Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam: Nhân tố tác động và hàm ý chính sách" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Ngọc Mai thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội (chuyên ngành Kinh tế Quốc tế, mã số 62 31 01 06), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Kim Anh và TS. Nguyễn Cẩm Nhung.
Về tính cấp thiết, tác giả phân tích rằng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI) giúp quốc gia đi đầu tư khai thác lợi thế so sánh về tài nguyên, lao động của nước tiếp nhận, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong nước. Theo Báo cáo Đầu tư Thế giới (WIR, 2016), tỷ trọng vốn OFDI từ các nền kinh tế đang phát triển trong tổng dòng vốn OFDI toàn cầu có xu hướng tăng rõ rệt từ 23% năm 2011 lên 27,2% năm 2012, 31% năm 2013 và 33,7% năm 2014. Tại Việt Nam, trong giai đoạn 1990–2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7%/năm, thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trong nước (IFDI) giai đoạn 1988–2014 đạt 268.236 triệu USD. Hoạt động OFDI của Việt Nam bắt đầu từ cuối thập kỷ 1980 với 1 dự án trị giá 560 nghìn USD năm 1989, tăng lên 9 dự án với số vốn 12,17 triệu USD năm 1999, và đạt 109 dự án với vốn đầu tư 1.787,53 triệu USD năm 2014. Tuy nhiên, hoạt động OFDI còn bộc lộ nhiều hạn chế: số lượng dự án và quy mô vốn biến động không đều giữa các năm (năm 2008 tăng 35 dự án so với năm 2007, nhưng năm 2009 lại giảm 24 dự án; năm 2013 vốn OFDI tăng 193,7%, nhưng sang năm 2014 lại giảm 59%), các dự án nhìn chung có quy mô nhỏ, các dự án quy mô lớn chủ yếu thuộc về doanh nghiệp nhà nước và kết quả kinh doanh ở nước ngoài còn nhiều khó khăn. Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam chủ yếu tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước hoặc nghiên cứu vi mô tại một doanh nghiệp, một lĩnh vực đơn lẻ mà chưa phân tích hệ thống các nhân tố tác động đến quy mô dòng vốn OFDI.
Câu hỏi nghiên cứu chính của luận án được xác định là: "Những nhân tố nào tác động tới đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam?"
Mục tiêu chung của luận án là phát hiện những nhân tố có tác động thúc đẩy và những nhân tố gây cản trở tới dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách nhằm gia tăng dòng vốn này. Để hoàn thành mục tiêu chung, tác giả xác định 4 mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về OFDI và các nhân tố tác động tới OFDI, nhấn mạnh vào nhân tố từ phía nước đi đầu tư.
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn các nhân tố tác động OFDI của một số nước để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm.
- Nghiên cứu các yếu tố có tác động đến OFDI của Việt Nam ra nước ngoài, tìm ra những nhân tố có tác động thúc đẩy hay cản trở OFDI của Việt Nam.
- Đề xuất một số hàm ý chính sách để thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung phân tích các nhân tố từ phía nước đi đầu tư (Việt Nam) tác động đến quy mô dòng vốn OFDI. Tác giả giới hạn không đi sâu phân tích đặc điểm riêng biệt của 63 quốc gia và vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư của Việt Nam tính đến hết năm 2014, đồng thời không nghiên cứu sâu về các yếu tố quyết định hiệu quả tài chính, hướng đầu tư chi tiết hay cơ cấu ngành cụ thể.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1989–2014, tương ứng từ thời điểm Việt Nam phát sinh dự án đầu tư ra nước ngoài đầu tiên đến thời điểm có đầy đủ hệ thống dữ liệu thống kê phục vụ nghiên cứu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu trong luận án được phân loại theo các nhóm công trình lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm:
Về các công trình lý thuyết nền tảng:
- Giai đoạn trước năm 1960: Nghiên cứu sự di chuyển vốn của Iversen (1935); nghiên cứu vị trí đầu tư trực tiếp nước ngoài của Southard (1931), Marshall và cộng sự (1936), Barlow (1953), Dunning (1958); nghiên cứu quyền sở hữu ở nước ngoài của Plummer (1934); lợi ích từ hội nhập ngang và dọc của Penrose (1956), Bye (1958); khả năng tài chính và quy mô vốn của Lund (1944).
