Chương 1: Phần tổng quan Chương 2: Cơ sở khoa học về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị may mặc xuất khẩu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thực trạng chuỗi giá trị may mặc xuất khẩu của Tổng công ty may Việt Tiến Chương 5: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chuỗi giá trị may xuất khẩu của Tổng công ty may Việt Tiến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ CHUỖI GIÁ TRỊ MAY MẶC XUẤT KHẨU 2. Khái niệm chuỗi giá trị 2. Chuỗi giá trị Chuỗi giá trị là một khái niệm được đề cập đến đầu tiên bởi Michael. Porter trong cuốn sách có tựa đề: “Competitive Advantage: Creating and Sustaining superior performance”, 1985.
Porter: chuỗi giá trị chia nhỏ tổ chức thành một chuỗi các hoạt động liên quan chiến lược của nó để hiểu được hành vi của sự khác biệt về chi phí, sự tồn tại và nguồn lực tiềm năng. Một công ty có thể đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua việc thực hiện các hoạt động chiến lược quan trọng, tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh của nó.Porter, năng lực của một tổ chức thường được đánh giá bởi người tiêu dùng hay những người sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ của nó. Do vậy, việc tạo ra giá trị tăng thêm cho khách hàng là mục đích của bất kỳ một chiến lược kinh doanh nào (M. Raw Primary Fabrication materials manufacturing Product Distributor Retailer producer Nguồn:Michael Porter, 1985 Hình 2.1: Chuỗi giá trị điển hình cho sản phẩm Như vậy, chuỗi giá trị là một chuỗi các hoạt động từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình dịch chuyển của sản phẩm.
Và trong chuỗi, tại mỗi khâu các hoạt động của khâu này lại cung cấp thêm giá trị cho sản phẩm. Điều quan trọng là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 không để pha trộn các khái niệm của chuỗi giá trị với các chi phí xảy ra trong suốt hoạt động. Chuỗi giá trị giản đơn Chuỗi giá trị giản đơn là chuỗi giá trị của các hoạt động trong khâu cơ bản từ điểm khởi đầu đến điểm kết thúc của sản phẩm. Theo quan điểm của Raphael Kaplinsky và Mike Morris, trong tác phẩm “sổ tay về chuỗi giá trị” (2002): “chuỗi giá trị miêu tả một chuỗi các hoạt động bắt đầu từ việc lên ý tưởng, thông qua các giai đoạn chế biến khác nhau của sản phẩm để đưa hàng hóa, dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng và xử lý sau khi sử dụng”.
Production Design and - Inward logistics product - Transforming Marketing Consumption/ development - Inputs Recycling - Packaging - Etc Nguồn: Sổ tay chuỗi giá trị, 2002 Hình 2.2: Bốn khâu trong một chuỗi giá trị giản đơn 2. Chuỗi giá trị mở rộng Trong thực tế, chuỗi giá trị phức tạp hơn rất nhiều. Chẳng hạn, nó có khuynh hướng có nhiều khâu hơn trong chuỗi. Nó chính là sự chi tiết hóa các hoạt động và các khâu của chuỗi giá trị giản đơn.
Mức độ chi tiết càng cao thì sẽ càng thấy rõ nhiều bên tham gia và liên quan đến nhiều chuỗi giá trị khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vai trò chuỗi giá trị Việc phân tích chuỗi giá trị mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Không những giúp doanh nghiệp nhận dạng lợi thế cạnh tranh, giúp cải tiến hoạt động, tạo cơ hội đánh giá lại năng lực mà còn giúp phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả.
Giúp nhận dạng lợi thế cạnh tranh: Thông qua việc phân tích chuỗi giá trị giúp định dạng sự khác biệt trong cạnh tranh của tổ chức. Việc phân tích chuỗi giá trị giúp các doanh nghiệp xác định và hiểu chi tiết hơn các hoạt động trong chuỗi giá trị sản phẩm. Từ đó doanh nghiệp có thể xác định những điểm mạnh và điểm yếu của mình, giúp xác định ở công đoạn nào tạo được lợi thế cạnh tranh. Chuỗi giá trị giúp tối đa hóa giá trị của tổ chức, trong khi tối thiểu hóa chi phí, tránh lãng phí do phải lặp lại lỗi trong quá trình tạo ra giá trị.
