Luận văn thạc sĩ ueb đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của việt nam nhân tố tác động và hàm ý chính sách luận án ts kinh tế học 623101

Luận văn thạc sĩ phân tích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam, các nhân tố tác động và hàm ý chính sách trong kinh tế học.

Chuyên ngành

Kinh Tế Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

216
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI

1.1. Công trình lý thuyết về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.2. Các công trình nghiên cứu thực nghiệm về nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.3. Các công trình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trên thế giới

1.4. Công trình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam

1.5. Sự kế thừa và khoảng trống nghiên cứu của luận án

1.5.1. Sự kế thừa các công trình nghiên cứu trước của luận án

1.5.2. Khoảng trống nghiên cứu của luận án

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI

2.1. Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

2.1.1. Khái niệm, đặc điểm, hình thức và tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với nước đi đầu tư

2.2. Cơ sở thực tiễn về các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở một số nước

2.2.1. Các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc

2.2.2. Các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc

2.2.3. Các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Malaysia

2.2.4. Các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản

2.2.5. Nhận xét chung về các nhóm nhân tố tác động đến OFDI của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Cách tiếp cận

3.1.1. Cách tiếp cận hệ thống

3.1.2. Cách tiếp cận vĩ mô

3.1.3. Các tiếp cận lịch sử

3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

3.3. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

3.3.1. Phương pháp phân tích định tính

3.3.2. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

3.3.3. Phương pháp phân tích định lượng

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG

4.1. Tổng quan đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 1989-2014

4.1.1. Khái quát chung

4.1.2. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam theo hình thức đầu tư

4.1.3. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam theo lĩnh vực

4.1.4. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam theo địa điểm đầu tư

4.1.5. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam theo chủ thể đầu tư

4.2. Phân tích định tính các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam

4.2.1. Nhóm nhân tố điều kiện thị trường và thương mại

4.2.2. Nhóm nhân tố chính sách của Chính phủ

4.2.3. Nhóm nhân tố chi phí sản xuất

4.2.4. Nhóm nhân tố điều kiện kinh doanh

4.3. Nghiên cứu trường hợp điển hình

4.3.1. Trường hợp Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel)

4.3.2. Trường hợp Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

4.3.3. Trường hợp Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai

4.4. Phân tích định lượng các nhân tố tác động đến OFDI của Việt Nam

4.5. Đánh giá chung

4.5.1. Nhóm nhân tố tác động thúc đẩy OFDI của Việt Nam

4.5.2. Nhóm nhân tố cản trở hoạt động OFDI của Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: HÀM Ý CHÍNH SÁCH VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM

5.1. Quan điểm định hướng của Việt Nam trong thời gian tới về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

5.2. Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước ảnh hưởng tới đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

5.3. Định hướng của Việt Nam trong thời gian tới về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

5.4. Hàm ý chính sách về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

5.4.1. Thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường hàng hóa ra nước ngoài

5.4.2. Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI

5.4.2.1. Ban hành các chính sách ưu đãi thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
5.4.2.2. Thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài
5.4.2.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp thông qua việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp vào trong nước theo hướng gia tăng sử dụng công nghệ hiện đại

5.5. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI) của Việt Nam đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế. Các nhân tố tác động đến OFDI không chỉ bao gồm yếu tố nội tại của doanh nghiệp mà còn chịu ảnh hưởng từ môi trường kinh tế, chính sách của chính phủ và các yếu tố toàn cầu. Việc hiểu rõ các nhân tố này sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam tối ưu hóa chiến lược đầu tư ra nước ngoài.

1.1. Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến OFDI của Việt Nam

Các yếu tố kinh tế như tăng trưởng GDP, lạm phát và tỷ giá hối đoái có tác động lớn đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng khi nền kinh tế phát triển, doanh nghiệp có xu hướng mở rộng đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm thị trường mới và tối ưu hóa lợi nhuận.

1.2. Chính sách của chính phủ và tác động đến OFDI

Chính sách đầu tư của chính phủ Việt Nam đã có những thay đổi tích cực nhằm khuyến khích OFDI. Các chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính và cải cách hành chính đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc mở rộng đầu tư ra nước ngoài.

II. Thách thức trong đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức. Những rủi ro về chính trị, kinh tế và văn hóa tại các quốc gia nhận đầu tư có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của các dự án đầu tư.

2.1. Rủi ro chính trị và tác động đến OFDI

Rủi ro chính trị tại các quốc gia nhận đầu tư có thể bao gồm sự bất ổn chính trị, thay đổi chính sách và xung đột. Những yếu tố này có thể làm giảm sự hấp dẫn của thị trường và ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam.

