựa chọn các nhà cung cấp uy tín ở nước ngoài, có cam kết rõ ràng về chất lượng và tuân thủ các quy định của Việt Nam sẽ giúp giảm thiểu rủi ro bị từ chối thông quan. Đồng thời, doanh nghiệp nên chuẩn bị đầy đủ và chính xác bộ hồ sơ hải quan, đặc biệt là các thông tin liên quan đến mã HS thép phế liệu và các chứng từ liên quan.

5.1. Hướng dẫn xác định mã HS và chính sách thuế nhập khẩu

Việc xác định chính xác mã HS thép phế liệu là yêu cầu bắt buộc trong khai báo hải quan. Theo Quyết định 73/2014/QĐ-TTg và các văn bản cập nhật, danh mục phế liệu được phép nhập khẩu được phân loại theo mã HS cụ thể, ví dụ như 7204.21.00 (phế liệu thép không gỉ) hay 7204.41.00 (phoi tiện, phoi bào). Việc áp sai mã HS có thể dẫn đến chậm trễ thông quan và bị xử phạt. Về chính sách thuế, hiện tại thuế nhập khẩu thép phế liệu đang ở mức 0% nhằm khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất trong nước. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần liên tục cập nhật các chính sách thuế và các loại phí liên quan khác để tính toán chi phí chính xác và đảm bảo tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ tài chính với nhà nước.

5.2. Điều kiện cần có đối với doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu

Để được cấp phép, doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu phải đáp ứng một loạt điều kiện nghiêm ngặt. Thứ nhất, phải là đơn vị trực tiếp sử dụng phế liệu, có cơ sở sản xuất và công nghệ tái chế phù hợp. Thứ hai, phải có kho bãi riêng biệt, đáp ứng các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường để lưu giữ phế liệu. Thứ ba, phải có các biện pháp xử lý chất thải phát sinh từ quá trình tái chế đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Cuối cùng, doanh nghiệp phải có Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp và thực hiện ký quỹ bảo vệ môi trường theo quy định. Việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện này là minh chứng cho năng lực và cam kết phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về hoạt động nhập khẩu thép phế liệu tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành thép đƣợc coi là ngành công nghiệp quan trọng hàng đầu trong nên kinh tế quốc dân, là nguồn cung ứng vật tƣ chiến lƣợc không thể thiếu cho các ngành công nghiệp, xậy dựng và quốc phòng. Đặc biệt với mục tiêu phấn đấu của đất nƣớc đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì ngành thép càng trở nên quan trọng. Đây có thể coi là ngành công nghiệp nền tảng, sản xuất tƣ liệu để bảm bảo nhu cầu đầu vào cho các ngành công nghiệp khác, thúc đẩy các ngành công nghiệp khác phát triển.

Hiện nay thế giới đang sản xuất khoảng 1,2 tỷ tấn thép/ năm, trong đó 30% đƣợc sản xuất từ thép phế liệu (khoảng 400 triệu tấn/năm) nhƣ vậy có thể thấy số lƣợng thép đƣợc sản xuất từ phế liệu là rất lớn. Trong thép phế liệu có 97% là sắt nên lƣợng các chất thải khác không nhiều, vốn đầu tƣ sản xuất thép từ nguyên liệu ít hơn nhiều so với sản xuất từ quặng, sản xuất thép từ quặng phải sử dụng nhiều than cốc, bản thân quặng cũng chỉ có 50% là sắt còn lại là các chất khác nên khí thải ra môi trƣờng cũng rất độc hại trong khi sản xuất từ thép phế liệu chỉ cần điện và dung môi sẽ giúp giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trƣờng hơn. Ở Việt Nam việc sản xuất thép từ phế liệu có nguồn từ trong nƣớc không đủ cung ứng cho các nhà máy, mới có khoảng 1,2 triệu tấn/năm trong khi nhu cầu khoảng gần 5 triệu tấn. Nhƣ vậy có thể thấy nhu cầu thu mua nguyên liệu thép để sản xuất ngày càng tăng, nhu cầu nhập khẩu thép phế liệu từ các nƣớc khác rất lớn.