Việc hiểu rõ chuỗi giá trị giúp các doanh nghiệp hoàn thiện hay cải tiến các hoạt động. Trên cơ sở hiểu rõ chi phí, doanh thu, cơ cấu chi phí… và hiểu rõ hơn quá trình cung cấp sản phẩm, doanh nghiệp sẽ có những điều chỉnh các hoạt động nhằm tạo hiệu quả cao hơn. Phân tích chuỗi giá trị là cơ hội đánh giá lại năng lực của doanh nghiệp. việc phân tích chuỗi giá trị giúp doanh nghiệp nhận rõ đặc điểm của từng công đoạn trong chuỗi giá trị và giá trị gia tăng được tạo ra trong công đoạn đó.
Qua đó tạo cơ sở cho việc hoạch định chiến lược cho hoạt động của doanh nghiệp. Chuỗi giá trị giúp phân bổ các nguồn lực sẵn có trong tổ chức một cách hiệu quả. Bằng cách lập sơ đồ những hoạt động trong chuỗi và phân tích phần đóng góp của từng hoạt động. Nó không chỉ phân tích các khâu của sản phẩm ở bên trong doanh nghiệp mà còn phân tích các mối quan hệ bên ngoài của tổ chức gồm nhà cung cấp và hệ thống phân phối.
Từ đó, thiết lập sự liên kết giữa bên trong và bên ngoài. Các loại chuỗi giá trị Nghiên cứu của Gereffi (2003) đã chia chuỗi giá trị ra thành hai loại chuỗi cơ bản. Loại thứ nhất, là chuỗi Buyer – driven (tạm dịch: chuỗi được dẫn dắt bởi người TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 mua), đây là loại chuỗi đặc trưng cho ngành công nghiệp tập trung lao động (và vì vậy nó liên quan nhiều đến các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển). Loại thứ hai, là chuỗi Producer – driven (tạm dịch: chuỗi được dẫn dắt bởi người sản xuất), đây là loại chuỗi mà người sản xuất đóng vai trò quyết định trong chuỗi.
Trong chuỗi này, những kỹ thuật lõi nói chung đóng vai trò liên kết các khâu khác nhau trong chuỗi. Theo Gereffi (2003), hai loại chuỗi này được hiểu như sau: Chuỗi hàng hóa Producer – driven là một chuỗi giá trị lớn, thường vượt phạm vi của một quốc gia. Các nhà sản xuất trong chuỗi đóng vai trò trọng tâm trong việc phối hợp các hệ thống sản xuất (bao gồm sự kết hợp về phía trước và kết hợp về phía sau). Đây là chuỗi đặc trưng của các ngành công nghiệp tập trung vốn và kỹ thuật như là sản xuất ô tô, phương tiện hàng không, máy tính, công nghệ chất bán dẫn và công nghiệp nặng khác.