- Giai đoạn từ năm 1960 trở đi: Lý thuyết lợi thế độc quyền và lợi thế sở hữu của Hymer (1960, 1968); Lý thuyết chu kỳ vòng đời sản phẩm quốc tế của Vernon (1966); các nghiên cứu kiểm nghiệm lợi thế tài sản vô hình của Caves (1971, 1974, 1982), Horst (1972), Magee (1977), Lall (1979, 1980), Hennart (1986), Franko (1976); Lý thuyết phản ứng của đối thủ cạnh tranh và hành vi phòng ngừa độc quyền của Knickerbocker (1973), Graham (1975, 1978), Flower (1976), Balasubramanyam (2000); Nghiên cứu về quá trình ra quyết định đầu tư quốc tế của Aharoni (1966) khảo sát trên 38 công ty đa quốc gia Mỹ; Lý thuyết thị trường tài chính và tỷ giá hối đoái của Aliber (1970), Froot và Stein (1991), Cushman (1985), Culem (1988), Gorg và Wakelin (2002), Campa (1993), Kogut và Chang (1996), Rangan (1998); Mô hình quá trình quốc tế hóa theo lý thuyết hành vi (Uppsala) của Johanson và Vahlne (1977, 1990), Hornell và cộng sự (1973); Lý thuyết kinh tế vĩ mô về FDI định hướng thương mại và lợi thế so sánh của Kojima (1973, 1978, 1982, 1990, 1992) và Ozawa (1985); Khung phân tích chiết trung OLI (lợi thế Sở hữu - O, Địa điểm - L, Nội vi hóa - I) và mô hình Đường phát triển đầu tư (IDP) của John Dunning (1977, 1979, 1993, 2008).
Về các công trình thực nghiệm quốc tế:
- Nghiên cứu của Anwar và Mughal (2014) về OFDI của Nga giai đoạn 1999–2013 dựa trên khung OLI; Saad, Noor và Nor (2014) về tác động của tỷ giá, xuất khẩu, GDP, IFDI, bằng sáng chế và năng suất lao động đến OFDI của Malaysia giai đoạn 1981–2011; Hua (2014) nghiên cứu dữ liệu bảng của Trung Quốc đầu tư vào 49 quốc gia Châu Phi giai đoạn 2003–2011 nhấn mạnh vai trò hỗ trợ của chính phủ; ZhongminLi (2013) chỉ ra 4 động lực OFDI của Trung Quốc gồm thiếu hụt tài nguyên, quy mô thị trường, chi phí vận chuyển và tìm kiếm công nghệ; Holbrugge và Kreppel (2012) khảo sát trường hợp 8 tập đoàn tại các nước BRIC (WEG, CVRD, Gazprom, Vneshtorgbank, Reliance, Wipro, Lenovo, Haier); Apergis, Asteriou và Papathoma (2012) nghiên cứu OFDI của Hy Lạp giai đoạn 1997–2008; UNCTAD (2006, 2010) tổng hợp 4 nhóm nhân tố đẩy OFDI; Rasiah, Gammeltoft và Jiang (2010) về chính sách OFDI của các nền kinh tế mới nổi; Kalotay và Sulstarova (2010) về quan hệ giữa GDP, xuất khẩu và OFDI của Nga giai đoạn 1992–2008; Fung, Garcia-Herrero và Siu (2009) so sánh nhân tố OFDI của Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản; Hill và Jongwanich (2009) về OFDI khu vực Đông Á; Williams (2009) về vai trò của thể chế và thu nhập bình quân; Aminian, Fung và Lin (2007) so sánh OFDI của Đài Loan và Hồng Kông; Hiratsuka (2006), Ariff và Lopez (2006) về OFDI của Malaysia và các nước ASEAN; Banga (2005) phân loại 3 nhóm nhân tố thúc đẩy OFDI của các nước đang phát triển (thương mại, năng lực nội tại và điều kiện trong nước); Pantelidis và Kyrkilis (2005), Kyrkilis và Pantelidis (2003) nghiên cứu hồi quy OFDI tại các nhóm nước phát triển và đang phát triển.