Nhằm đáp ứng nhu cầu trên, thời gian qua nhà nƣớc ta đã đƣa ra các chủ trƣơng cho phép nhập khẩu thép phế liệu để phục vụ sản xuất trong nƣớc. Đây là một chủ trƣơng rất đúng đắn và kịp thời của Nhà nƣớc để hỗ trợ cho ngành thép. Tuy nhiên có rất nhiều vấn đề phát sinh từ việc kiểm soát trong các khâu nhập khẩu thép phế liệu và các vấn đề về môi trƣờng phát sinh do trong thép phế liệu cũng có lẫn rất nhiều tạp chất, rác thải và các chất độc hại… Để cân bằng giữa các lợi ích về phát triển kinh tế và lợi ích về môi trƣờng thì việc quản lý của nhà nƣớc về vấn đề này là vô cùng cấp bách và cần thiết. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động nhập khẩu thép phế liệu tại Việt Nam” đƣa ra nhằm nghiên cứu và giải quyết các vấn đề nêu trên từ đó hƣớng tới các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này trong thời gian tới nhằm bảo đảm hài hòa giữa các lợi ích kinh tế và môi trƣờng cho nên kinh tế nói chung và cho doanh nghiệp nói riêng 2.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Hệ thống hóa đƣợc các vấn đề lý luận về nhập khẩu thép phế liệu và quản lý hoạt động nhập khẩu thép phế liệu của nhà nƣớc. Luận văn nghiên cứu lý thuyết và đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động nhập khẩu thép phế liệu tại Việt Nam để tìm ra các mặt hạn chế trong quản lý hoạt động này từ đó đề xuất ra các giải pháp hữu hiệu cho việc quản lý hoạt động nhập khẩu thép phế liệu tại Việt Nam. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tƣợng nghiên cứu: Quản lý nhà nƣớc về hoạt động nhập khẩu thép phế liệu tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vị không gian: Tác giả chỉ tập trung nghiên cứu tại các tỉnh thành phố có lƣợng nhập khẩu thép phế liệu lớn nhƣ Vũng Tàu, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Hải Dƣơng, Thái Bình.

+ Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng thị trƣờng thép phế liệu và quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động thép phế liệu trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến 2014. Từ đó đề xuất ra những giải pháp quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động thép phế liệu đến năm 2020. + Phạm vi nội dung: Nội dung nghiên cứu là những nội dung cơ bản của Quản lý Nhà nƣớc về hoạt đọng nhập khẩu thép phế liệu tại Việt Nam tiếp cận theo quá trình quản lý Những đóng góp của luận văn: Với những nghiên cứu của luận văn, tác giả hy vọng có thể đem lại cái nhìn tổng quan về thực trạng Quản lý nhà nƣớc về hoạt động nhập khẩu thép phế liệu để từ đó gợi mở đƣợc những ý tƣởng mới trong việc hoạch định chính sách cho các cấp 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ban ngành có thẩm quyền, giúp các nhà nghiên cứu kinh tế và các nhà hoạch định chính sách cải tiến cơ chế hoạt động, đƣa ra những chính sách linh hoạt nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích xã hội. Kết cấu của luận văn: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu; Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về hoạt động nhập khẩu thép phế liệu.

Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về hoạt động nhập khẩu thép phế liệu tại Việt Nam Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động nhập khẩu thép phế liệu tại Việt Nam 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU; CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU THÉP PHẾ LIỆU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu trong nước: Việt Nam là nƣớc đang phát triển, Nhà nƣớc ta hiện nay rất chú trọng đầu tƣ phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng cơ sở, ngành xây dựng đang tạo đà đi lên, kéo theo nhu cầu sử dụng thép xây dựng tăng cao. Nhu cầu sử dụng thép trong nƣớc không đủ đáp ứng sản xuất do đó khối lƣợng thép phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam tăng trong giai đoạn vừa qua.

Các hoạt động quản lý nhà nƣớc liên quan đến nhập khẩu mặt hàng này cũng liên tục thay đổi để phù hợp hơn với thực tiễn. Do tính quan trọng và cần thiết của việc nghiên cứu và áp dụng các quy định quản lý nhà nƣớc về hoạt động này, trong thời gian vừa qua, có một số đề tài nghiên cứu thuộc các cấp khác nhau về quản lý nhà nƣớc hoạt đông nhập khẩu thép phế liệu. Có thể kể đến đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Vụ Khoa học và công nghệ của Thạc Sỹ Vũ Công Hợp nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập khẩu phế liệu thép. Theo các nguồn tài liệu thu thập đƣợc, đề tài luận văn này vẫn còn đƣợc ít tác giả nghiên cứu chuyên sâu.