2.2. Rủi ro kinh tế và ảnh hưởng đến quyết định đầu tư

Sự biến động của nền kinh tế toàn cầu, bao gồm lạm phát, suy thoái kinh tế và thay đổi tỷ giá hối đoái, có thể tạo ra rủi ro cho các doanh nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài. Doanh nghiệp cần có chiến lược quản lý rủi ro hiệu quả để bảo vệ lợi ích của mình.

III. Phương pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam

Để gia tăng dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Việt Nam cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường hợp tác quốc tế là những yếu tố quan trọng.

3.1. Cải thiện môi trường đầu tư và chính sách hỗ trợ

Chính phủ cần tiếp tục cải cách các quy định về đầu tư, giảm thiểu thủ tục hành chính và tạo ra môi trường đầu tư minh bạch. Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài cũng cần được tăng cường.

3.2. Tăng cường hợp tác quốc tế và mở rộng thị trường

Việc ký kết các hiệp định thương mại tự do và hợp tác với các quốc gia khác sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường và gia tăng cơ hội đầu tư. Hợp tác quốc tế cũng giúp chia sẻ kinh nghiệm và công nghệ, nâng cao hiệu quả đầu tư.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về OFDI của Việt Nam

Nghiên cứu về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Các trường hợp điển hình cho thấy sự thành công và thách thức mà doanh nghiệp gặp phải.

4.1. Các trường hợp điển hình về OFDI của Việt Nam

Một số doanh nghiệp lớn như Viettel và Petrovietnam đã thành công trong việc đầu tư ra nước ngoài, mở rộng thị trường và gia tăng lợi nhuận. Những bài học từ các trường hợp này có thể giúp các doanh nghiệp khác rút ra kinh nghiệm quý báu.

4.2. Đánh giá kết quả và tác động của OFDI đến nền kinh tế

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không chỉ giúp doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận mà còn đóng góp vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Việc gia tăng OFDI cũng giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho OFDI của Việt Nam

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam đang trên đà phát triển, nhưng cần có những chiến lược rõ ràng để tối ưu hóa hiệu quả. Việc nắm bắt các nhân tố tác động và cải thiện chính sách sẽ giúp gia tăng dòng vốn đầu tư trong tương lai.

5.1. Định hướng chính sách cho OFDI trong tương lai

Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Các chính sách cần tập trung vào việc giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả đầu tư.

5.2. Tăng cường năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và phát triển nguồn nhân lực. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tự tin hơn khi đầu tư ra nước ngoài.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của việt nam nhân tố tác động và hàm ý chính sách luận án ts kinh tế học 623101

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 của Luận án. Bước 2, Dựa trên mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận án sẽ xem xét các lý thuyết, lý luận thích hợp cho vấn đề nghiên cứu và thực tiễn ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, vấn đề này được đề cập trong chương 2. 7 TỔNG QUAN TÀI LIỆU - Lý thuyết về OFDI - Nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến OFDI. Khoảng tr ống nghiên cứu Xác định mục tiêu nghiên cứu CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG OFDI - Khái niệm, đặc điểm, hình thức OFDI - Các nhân tố tác động OFDI: Khung lý thuyết - Cơ sở thực tiễn các nhân tố tác động OFDI ở một số nước: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia.

PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (i) Phân tích định tính; (ii) Phân tích định lượng Khung phân tích Mô hình hồi quy tác động ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN OFDI CỦA VN HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO CHÍNH PHỦ Hình 1. Quy trình phân tích của luận án Nguồn: Tác giả xây dựng 8 Sau đó, luận án xây dựng phương pháp nghiên cứu phân tích để giải quyết vấn đề nghiên cứu, nội dung này được đề cập trong chương 3. Căn cứ vào các cơ sở lý thuyết đã xây dựng và sử dụng phương pháp nghiên cứu đã xác định, luận án đi phân tích các nhân tố tác động đến OFDI của Việt Nam trong chương 4, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách cho OFDI của Việt Nam trong chương 5. 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI 1.