Về các nghiên cứu tại Việt Nam:
- Vũ Thị Minh Ngọc (2016) nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài; Nguyễn Hải Đăng (2012) phân tích thực trạng OFDI gắn liền với các mốc chính sách (Nghị định 22/1999/NĐ-CP, Luật Đầu tư 2005, Nghị định 78/2006/NĐ-CP); Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2010) khảo sát 165 doanh nghiệp về rào cản vốn, thông tin và năng lực quản lý; Phùng Quang Thanh (2016) lượng hóa các nhân tố tác động đến dòng vốn OFDI của Việt Nam sang Lào (chỉ ra 1 triệu USD IFDI vào Việt Nam làm tăng 0,0115 triệu USD OFDI sang Lào, 1% chi ngân sách khoa học công nghệ làm tăng 3,32 triệu USD OFDI sang Lào); Lê Thị Bình (2012) phân tích tiêu chí đầu tư tìm kiếm dầu khí của PVEP; Mạnh Phan (2012), Thu Hằng (2011), Quang Minh (2011), Đinh Trọng Thịnh (2005) đánh giá các vấn đề về hành lang pháp lý, cơ chế tín dụng ngoại tệ và kiểm soát dòng ngoại tệ chuyển về nước.
Khoảng trống nghiên cứu luận án xác định giải quyết: Các nghiên cứu trong nước trước đó mới dừng lại ở việc mô tả thực trạng, đánh giá công tác quản lý nhà nước hoặc khảo sát riêng lẻ tại một doanh nghiệp, một thị trường tiếp nhận (như Lào). Chưa có công trình nào sử dụng kết hợp khung lý luận kinh tế quốc tế và mô hình kinh tế lượng để kiểm định một cách có hệ thống tác động của các nhóm nhân tố từ nước xuất khẩu vốn đối với toàn bộ quy mô dòng vốn OFDI của Việt Nam giai đoạn 1989–2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết: Luận án sử dụng lý thuyết chiết trung OLI và mô hình Đường phát triển đầu tư (IDP) của John Dunning làm nền tảng lý luận chính. Khung phân tích các nhân tố tác động được kế thừa và chuẩn hóa từ nghiên cứu của UNCTAD (2006, 2010), chia các nhân tố từ nước đi đầu tư thành 4 nhóm:
- Nhóm điều kiện thị trường và thương mại: Thể hiện qua quy mô GDP, GDP bình quân đầu người, kim ngạch xuất khẩu, tỷ lệ xuất khẩu/GDP (EX/GDP), kim ngạch nhập khẩu, tỷ lệ nhập khẩu/GDP (IM/GDP), số lượng hiệp định thương mại song phương và đa phương (AFTA, WTO, APEC,...).
- Nhóm chính sách của Chính phủ: Thể hiện qua hệ thống văn bản pháp luật về đầu tư (Nghị định 22/1999/NĐ-CP, Nghị định 78/2006/NĐ-CP, Nghị định 83/2015/NĐ-CP, Luật Đầu tư 2005, Luật Đầu tư 2014), chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách thuế (tỷ lệ thuế/lợi nhuận, thuế suất thu nhập doanh nghiệp), các đề án hỗ trợ của Nhà nước và chính sách tín dụng.
- Nhóm chi phí sản xuất: Thể hiện qua chi phí nhân công (tiền lương lao động bình quân), chi phí nguyên nhiên vật liệu trong nước, kim ngạch nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu và trữ lượng tài nguyên thiên nhiên (dầu khí).
- Nhóm điều kiện kinh doanh: Thể hiện qua trình độ phát triển cơ sở hạ tầng (mức tiêu thụ điện năng bình quân, tỷ lệ người sử dụng internet/100 người dân), tác động lan tỏa từ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trong nước (LnIFDI) và năng lực đổi mới công nghệ (số bằng phát minh sáng chế được cấp).