Tác giả Lại Thị Phƣơng Thảo có nghiên cứu đề tài cấp cơ sở “ Nhập khẩu phôi thép và thép phế liệu- Thực trạng- Giải pháp” ( năm 2007) có tổng quan về thị trƣờng Thép, đi sâu vào nghiên cứu thực trạng nhập khẩu phôi thép và thép phế liệu để thấy đƣợc những bất cập đang diễn ra từ đó đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao tính chủ động của ngành Thép tại Việt Nam về nguồn nguyên liệu, sự chủ động về nguồn cung cấp và giá thép thành phẩm trong những năm tới. Sự hạn chế của đề tài này là chƣa nghiên cứu vĩ mô theo hƣớng quản lý nhà nƣớc mà chỉ đi sâu vào phân tích thị trƣờng thép hiện tại, chƣa có những đề xuất phù hợp để đổi mới các chính sách và phƣơng thức quản lý của nhà nƣớc đối với hoạt động này. Luận văn “Tình hình nhập khẩu thép phế liệu và các biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu thép phế liệu của Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền” của tác giả Huỳnh Công Duy có đƣa ra những nhận định tổng quan về thị trƣờng thép phế liệu của trên thế giới và tại Việt Nam, từ đó có những đánh giá, giải pháp để nâng cao hiệu quả của nhập khẩu thép phế liệu của Công ty Công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Nghiên cứu sử dụng phế thải luyện kim làm cốt liệu chế tạo bê tông” ThS Tăng Văn Lâm; KS Ngô Xuân Hùng – Trƣờng Đại học Mỏ- Địa Chất bằng các phân tích khoa học, vật lý, hóa học về phế thải phế liệu luyện kim từ đó so sánh tính hiệu quả của việc khai thác mỏ quặng luyện thép với việc tận dụng phế thải làm nguyên liệu sản xuất tăng tính bền vững và thân thiện với môi trƣờng.

Bài nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở góc độ phân tích Luận văn cao học của tác giả Hoàng Minh Phƣơng với đề tài “ Hiệu quả hoạt động kinh doanh môi giới xuất nhập khẩu thép phế liệu tại công ty cổ phần A&A Toàn Cầu” năm 2011 có đi sâu phân tích hoạt động kinh doanh môi giới xuất nhập khẩu sắt thép phế liệu của Công ty cổ phần A&A Toàn Cầu, phân tích các chỉ tiêu hiệu quả và các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh của hoạt động này để có thể đánh giá về hiệu quả kinh doanh của hoạt động môi giới nhập khẩu thép phế liệu tại Công ty Cổ phần A&A Toàn Cầu. Tác giả Trần Văn Khâm với luận văn “Chiến lƣợc kinh doanh cho Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2011- 2015” đã hệ thống hóa các lý thuyết về xây dựng và lựa chọn chiến lƣợc kinh doanh dựa trên những phân tích đánh giá môi trƣờng vĩ mô và môi trƣờng vi mô của ngành thép từ đó có những giải pháp và lựa chọn chiến lƣợc kinh doanh hiệu quả cho Công ty Cổ phần Thép Thái Nguyên. Nghiên cứu "Công nghiệp thép: Chính sách phát triển đến năm 2010" của Nguyễn Minh Ngọc năm 2003 đã có những phân tích cụ thể và đánh giá toàn diện thực trạng của ngành công nghiệp thép Việt Nam giai đoạn 1998 - 2003. Tác giả đã tập trung làm rõ những tồn tại trong hoạt động sản xuất thép và những vấn đề cần lƣu ý đối với Chính phủ khi đƣa ra các chính sách phát triển cho ngành.

Có thể nói, những phân tích và đánh giá của tác giả Nguyễn Minh Ngọc trong nghiên cứu này đến thời điểm hiện nay vẫn có giá trị, nhất là những phần tác giả phân tích về sự mất cân đối của ngành thép thời kỳ đó, mà những vấn đề này hiện nay vẫn đang tồn tại và còn tiếp tục duy trì trong thời gian tới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