Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đây Chương 3: Dữ liệu, mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương 5: Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh là Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. FDI xuất hiện khi nhà đầu tư ở nước này có được tài sản ở nước khác và quản lý tài sản đó.
Nhà đầu tư có một mức độ quản lý đáng kể trong doanh nghiệp, ví dụ chiếm quyền biểu quyết từ 10% trở lên. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước nhận đầu tư. Trong vài thập kỷ gần đây, FDI đã trở thành nguồn lực quan trọng nhất chảy vào các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. FDI giải quyết được hai thử thách chủ yếu của các nước, đó là, sự thiếu hụt nguồn tài chính và kỹ năng công nghệ và bí quyết quản lý.
Sự thiếu hụt nguồn tài chính rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển của một nền kinh tế. Vốn đầu tư là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động. Từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Tuy nhiên để tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới.
Đặc biệt FDI là nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho các nước nhận đầu tư. Việc thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm. Tuy nhiên, việc nắm bắt các công nghệ và bí quyết quản lý đó tốt hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước. FDI hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua việc đem đến cơ hội tiếp xúc với công nghệ mới, tiên tiến và hiệu quả hơn, tạo ra nhiều việc làm, cải tiến cơ sở vật chất và gia tăng hiệu quả sản xuất của nền kinh tế nước nhận đầu tư.
Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế. Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của nước nhận đầu tư phù hợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài. Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Bởi vì, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở các nước nhận đầu tư. Bên cạnh đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp vào sự phát triển nhanh chóng trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động ở một số ngành này và tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế. Nghiên cứu trên nhiều công ty đa quốc gia cho thấy rằng động lực đầu tư ra nước ngoài của họ dựa trên 5 kiểu xem xét chủ yếu mang tính chiến lược (Hogue, 1967; UNCTAD, 1998): -Động lực tìm kiếm thị trường TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Động lực tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu - Động lực tìm kiếm tính hiệu quả trong sản xuất - Động lực tìm kiếm tri thức - Động lực tìm kiếm sự ổn định an toàn về chính trị xã hội Những nhà đầu tư tìm kiếm thị trường sẽ bị thu hút bởi những nước có thị trường rộng lớn và tăng trưởng nhanh. Những nhà đầu tư thuộc nhóm này tìm cách thỏa mãn nhu cầu tại nước nhận đầu tư hoặc xuất khẩu ra nước khác hơn là thị trường của chính nước họ.
Những nhà đầu tư tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu sẽ tìm kiếm những nước dư thừa tài nguyên. Các công ty trong lĩnh vực dầu mỏ, khai khoáng, lâm nghiệp… thuộc về nhóm này. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này. Nhóm các nhà đầu tư tìm kiếm tính hiệu quả nhằm tận dụng giá thành đầu vào thấp ở nước nhận đầu tư như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, điều kiện pháp lí.
Trong khi đó, nhóm các nhà đầu tư có động lực tìm kiếm tri thức và công nghệ lại tìm đến những quốc gia có công nghệ cao. Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ. Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Cuối cùng, nhóm các nhà đầu tư tìm kiếm sự ổn định an toàn về chính trị xã hội.
Những đất nước có tình hình kinh tế, chính trị xã hội ổn định, ít bạo động là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 điểm đến của các nhà đầu tư thuộc nhóm này. Việt Nam có thể là một ví dụ điển hình. FDI được phân ra làm hai loại: FDI định hướng thị trường và FDI định hướng xuất khẩu. Đối với loại FDI định hướng thị trường, nhân tố quan trọng nhất thu hút FDI chính là quy mô và tỷ lệ tăng trưởng của nước nhận đầu tư.
FDI định hướng xuất khẩu chủ yếu tìm kiếm tính hiệu quả sản xuất (OECD, 2000). Việc hiểu rõ những động lực và các nhân tố chính tác động lên khả năng thu hút FDI sẽ hướng dẫn cho những lựa chọn chính sách đúng đắn nhằm thu hút dòng đầu tư chảy vào các quốc gia. Tình hình FDI toàn cầu và khu vực Đông Nam Á Xét trên toàn thế giới, FDI từ mức trung bình hàng năm 142 tỷ USD trong những năm 1985 – 1990 lên hơn 836 tỷ USD năm 2001, đến năm 2007, FDI đã đạt mức 2 nghìn tỷ USD (UNCTAD, 2013). Tuy nhiên, từ sau năm 2007 có sự sụt giảm về FDI toàn cầu do khủng hoảng tài chính thế giới mà thấp nhất là năm 2009, lượng FDI toàn cầu chỉ còn 1,2 nghìn tỷ USD (UNCTAD, 2013).