Về phương pháp nghiên cứu:
- Cách tiếp cận: Tác giả sử dụng cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận kinh tế vĩ mô và tiếp cận lịch sử.
- Phương pháp phân tích định tính: Sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích tổng hợp số liệu lịch sử để đánh giá sự chuyển biến của dòng vốn OFDI theo từng giai đoạn chính sách, theo ngành, theo hình thức sở hữu và đối tác tiếp nhận đầu tư.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (case studies): Đi sâu phân tích thực tế hoạt động OFDI tại 3 tập đoàn đại diện cho 3 lĩnh vực trọng điểm:
- Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) – đại diện cho lĩnh vực dịch vụ viễn thông công nghệ cao.
- Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam / PVEP) – đại diện cho lĩnh vực công nghiệp khai thác tài nguyên năng lượng.
- Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) – đại diện cho khu vực kinh tế tư nhân đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và bất động sản tại các quốc gia láng giềng.
- Phương pháp phân tích định lượng: Tác giả xây dựng mô hình hồi quy OLS chuỗi thời gian cho giai đoạn 1989–2014.
- Biến phụ thuộc: Quy mô dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam dạng logarit tự nhiên ($LnOFDI$).
- Các biến độc lập được đưa vào kiểm định: Tỷ lệ xuất khẩu trên GDP ($EX/GDP$), tỷ lệ nhập khẩu trên GDP ($IM/GDP$), quy mô vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trong nước dạng logarit ($LnIFDI$), mức tiêu thụ điện năng bình quân dạng logarit đại diện cho cơ sở hạ tầng ($LnELECT$), và gánh nặng thuế doanh nghiệp ($TAX$).
- Các kỹ thuật kiểm định mô hình được thực hiện đầy đủ: Kiểm tra đa cộng tuyến (hệ số VIF), kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi (Heteroskedasticity), kiểm tra hiện tượng tự tương quan (Autocorrelation), và kiểm tra giả định sai số ngẫu nhiên có phân phối chuẩn.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), Ngân hàng Thế giới (World Development Indicators - WDI), Báo cáo Đầu tư Thế giới (WIR - UNCTAD), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các doanh nghiệp khảo sát.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và các nhân tố tác động tới đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Chương 1 tổng thuật các quan điểm học thuật về FDI và OFDI từ trước năm 1960 đến nay. Tác giả phân tích các nhánh lý thuyết từ lý thuyết di chuyển vốn cổ điển, lý thuyết lợi thế độc quyền của Hymer, lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Vernon, lý thuyết nội vi hóa và chiết trung OLI của John Dunning, cùng với lý thuyết hành vi và lý thuyết kinh tế vĩ mô của Kojima. Chương 1 cũng phân loại các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới (tại các nền kinh tế phát triển, các nước BRIC, các nước Châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia) và tổng kết các nghiên cứu về OFDI của Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra các điểm kế thừa về khung phân loại nhân tố đẩy của UNCTAD và xác định khoảng trống nghiên cứu định lượng các nhân tố tác động tới OFDI của Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Chương 2 trình bày hệ thống khái niệm, bản chất, đặc điểm, hình thức và tác động hai chiều của OFDI đối với nước xuất khẩu vốn. Luận án phân biệt hình thức đầu tư theo chiều ngang (HI), đầu tư theo chiều dọc (VI), các hình thức liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và hợp đồng hợp tác kinh doanh. Đồng thời, chương này phân tích thực tiễn phát triển OFDI tại 4 quốc gia Châu Á:
- Trung Quốc: Giai đoạn kiểm soát ngoại hối trước 1978, giai đoạn mở cửa thử nghiệm 1979–1985, chiến lược "Đi ra ngoài" (Going Global), cơ chế tự do hóa ngoại hối, đơn giản hóa thủ tục thẩm định hồ sơ và hỗ trợ tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp nhà nước nhằm tìm kiếm tài nguyên và công nghệ.