Công trình lý thuyết về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài Trước năm 1960 đã có nhiều công trình nghiên cứu giải thích hoạt động của các doanh nghiệp ở bên ngoài biên giới quốc gia, như: nghiên cứu sự di chuyển vốn của Iversen (1935); nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến vị trí đầu tư trực tiếp nước ngoài (Southard, 1931; Marshall và cộng sự, 1936; Barlow, 1953; Dunning, 1958); các nghiên cứu về sở hữu của doanh nghiệp ở nước ngoài (Plummer, 1934) và lợi ích mà các doanh nghiệp có được từ hội nhập theo chiều ngang và chiều dọc (Penrose, 1956; Bye, 1958), nghiên cứu giải thích hoạt động của các doanh nghiệp ở nước ngoài là do khả năng và vốn của doanh nghiệp (Lund, 1944) và nghiên cứu của Bye (1958) chứng minh quy mô tài chính giúp cho doanh nghiệp không chỉ mở rộng thị trường mà còn có vị trí nhất định ở nước ngoài. Sau năm 1960, bắt đầu có sự hình thành các lý thuyết về OFDI. Đóng góp đầu tiên là Hymer (1960, 1968) với các nghiên cứu giải thích sự hình thành sản xuất ở nước ngoài của doanh nghiệp. Ông cho rằng hoạt động đầu tư ra nước ngoài không chỉ là sự di chuyển vốn như Iversen (1935) đã đưa ra, mà còn có cả sự di chuyển nguồn lực (công nghệ, kỹ năng quản lý, lao động,.), thêm vào đó, hoạt động sản xuất ở nước ngoài còn có cả sự rủi ro của đầu tư, sự biến động tỷ giá hối đoái, những chi phí giao dịch, chi phí cho thông tin.

Các doanh nghiệp để có sở hữu ở nước ngoài cần phải có những lợi thế như sự đổi mới, chi phí, tài chính và marketing – hay là lợi thế sở hữu- để bù đắp lại những bất lợi thế ở nước mà họ đầu tư. Như vậy, Hymer đã đề cập đến nhân tố 10 về lợi thế sở hữu của doanh nghiệp song chưa đề cập đến lợi thế về địa điểm cũng tác động đến OFDI. Một lý thuyết khác nữa có ảnh hưởng lớn trong lý giải đầu tư trực tiếp nước ngoài là lý thuyết vòng đời sản phẩm của Vernon (1966). Vernon (1966) đã tập trung vào sản phẩm để giải thích sự ra đời của thương mại và đầu tư quốc tế.

Theo Vernon, ngoài tài sản thiên nhiên và nguồn lực con người, một quốc gia để phát triển thương mại còn phụ thuộc vào khả năng của các doanh nghiệp nâng cao chất lượng những tài sản này hoặc sáng tạo ra những sản phẩm mới, đặc biệt là năng lực công nghệ. Giai đoạn đầu tiên, sản phẩm được sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, nơi phát minh ra sản phẩm. Ở giai đoạn tiếp theo, nhu cầu cho sản phẩm tăng lên, nhờ có lợi thế về phát minh và sản xuất hay lợi thế độc quyền, các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm sang các nước khác có cùng sở thích về sản phẩm đó. Dần dần, khi sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được thay đổi từ có sản phẩm độc quyền sang tối thiểu hóa chi phí để bán được nhiều sản phẩm.

Doanh nghiệp phải tối thiểu hóa chi phí do sự xâm nhập của các doanh nghiệp khác để sản xuất sản phẩm tương tự. Cùng lúc đó, nhu cầu của người tiêu dùng giảm, lao động trong nước tác động lớn đến chi phí sản xuất, lúc này thị trường nước ngoài lại mở rộng, sản xuất ở nước ngoài tăng nhanh hơn sản xuất ở trong nước. Nhiều nước xuất khẩu sản phẩm trong các giai đoạn trước nay trở thành nước chủ đầu tư và phải nhập khẩu chính sản phẩm đó vì sản phẩm trong nước sản xuất không còn cạnh tranh được về giá bán trên thị trường quốc tế. Lý thuyết vòng đời sản phẩm giải thích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp có lợi thế sở hữu, với mục đích tìm kiếm thị trường.

Lý thuyết này chưa đề cập đến các nhân tố khác như lợi thế địa điểm cũng có tác động đến đầu tư ra nước ngoài. Vào đầu những năm 1970, nhiều nhà kinh tế học như Johnson (1970), Caves (1971, 1974a, 1974b, 1982), Horst (1972a, 1972b), Magee (1977a, 11 1997b), Lall (1979, 1980a), Swedenborg (1979), Calvet (1980), Pugel (1981), Lall và Siddharthan (1982), Owen (1982), Kumar (1990) đã phân tích và kiểm nghiệm lý thuyết của Hymer và Vernon. Các nghiên cứu tập trung vào việc tìm ra những đặc điểm của các tài sản vô hình như tiềm năng công nghệ, kỹ năng lao động, kỹ năng tiếp thị, kỹ năng quản lý, khả năng tổ chức hay chính là các lợi thế sở hữu của doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thay đổi của các biến trên giữa các ngành công nghiệp và các nước, thậm chí giữa các quốc gia.

