CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÓM HÀNG ĐIỆN THOẠI VÀ LINH KIỆN CỦA VIỆT NAM VÀ MÔ HÌNH HẤP DẪN TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ. Mô hình hấp dẫn trong thƣơng mại quốc tế 1. Một số mô hình đánh giá yếu tố tác động đến thương mại quốc tế Để tìm ra cũng nhưng đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến luồng thương mại quốc tế có thể sử dụng mô hình cân bằng tổng thể, mô hình SMART Mô hình GTAP (Global Trade Analysis Project) – phương pháp cân bằng tổng thể phản ánh những tác động qua lại của cả nền kinh tế bằng cách kết nối các ngành thông qua bảng đầu ra – đầu vào và kết nối tất cả các nước thông qua các luồng thương mại (MUTRAP, 2010). Mô hình này giúp đánh giá các tác động trong tương lai của các cú sốc chính sách (thay đổi chính sách), sự thay đổi công nghệ và các yếu tố bên ngoài khác đến nền kinh tế (Ngô Thị Mỹ, 2016).
Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi rất nhiều số liệu cũng như các kĩ thuật phức tạp trong tính toán. Bên cạnh đó, mô hình cũng đưa ra các giả định và đặc điểm có thể không phản ánh đúng hoặc đầy đủ thực tế. Mô hình SMART (Software for Market Analysis and Restrictions on Trade) – phương pháp phân tích cân bằng từng phần được sử dụng nhiều trong nghiên cứu vi mô để đo lường tạo lập thương mại, chuyển hướng thương mại, mức thu thuế và tác động đến phúc lợi trong trường hợp thuế suất của một sản phẩm thay đổi, vì vậy phương pháp này phù hợp với các nghiên cứu đánh giá phân tích đối với các hiệp định thương mại tự do (FTA). Mô hình này tập trung xem xét các tác động của các cú sốc chính sách tới các thị trường hàng hóa chịu tác động trực tiếp, bỏ qua sự tương tác giữa các thị trường với nhau trong nền kinh tế (Từ Thúy Anh và Lê Minh Ngọc, 2015).
Ưu điểm của mô hình này là tập trung vào một ngành hàng cụ thể và không đòi hỏi khối lượng dữ liệu lớn như với mô hình cân bằng tổng thể (do chỉ xét một ngành hàng và bỏ qua sự tác động qua lại giữa ngành hàng đó với các ngành hàng khác). Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là không thể hiện được tác động của các yếu tố khác tác động đến thương mại ngoài các yếu tố kể trên; đồng thời mô hình sử dụng phương pháp cân bằng bộ phận, bỏ qua tương tác của thị trường riêng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 lẻ đó với các thị trường khác nên chỉ phù hợp với các thị trường không có quan hệ với nhau. Bên cạnh đó, kết quả của mô hình cũng phụ thuộc nhiều vào các giả định và các hệ số đặt ra cho mỗi mô hình ước lượng cụ thể (Ngô Thị Mỹ, 2016). Mô hình hấp dẫn (mô hình trọng lực – gravity model) đang được sử dụng ngày càng rộng rãi trong việc phân tích các nhân tố tác động đến thương mại cũng như chuyển dịch thương mại quốc tế.
Ưu điểm của mô hình là có thể xem xét đồng thời tác động của các nhóm nhân tố khác nhau (ảnh hưởng đến cung, cầu và khuyến khích hoặc hạn chế thương mại) đến thương mại giữa hai nước. Tuy nhiên, kết quả của mô hình có thể sai lệch nếu như thiếu đi các biến quan trọng khác có thể có ảnh hưởng tới thương mại. Từ việc phân tích làm rõ các mô hình nghiên cứu tác động đến thương mại cho thấy, mô hình hấp dẫn được xem là sự lựa chọn tối ưu trong phân tích hoạt động thương mại giữa các quốc gia (Bac Nguyen Xuan, 2000). Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu sử dụng mô hình hấp dẫn để đánh giá tác động của các nhân tố đến xuất khẩu nói chung và xuất khẩu một mặt hàng nói riêng.
Bài Khóa luận cũng sẽ sử dụng mô hình hấp dẫn để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nhóm hàng điện thoại và linh kiện của Việt Nam. Lịch sử phát triển của mô hình hấp dẫn Giống như tên của mô hình, xuất phát điểm của mô hình hấp dẫn là định luật trọng lực hấp dẫn của Newton: F=G Theo đó lực hút giữa hai vật thể phụ thuộc vào khối lượng (đồng biến) và khoảng cách giữa hai vật đó (nghịch biến). Carey đã áp dụng định luật này trong nghiên cứu hành vi của con người (di chuyển lao động, bệnh nhân, khách hàng,…) (I-Hui Cheng và Howard J.1) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Trong đó: Tij là giá trị thương mại giữa hai quốc gia Yi và Yj tương ứng là biến số đại diện cho độ lớn nền kinh tế nước i và nước j Dij là khoảng cách giữa hai quốc gia Aij là các yếu tố khác có thể tác động đến thương mại song phương uij là số hạng sai số, còn các β là hệ số. Tuy nhiên, vào thời gian đó, mô hình này chưa được giới nghiên cứu chính thống thừa nhận do sự không đầy đủ về nền tảng lý thuyết của mô hình này (Gita Gopinath và cộng sự, 2014).