- Hàn Quốc: Kết hợp chính sách tự do hóa với kiểm soát cán cân thanh toán, định hướng OFDI từ khai thác tài nguyên (trước 1994), sang tìm kiếm lao động giá rẻ (1994) và tìm kiếm công nghệ tại các nước phát triển (sau 1996).
- Malaysia: Sử dụng Chính sách Kinh tế Mới (NEP), tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước mua lại tài sản nước ngoài, thành lập các quỹ hỗ trợ tài chính, cung cấp ưu đãi thuế và thúc đẩy ký kết hiệp định thương mại tự do.
- Nhật Bản: Quá trình tự do hóa ngoại hối, chuyển dịch cơ sở sản xuất ra nước ngoài nhằm giải quyết sức ép tăng chi phí lao động trong nước những năm 1960–1970 và biến động tỷ giá đồng Yên sau năm 1985.
Từ thực tiễn 4 nước, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm về vai trò định hướng, hỗ trợ tài chính, minh bạch hóa thủ tục hành chính và bảo hộ đầu tư từ phía Chính phủ.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu, cách tiếp cận hệ thống, phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và các công cụ phân tích. Tác giả thiết kế khung phân tích định tính dựa trên 4 nhóm nhân tố của UNCTAD và mô hình hồi quy định lượng OLS đối với chuỗi thời gian 1989–2014. Các biến số, nguồn dữ liệu và dấu kỳ vọng lý thuyết được xác định cụ thể trong bảng thiết kế biến của chương.
| Tên biến |
Ký hiệu |
Định nghĩa / Đơn vị tính |
Nguồn số liệu |
Dấu kỳ vọng |
| Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài |
$LnOFDI$ |
Logarit tự nhiên tổng vốn OFDI đăng ký hàng năm (Triệu USD) |
Cục Đầu tư nước ngoài |
Biến phụ thuộc |
| Tỷ lệ xuất khẩu |
$EX/GDP$ |
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ / GDP (%) |
Tổng cục Thống kê, WDI |
(+) |
| Tỷ lệ nhập khẩu |
$IM/GDP$ |
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ / GDP (%) |
Tổng cục Thống kê, WDI |
(+) / (-) |
| Dòng vốn FDI vào trong nước |
$LnIFDI$ |
Logarit tự nhiên tổng vốn FDI thực hiện vào Việt Nam (Triệu USD) |
Cục Đầu tư nước ngoài |
(+) |
| Cơ sở hạ tầng điện năng |
$LnELECT$ |
Logarit tự nhiên mức tiêu thụ điện năng bình quân (kWh/người) |
WDI |
(+) |
| Chính sách thuế doanh nghiệp |
$TAX$ |
Tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp / Tổng lợi nhuận thương mại (%) |
WDI, Tổng cục Thuế |
(-) |
Chương 3 cũng quy định rõ các quy trình kiểm định kinh tế lượng nhằm đảm bảo mô hình ước lượng không vi phạm các khuyết tật về đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi và tự tương quan.
Chương 4: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam và các nhân tố tác động
Chương 4 tập trung phân tích thực trạng OFDI của Việt Nam giai đoạn 1989–2014 và lượng hóa các nhân tố tác động:
- Thực trạng: Dòng vốn tăng từ 1 dự án (0,56 triệu USD) năm 1989 lên 109 dự án (1.787,53 triệu USD) năm 2014. Tổng lũy kế đạt 63 quốc gia và vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư. Về lĩnh vực, công nghiệp (đặc biệt là khai khoáng, dầu khí) và dịch vụ (viễn thông, tài chính ngân hàng) chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất; nông nghiệp có số dự án tăng dần tại Lào và Campuchia. Về địa bàn, Châu Á chiếm vị trí dẫn đầu cả về số dự án và số vốn, tiếp theo là Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Âu.
- Phân tích định tính 4 nhóm nhân tố:
- Điều kiện thị trường và thương mại: Tăng trưởng xuất khẩu và việc gia nhập AFTA, WTO, ký kết các FTA tạo tiền đề cho doanh nghiệp mở rộng thị trường; quy mô GDP trong nước tăng giúp tích lũy nguồn lực đầu tư.