Nước Mỹ, quốc gia có lợi thế đặc thù về công nghệ, vốn con người có thể đầu tư trực tiếp nhiều vào sản xuất hàng hóa và dịch vụ với các sản phẩm chất lượng cao, có thương hiệu, cường độ quảng cáo lớn. Hay nước Anh đầu tư vào lĩnh vực khai thác mỏ và nông nghiệp (Hennart, 1986a); tiếp theo là dòng đầu tư rất lớn của Nhật Bản vào lĩnh vực tài chính và ngân hàng Châu Âu những năm 1980 hay đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc những năm 1990. Những lợi thế đặc thù mà các nước Châu Âu, Nhật Bản hay Mỹ có được là do đặc điểm văn hóa, xã hội, kinh tế của từng nước khác nhau (Franko, 1976). Stephen Magee (1977a, 1977b) xem xét công nghệ như một tài sản có giá trị hơn những tài sản khác.

Stephen Magee quan tâm đến các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài nhờ lợi thế công nghệ, khi công nghệ thay đổi theo thời gian thì lợi thế sở hữu của các doanh nghiệp sẽ như thế nào? Để giải thích, Stephen Magee đã dựa trên lý thuyết vòng đời sản phẩm của Vernon, cho rằng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thay đổi theo vòng đời của sản phẩm. Các nghiên cứu mới chỉ quan tâm đến tác động của lợi thế sở hữu của doanh nghiệp, trong khi lợi thế nội vi hóa của doanh nghiệp, lợi thế địa điểm cũng tác động đến OFDI. Knickerbocker (1973); Graham (1975, 1978); Flower (1976) đã mở rộng thêm lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài, theo đó, chiến lược của doanh nghiệp và hành vi của đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp là yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Trong điều kiện thị 12 trường cạnh tranh hoàn hảo thì chiến lược của doanh nghiệp được bảo mật mà các đối thủ cạnh tranh không biết trước được, doanh nghiệp hoạt động ở mức doanh thu mà chi phí cơ hội là thấp nhất.

Tuy nhiên, khi thị trường trở nên méo mó thì chiến lược đóng vai trò tích cực dẫn dắt hoạt động kinh doanh của họ. Minh họa rõ nhất là trường hợp độc quyền, với mức giá và sản phẩm do doanh nghiệp độc quyền quyết định. Theo Knickerbocker (1973), để tối thiểu hóa rủi ro và tránh cạnh tranh ở trong nước, chiến lược của doanh nghiệp sẽ chuyển sang đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm thị trường mới. Những phân tích về đầu tư trực tiếp nước ngoài mà các công ty đa quốc gia của Nhật đầu tư ở Mỹ trong lĩnh vực sản xuất ô tô và thiết bị điện tử, các công ty đa quốc gia của Mỹ và Châu Âu đầu tư ở Bangalore và Ấn Độ (Balasubramanyam, 2000) đã hỗ trợ cho nhận định này.

Cùng quan tâm đến chiến lược của doanh nghiệp OFDI, Aharoni (1966) đã xem xét ảnh hưởng các kế hoạch của doanh nghiệp tới quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Theo đó, nghiên cứu của Aharoni (1966) dựa trên dữ liệu của 38 công ty đa quốc gia của Mỹ thực hiện đầu tư ra nước ngoài vào những năm 1950 và 1960, nhằm giải quyết các vấn đề: (i) có hay không việc doanh nghiệp dự tính đầu tư trực tiếp nước ngoài; (ii) chi phí và lợi ích của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài; (iii) quyết định di chuyển nguồn lực trong hoạt động OFDI; (iv) các điều khoản đàm phán với các cơ quan nước nhận đầu tư; (v) tác động của các cam kết giữa các quốc gia đối với chiến lược của doanh nghiệp. Aharoni (1966) nhận thấy các doanh nghiệp OFDI đều chịu tác động của thông tin thị trường, chi phí đàm phán, chi phí học tập và những rủi ro ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Điều này giải thích tại sao các doanh nghiệp nhỏ thích đầu tư ở trong nước hơn là đầu tư ra nước ngoài.

Một lý thuyết nữa giải thích đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là lý thuyết tài chính vĩ mô và tỷ giá hối đoái. Người đi tiên phong cho lý thuyết này là Aliber (1970), ông không quan tâm tại sao doanh nghiệp sản xuất ở nước ngoài 13 mà quan tâm đến việc tại sao doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài bằng đồng tiền của nước họ. Theo Aliber (1970) doanh nghiệp ở nước có đồng tiền mạnh sẽ gia tăng vốn đầu tư ở trong nước hơn những doanh nghiệp ở nước có đồng tiền yếu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