Sau khủng hoảng tài chính, FDI có sự phục hồi nhẹ, năm 2010 đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu đạt 1,4 nghìn tỷ USD; năm 2011, FDI toàn cầu tăng lên đến 1,6 nghìn tỷ USD; tuy nhiên, năm 2012 có sự sụt giảm 18%, chỉ còn 1,3 nghìn tỷ USD trong năm này (UNCTAD, 2013). UNCTAD dự báo trong tương lai mức FDI sẽ tăng lên, một khi các điều kiện vĩ mô được cải thiện và các nhà đầu tư lại tiếp tục tin tưởng. Đồ thị FDI toàn cầu từ 2004-2012 và dự báo cho giai đoạn 2013- 2015 được trình bày trong hình 2. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: FDI toàn cầu, giai đoạn 2004-2012 và dự báo giai đoạn 2013-2015 Nguồn: UNCTAD, 2013 Khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
Đây là điểm đến thu hút ngày càng tăng lượng FDI chảy vào các quốc gia. Do khủng hoảng tài chính thế giới, FDI chảy vào khu vực này đang trên đà tăng trưởng tốt đã bị giảm trong năm 2008 và 2009. Nhưng qua năm 2010, FDI chảy vào khu vực Đông Nam Á quay đầu và tăng liên tục. Thậm chí, năm 2012, trong khi FDI toàn cầu và các khu vực khác giảm, thì FDI chảy vào khu vực Đông Nam Á tiếp tục tăng 2%, lên đến 111 tỷ USD (UNCTAD, 2013).
Sự gia tăng này cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài đã nhận thấy được khu vực Đông Nam Á là điểm đến tiềm năng cho nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn hiện tại và tương lai. Đồ thị FDI chảy vào khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2001-2012 được trình bày trong hình 2. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: FDI khu vực Đông Nam Á, giai đoạn 2001-2012 Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu trên unctad.org Không chỉ tăng về mặt số lượng, tỷ trọng thu hút FDI của khu vực Đông Nam Á so với toàn thế giới giai đoạn 2001-2012 cũng theo xu hướng ngày càng tăng. Từ 2,64% năm 2001, đến năm 2012, tỷ trọng FDI khu vực Đông Nam Á chiếm trong tổng lượng FDI toàn cầu đã lên đến 8,24%.
Điều này củng cố hơn nữa việc khu vực Đông Nam Á đã được lựa chọn làm điểm đến mới của nguồn vốn FDI trong giai đoạn hiện tại và tương lai. Đồ thị tỷ trọng FDI của khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2001-2012 được trình bày trong hình 2. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3: Tỷ trọng FDI khu vực Đông Nam Á, giai đoạn 2001-2012 Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu trên unctad.org Sự phân bố FDI trong khu vực Đông Nam Á thể hiện trong hình 2. Singapore hiện đang là nước dẫn đầu về tỷ trọng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực Đông Nam Á.
Tuy tỷ trọng này có giảm mạnh do khủng hoảng tài chính thế giới, nhưng nhìn chung luôn dẫn đầu và ổn định qua các năm, chiếm trên 50% lượng vốn FDI đổ vào khu vực. Thái Lan giai đoạn đầu xếp thứ 2 về tỷ trọng thu hút vốn FDI, tuy nhiên càng về sau tỷ trọng này càng giảm và Indonesia đã vượt lên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4: Sự phân bố FDI khu vực Đông Nam Á, giai đoạn 2001-2012 Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu trên unctad.org Malaysia cũng là một điểm đến thu hút các nhà đầu tư, đến năm 2012, Malaysia xếp thứ 3 về tỷ trọng thu hút vốn đầu tư FDI. Brunei, Campuchia, Myanmar, Lào và Đông Timor là nhóm xếp thấp nhất, hầu như tỷ trọng của những nước này trong khu vực là không đáng kể.