- Chính sách của Chính phủ: Sự đổi mới khung khổ pháp lý từ Nghị định 22/1999/NĐ-CP, Nghị định 78/2006/NĐ-CP đến Nghị định 83/2015/NĐ-CP và Đề án 2009 tạo hành lang thông thoáng hơn; tuy nhiên quy trình cấp phép, thủ tục quản lý ngoại hối và các cơ chế hỗ trợ tài chính còn nhiều vướng mắc.
- Chi phí sản xuất: Sự khan hiếm tài nguyên khoáng sản trong nước thúc đẩy các doanh nghiệp như Petrovietnam đầu tư ra nước ngoài; chi phí lao động trong nước nhìn chung vẫn ở mức thấp nên chưa tạo ra áp lực đẩy rõ rệt đối với các ngành thâm dụng lao động.
- Điều kiện kinh doanh: Sự phát triển hạ tầng công nghệ thông tin – viễn thông hỗ trợ kết nối quản lý; dòng vốn IFDI vào trong nước tạo hiệu ứng chuyển giao kỹ năng quản trị và công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam.
- Phân tích trường hợp điển hình:
- Viettel: Đầu tư mở rộng dịch vụ mạng viễn thông tại các thị trường đang phát triển (Metfone tại Campuchia, Unitel tại Lào, Movitel tại Mozambique, Natcom tại Haiti, Telemor tại Timor Leste, Bitel tại Peru, Lumitel tại Burundi).
- Petrovietnam (PVEP): Đầu tư tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại Nga (Liên doanh Rusvietpetro tại Lô Nhenhexky), Malaysia, Algeria (Dự án mỏ Bir Seba) và Venezuela (Dự án Junin 2).
- Hoàng Anh Gia Lai: Chuyển dịch đầu tư trồng cây công nghiệp (cao su, cọ dầu, mía đường), thủy điện và bất động sản tại Lào, Campuchia và Myanmar.
- Kết quả phân tích định lượng:
- Thống kê mô tả và kiểm định mô hình cho thấy mô hình không bị đa cộng tuyến nghiêm trọng, không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, phần dư có phân phối chuẩn.
- Kết quả ước lượng hồi quy chỉ ra: Biến tỷ lệ xuất khẩu ($EX/GDP$) và biến dòng vốn FDI vào trong nước ($LnIFDI$) có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê đối với dòng vốn OFDI của Việt Nam.
- Các biến tỷ lệ nhập khẩu ($IM/GDP$), chính sách thuế ($TAX$), chi phí lao động và tín dụng không thể hiện tác động có ý nghĩa thống kê rõ rệt đối với quy mô vốn OFDI trong giai đoạn nghiên cứu.
Chương 5: Hàm ý chính sách về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Chương 5 phân tích bối cảnh kinh tế quốc tế và các cam kết hội nhập mới (RCEP, EVFTA). Tác giả đề xuất các định hướng và 5 nhóm hàm ý chính sách cụ thể nhằm hoàn thiện hoạt động OFDI của Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo:
- Thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường hàng hóa ra nước ngoài gắn với việc tận dụng các cam kết cắt giảm thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do.
- Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế thẩm định, phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính).
- Ban hành các chính sách ưu đãi, hỗ trợ thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, bao gồm các quy định ưu đãi thuế và cơ chế tiếp cận nguồn vốn ngoại tệ hợp pháp.
- Thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp OFDI thông qua hệ thống cơ quan đại diện ngoại giao, xúc tiến thương mại - đầu tư và cung cấp thông tin thị trường tiếp nhận đầu tư.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước thông qua việc định hướng thu hút dòng vốn IFDI gắn với tiếp nhận công nghệ cao và kỹ năng quản trị hiện đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, làm rõ bản chất và sự vận động của các lý thuyết FDI từ cổ điển đến hiện đại (đặc biệt là lý thuyết OLI và IDP của John Dunning).