Chuỗi hàng hóa Buyer – driven đề cập đến các ngành công nghiệp mà trong đó các nhà bán lẻ, các nhà tiếp thị, và các nhà sản xuất nhãn hiệu đóng vai trò then chốt trong việc thiết lập các mạng lưới sản xuất phi tập trung ở các quốc gia xuất khẩu khác nhau. Sau đó, hàng hóa được đưa đến tay người tiêu dùng thông qua các nhà bán lẻ, các nhà tiếp thị lớn, những người mà đã trực tiếp đặt hàng. Điển hình cho loại chuỗi giá trị này là các ngành công nghiệp hàng hóa tiêu dùng, tập trung lao động như là may mặc, giầy da, đồ chơi, đồ dùng gia đình, hàng điện tử gia dụng, và các đồ thủ công mỹ nghệ khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Đặc trưng chuỗi giá trị do người mua và người sản xuất chi phối: Tiêu chí Chuỗi giá trị do người sản Chuỗi giá trị do người mua xuất chi phối chi phối Các yếu tố cạnh tranh Nghiên cứu và phát triển Thiết kế, marketing cơ bản Vốn chi phối Vốn công nghiệp Vốn thương mại Các khu vực kinh tế Hàng hóa trung gian, Hàng tiêu dùng mau hỏng hàng hóa lâu bền Các ngành điển hình Ô tô, đồ điện tử, máy bay May mặc, giầy da, đồ chơi Chủ sở hữu Các công ty xuyên quốc Các công ty nội địa ở các gia nước đang phát triển Mối liên kết chủ yếu Đầu tư Thương mại Cấu trúc đặc thù Chiều dọc Chiều ngang Nguồn: Appelbaum and Gereffi (2003), the Global Apparel Value Chain: What Prospects or Upgrading by developing countries, sectoral stydies series, Vienna.
Tuy nhiên, không phải lúc nào việc phân loại chuỗi cũng rõ ràng như vậy. Một vài ngành vẫn bao gồm cả chuỗi Producer – và Buyer driven. Chẳng hạn, trong ngành may mặc, nhãn hiệu GAP và Levi- Strauss là ví dụ điển hình nhất, trong khi GAP là chuỗi giá trị được dẫn dắt bởi người mua thì Levi- Strauss là chuỗi giá trị hội nhập theo chiều dọc. Hoặc trong ngành sản xuất ô tô, không phải lúc nào cũng thực hiện chuỗi Producer – driven.
Trong khi Toyota và các nhà sản xuất khác tiếp tục tập trung vào chuỗi giá trị được dẫn dắt bởi nhà sản xuất, thì Ford lại đang thực hiện sự dịch chuyến đến chuỗi giá trị được dẫn dắt bởi người mua (Raphael Kaplinsky và Mike Morris, 2000) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Như vậy, việc phân loại chuỗi giá trị chỉ mang tính tương đối, tùy vào ngành công nghiệp và hàm lượng vốn, kỹ thuật, lao động được sử dụng mà có sự chọn loại chuỗi giá trị phù hợp. Kết cấu chuỗi giá trị Theo Micheal Porter, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng nhằm giúp các doanh nghiệp có thể tìm ra các lợi thế cạnh tranh hiện hữu và tiềm năng của mình. Ông cho rằng, một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một sản phẩm hay dịch vụ có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình với chi phí thấp hơn hoặc chi phí cao hơn nhưng có những đặc tính mà khách hàng mong muốn. Porter đã lập luận rằng, nếu nhìn vào doanh nghiệp như là một tổng thể những hoạt động, những quá trình thì khó tìm ra được một cách chính xác lợi thế cạnh tranh của họ là gì.
Nhưng điều này có thể thực hiện được dễ dàng khi phân tách thành những hoạt động bên trong. Mô hình kết cấu chuỗi giá trị được M.Porter thể hiện như sau: Firm Infrastructure (general management, accounting, finance, strategic planing) planning) Human Resource Management (recruiting, training, development) Support activities Technology Development (R&D, product and process improvement) Procurement Profit (purchasing of raw materials, machines, supplies) Margin Inbound Operations Outbound Marketing Service Logistics (machining, Logistics and Sales (installation, (raw assembling, (warehousing (advertising, repair, parts) materials testing) and promotion, handling and distribution pricing, warehousing) of finished channel product) relations) Primary Activities Nguồn: Michael E.3: Mô hình chuỗi giá trị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Theo đó, chuỗi giá trị trong một chu kỳ kinh doanh được xác định bởi 9 hoạt động cơ bản. Trong 9 hoạt động tạo giá trị này, có 5 hoạt động chính trực tiếp làm tăng giá trị và 4 hoạt động bổ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm (M. Các hoạt động chính của chuỗi giá trị 2.