Sau công bố của Tinbergen, đã có nhiều nhà kinh tế học đưa ra các lý thuyết để giải thích cho mô hình hấp dẫn. Linnemann (1966) đưa thêm biến dân số để thể hiện cho quy mô của nền kinh tế, Leamer và Stern (1970) đã đưa ra một vài nền tảng lý thuyết cho mô hình này, trong đó lý thuyết được đánh giá cao nhất là “The Potluck Assumption”, theo đó sản phẩm tạo ra của toàn thế giới được tập trung lại, sau đó mỗi quốc gia sẽ sử dụng một phần theo tỷ lệ thu nhập của quốc gia đó so với toàn thế giới. Giá trị hàng hóa mà quốc gia i nhập khẩu từ quốc gia j sẽ bằng tích của tỷ trọng GDP của hai quốc gia so với thế giới. Anderson (1979) được coi là người đầu tiên đưa ra một lý thuyết nền tảng cho mô hình hấp dẫn một cách rõ ràng, tuy nhiên việc giả định mỗi quốc gia chỉ sản xuất một loại hàng hóa duy nhất và không thể thay thế khiến cho lý thuyết này trở nên kém thuyết phục.
Helpman (1987), Bergstrand (1889,1990) đã đưa ra nền tảng lý thuyết trên cơ sở kết hợp các lý thuyết kinh tế cổ điển và mới. Đây là giai đoạn nhiều nghiên cứu được thực hiện để tìm ra nền tảng lý thuyết cho mô hình hấp dẫn, từ việc không có khung lý luận rõ ràng, mô hình hấp dẫn đã được chứng minh bởi rất nhiều các lý thuyết khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Sau đó, Deardorff (1995) tìm ra cơ sở lý luận của mô hình này chính là nội dung của lý thuyết Hechscher-Ohlin về thương mại quốc tế. Anderson và Van Wincoop (2003) thể hiện thương mại song phương phụ thuộc quy mô nền kinh tế và khoảng cách, ngoài ra còn thêm biến các rào cản thương mại đa phương (multilateral resistance).
Chaney (2008), Helpman và cộng sự (2008), Melitz và Ottaviano (2008) kết hợp các nghiên cứu trước đây về doanh nghiệp sản xuất hàng cá biệt (heterogeneous firms) với các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại song phương. Các nghiên cứu này giúp xây dựng phương pháp để đo lường sự khác biệt giữa cận biên về độ lớn và độ dài của các điều chỉnh trước các cú sốc kinh tế. Ngoài việc tập trung xây dựng nền tảng lý thuyết cho mô hình hấp dẫn, các nhà nghiên cứu còn đi theo hướng nghiên cứu các vấn đề phát sinh cũng như cách giải quyết trong quá trình xử lý kinh tế lượng. Có thể kể đến các bài nghiên cứu của Egger (2000) về vấn đề dạng dữ liệu sử dụng, Joakim Westerlund và Fredrik Wilhelmsson (2009), Joao Santos Silva và Silvana Tenreyro (2006) về vấn đề thương mại có giá trị bằng 0 (zero trade),… Cho đến nay, mô hình hấp dẫn đã được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá tác động của các chính sách, bao gồm khu vực thương mại tự do, liên minh tiền tệ, quyền sáng chế, hiệp định thương mại tự do,…và được đánh giá là công cụ hữu hiệu trong đánh giá thương mại quốc tế.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại song phương trong mô hình hấp dẫn Như đã nhắc đến trong phần tổng quan nghiên cứu, các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại song phương trong mô hình hấp dẫn có thể nhóm thành 3 nhóm yếu tố: (i) nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cung, (ii) nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cầu, và (iii) nhóm yếu tố xúc tác hoặc cản trở, các yếu tố được trình bày trong hình 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thƣơng mại quốc tế trong mô hình hấp dẫn Nguồn: Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng, 2008 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu Các yếu tố tác động đến nhu cầu của một nền kinh tế có thể kể đến như sau: Tổng thu nhập của người dân nước đó (đo lường bằng GDP /GDP bình quân đầu người/ tổng sản phẩm quốc dân/ tổng thu nhập quốc dân): khi thu nhập của người dân một nước tăng, sẽ dẫn đến nhu cầu về hàng hóa nói chung và hàng hóa nhập khẩu nói riêng tăng lên.
Vì vậy, khi thu nhập của người dân một quốc gia tăng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 thì dẫn đến nhu cầu tăng, tức là làm tăng khối lượng hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia đó. Tổng dân số: Khi dân số tăng cũng sẽ có tác động tương tự là làm tăng nhu cầu về hàng hóa nói chung và hàng hóa nhập khẩu nói riêng, từ đó làm tăng khối lượng hàng hóa nhập khẩu. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung Tương tự với cầu, các yếu tố tác động đến khả năng cung ứng hàng hóa ra thế giới của một nền kinh tế bao gồm: Tổng thu nhập của người dân nước đó (đo lường bằng GDP/GDP bình quân đầu người/tổng sản phẩm quốc dân/tổng thu nhập quốc dân): khi thu nhập của người dân một nước tăng, đồng nghĩa với đó là khối lượng hàng hóa được sản xuất trong nước đó tăng lên (trong kinh tế vĩ mô, tổng thu nhập của toàn bộ nền kinh tế bằng với tổng sản lượng của toàn bộ nền kinh tế), sẽ dẫn đến khả năng xuất khẩu hàng hóa của quốc gia đó tăng lên. Vì vậy, khi thu nhập của người dân một quốc gia tăng thì có thể dẫn đến khả năng xuất khẩu tăng.
Tổng dân số/ lực lượng lao động: Khi dân số tăng thường dẫn đến sự tăng của lực lượng lao động. Với số lượng lao động càng lớn thì khả năng sản xuất của nền kinh tế cũng sẽ tăng, từ đó tăng cung xuất khẩu ra nước ngoài.