- Xây dựng được khung phân tích gồm 4 nhóm nhân tố từ phía nước đi đầu tư (điều kiện thị trường và thương mại, chính sách của chính phủ, chi phí sản xuất, điều kiện kinh doanh) phù hợp với bối cảnh của một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
- Xác định hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể để đo lường từng nhóm nhân tố: GDP, GDP bình quân đầu người, xuất khẩu/GDP, nhập khẩu/GDP, số lượng FTA, thuế suất/lợi nhuận, tiền lương lao động, tiêu thụ điện năng và dòng vốn IFDI.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng OFDI của Việt Nam trong suốt giai đoạn 1989–2014 theo cơ cấu hình thức đầu tư, lĩnh vực, địa bàn tiếp nhận và chủ thể kinh tế.
- Kiểm định và chứng minh bằng phương pháp định lượng và định tính rằng: Hoạt động xuất khẩu hàng hóa, quy mô thị trường, các hiệp định hợp tác song phương/đa phương, dòng vốn IFDI vào trong nước, chính sách ưu đãi đầu tư và nhu cầu tìm kiếm nguyên nhiên vật liệu là những nhân tố có tác động thúc đẩy tích cực đến dòng vốn OFDI của Việt Nam. Ngược lại, các yếu tố nhập khẩu, thuế suất, chi phí nhân công trong nước và chính sách tín dụng hiện hành chưa thể hiện tác động thúc đẩy đối với OFDI.
- Đề xuất 5 nhóm khuyến nghị chính sách có cơ sở thực chứng nhằm đổi mới quản lý nhà nước, tháo gỡ rào cản hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh khi đầu tư ra nước ngoài.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Về phạm vi phân tích: Luận án chỉ tập trung phân tích các nhân tố từ phía nước xuất khẩu vốn (Việt Nam) mà không đi sâu phân tích các biến số môi trường thể chế, chính sách thu hút FDI và đặc điểm thị trường riêng biệt của từng quốc gia trong số 63 nước tiếp nhận đầu tư của Việt Nam.
- Về nội dung đánh giá: Luận án tập trung đo lường quy mô dòng vốn và số lượng dự án OFDI đăng ký, chưa phân tích chuyên sâu về hiệu quả tài chính thực tế, tỷ suất sinh lời, lượng lợi nhuận thực tế chuyển về nước cũng như các rủi ro vận hành của từng dự án cụ thể.
- Về dữ liệu: Chuỗi số liệu thống kê đầy đủ dừng lại ở mốc năm 2014; thông tin chi tiết về các dự án của khối doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế do chế độ báo cáo chưa đồng bộ.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng mô hình nghiên cứu kết hợp dữ liệu bảng (panel data) để đánh giá đồng thời các nhân tố từ cả nước xuất khẩu vốn và các nước tiếp nhận đầu tư của Việt Nam.
- Nghiên cứu định lượng đánh giá tác động ngược của dòng vốn OFDI đối với cán cân thanh toán, thu nhập quốc dân và năng lực công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý Ngoại hối – Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương): Tham khảo Chương 4 và Chương 5 để nắm bắt thực trạng phân bổ dòng vốn, nhận diện các nút thắt pháp lý, từ đó hoàn thiện các quy định hướng dẫn Luật Đầu tư, đổi mới quy trình thẩm định cấp phép dự án OFDI và xây dựng các chương trình ngoại giao kinh tế hỗ trợ doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động hoặc định hướng đầu tư ra nước ngoài: Tham khảo nội dung phân tích trường hợp điển hình tại Chương 4 (Viettel, Petrovietnam, Hoàng Anh Gia Lai) để rút ra bài học kinh nghiệm về chiến lược thâm nhập thị trường, quản trị rủi ro địa phương và tiếp cận nguồn tài nguyên/khách hàng quốc tế.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Kinh doanh quốc tế, Quản lý kinh tế: Sử dụng Chương 1, Chương 2 và Chương 3 làm tài liệu tham khảo về khung lý thuyết OLI/IDP, tổng quan nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và quy trình thiết kế mô hình hồi quy kiểm định các nhân tố tác động đến FDI xuất khẩu.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 1989–2014 có sự thay đổi như thế nào về số lượng dự án và quy mô vốn?
Trả lời: Năm 1989, Việt Nam chỉ có 1 dự án OFDI với số vốn đăng ký là 560 nghìn USD. Đến năm 1999, con số này tăng lên 9 dự án với tổng vốn 12,17 triệu USD. Đến năm 2014, số dự án đạt 109 dự án với tổng vốn đăng ký đạt 1.787,53 triệu USD, nâng tổng số thị trường tiếp nhận đầu tư của Việt Nam lên 63 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Câu hỏi 2: Mô hình kinh tế lượng trong luận án kiểm định những biến số độc lập nào và biến nào có tác động thúc đẩy dòng vốn OFDI của Việt Nam?
Trả lời: Mô hình hồi quy OLS của luận án đưa vào kiểm định các biến độc lập gồm: tỷ lệ xuất khẩu/GDP ($EX/GDP$), tỷ lệ nhập khẩu/GDP ($IM/GDP$), dòng vốn FDI vào trong nước ($LnIFDI$), mức tiêu thụ điện năng bình quân ($LnELECT$) và thuế doanh nghiệp ($TAX$). Kết quả ước lượng cho thấy biến tỷ lệ xuất khẩu ($EX/GDP$) và dòng vốn FDI vào trong nước ($LnIFDI$) có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê đối với quy mô vốn OFDI ($LnOFDI$).
Câu hỏi 3: Ba trường hợp doanh nghiệp điển hình được luận án lựa chọn nghiên cứu đại diện cho những lĩnh vực nào?
Trả lời: Ba trường hợp điển hình gồm: Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) đại diện cho lĩnh vực dịch vụ công nghệ viễn thông (đầu tư tại Campuchia, Lào, Haiti, Mozambique, Timor Leste, Peru, Burundi); Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam / PVEP) đại diện cho lĩnh vực công nghiệp khai khoáng và năng lượng (dự án tại Nga, Malaysia, Algeria, Venezuela); và Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) đại diện cho khối doanh nghiệp tư nhân đầu tư nông nghiệp và bất động sản tại Lào, Campuchia và Myanmar.
Câu hỏi 4: Khung phân tích các nhân tố tác động đến OFDI của luận án được chia thành những nhóm nhân tố nào?
Trả lời: Kế thừa khung phân tích từ UNCTAD (2006, 2010), luận án chia các nhân tố từ phía nước đi đầu tư thành 4 nhóm chính: (1) Nhóm điều kiện thị trường và thương mại, (2) Nhóm chính sách của Chính phủ, (3) Nhóm chi phí sản xuất, và (4) Nhóm điều kiện kinh doanh.
Câu hỏi 5: Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chính sách trọng tâm nào nhằm thúc đẩy hoạt động OFDI của Việt Nam?
Trả lời: Tác giả đề xuất 5 nhóm hàm ý chính sách: (i) Thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài gắn với các hiệp định thương mại; (ii) Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI; (iii) Ban hành các chính sách ưu đãi về thuế và tài chính thúc đẩy OFDI; (iv) Thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp thông qua ngoại giao kinh tế và cung cấp thông tin thị trường; (v) Thu hút dòng vốn IFDI vào trong nước theo hướng tiếp nhận công nghệ cao để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Mai đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về các nhân tố tác động đến dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, tập trung vào góc độ nước xuất khẩu vốn. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích định tính, nghiên cứu trường hợp điển hình tại Viettel, Petrovietnam, Hoàng Anh Gia Lai và mô hình hồi quy chuỗi thời gian giai đoạn 1989–2014, công trình đã làm rõ vai trò thúc đẩy của hoạt động thương mại xuất khẩu, dòng vốn IFDI và chính sách hỗ trợ đối với quy mô OFDI của Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho việc hoàn thiện khung khổ pháp lý, đổi mới cơ chế quản lý nhà nước và định hình chiến lược đầu tư quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng.