Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch của du khách trường hợp 3 tỉnh ven biển tây nam sông hậu là cà mau bạc liêu và sóc trăng việt nam

Tài liệu nghiên cứu Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch của du khách trường hợp 3 tỉnh ven biển, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học Trà Vinh

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

213
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1.1. Về mặt thực tiễn

1.1.2. Về mặt lý thuyết

1.1.3. Nhận xét và xác định khoảng trống các nghiên cứu trước đây

1.1.4. Sự cần thiết tiếp tục nghiên cứu

1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.6. CẤU TRÚC LUẬN ÁN

2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.1.1. Du lịch, phân loại du lịch và các thành phần liên quan du lịch

2.1.2. Điểm đến và hình ảnh điểm đến

2.1.3. Điểm đến có thể xem là một sản phẩm du lịch

2.1.4. Sự hài lòng

2.1.5. Phân biệt hành vi dự định và thực hiện hành vi

2.1.6. Ý định quay lại điểm đến du lịch

2.1.7. Thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi được nhận thức

2.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.2.1. Lý thuyết về Hình ảnh điểm đến

2.2.2. Lý thuyết về Sự hài lòng

2.2.3. Lý thuyết về hành vi dự định quay lại điểm đến du lịch

2.3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ Ý ĐỊNH QUAY LẠI

2.3.1. Tình hình nghiên cứu quốc tế

2.3.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

3. XÂY DỰNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

3.1. Cơ sở để xây dựng và đề xuất giả thuyết nghiên cứu

3.2. Xây dựng và đề xuất giả thuyết nghiên cứu

4. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

5. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

5.1. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

5.2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

5.2.1. Thang đo và xây dựng thang đo

5.2.2. Hình thành thang đo các nhân tố

5.2.3. Tóm tắt lại bộ thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại

5.3. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

5.3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

5.3.2. Phương pháp phân tích

5.3.3. Nghiên cứu định lượng sơ bộ

5.3.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ

5.3.5. Kết luận về kết quả nghiên cứu sơ bộ

6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

6.1. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

6.1.1. Một số nét về vị trí địa lý tỉnh Cà Mau

6.1.2. Một số nét về vị trí địa lý tỉnh Bạc Liêu

6.1.3. Một số nét về vị trí địa lý tỉnh Sóc Trăng

6.2. NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG CHÍNH THỨC

6.2.1. Phân tích đặc điểm du khách qua khảo sát nghiên cứu chính thức

6.2.2. Đánh giá độ tin cậy thang đo qua nghiên cứu chính thức

6.2.3. Phân tích giá trị thang đo qua nghiên cứu chính thức

6.2.4. Phân tích nhân tố khẳng định CFA

6.2.5. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

6.2.6. Phân tích bootstrap

6.2.7. Phân tích đa nhóm

6.3. TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

6.3.1. Kết quả xây dựng và đánh giá bộ thang đo nghiên cứu

6.3.2. Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

6.4. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

6.4.1. Thảo luận nhân tố Thái độ

6.4.2. Thảo luận nhân tố Chuẩn chủ quan

6.4.3. Thảo luận nhân tố Kiểm soát hành vi nhận thức

6.4.4. Thảo luận nhân tố Sự hài lòng

6.4.5. Thảo luận nhân tố Hình ảnh điểm đến về khả năng tiếp cận

6.4.6. Thảo luận nhân tố Hình ảnh điểm đến về chất lượng

6.4.7. Thảo luận nhân tố Hình ảnh điểm đến về tổng thể điểm đến

7. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

7.1. Nhận xét kết quả nghiên cứu

7.2. Tính mới và đóng góp của luận án

7.3. HÀM Ý QUẢN TRỊ

7.3.1. Cơ sở đề xuất hàm ý quản trị

7.3.2. Hệ thống các hàm ý quản trị

7.4. HẠN CHẾ LUẬN ÁN VÀ ĐỀ XUẤT NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Quay Lại Du Lịch

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại du lịch tại Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng là rất quan trọng. Những tỉnh này không chỉ nổi tiếng với cảnh đẹp thiên nhiên mà còn có nền văn hóa phong phú. Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp các nhà quản lý du lịch phát triển các chiến lược thu hút du khách quay lại. Theo nghiên cứu, các yếu tố như sự hài lòng, hình ảnh điểm đến và thái độ của du khách đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định quay lại.

1.1. Ý Nghĩa Của Nghiên Cứu Về Du Lịch Tại Cà Mau Bạc Liêu Sóc Trăng

Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về du lịch Cà Mau, du lịch Bạc Liêu, và du lịch Sóc Trăng, mà còn cung cấp thông tin quý giá cho các nhà hoạch định chính sách. Việc nắm bắt được tâm lý du khách sẽ giúp cải thiện dịch vụ và nâng cao trải nghiệm du lịch.

1.2. Các Nhân Tố Chính Ảnh Hưởng Đến Ý Định Quay Lại

Các nhân tố như sự hài lòng, thái độ và hình ảnh điểm đến là những yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định quay lại du lịch. Nghiên cứu cho thấy rằng du khách thường quay lại những điểm đến mà họ cảm thấy hài lòng và có trải nghiệm tích cực.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Ngành Du Lịch

Ngành du lịch tại Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự cạnh tranh từ các điểm đến khác và ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đã làm giảm lượng khách du lịch. Các vấn đề như cơ sở hạ tầng kém và dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu cũng là những thách thức lớn.

2.1. Ảnh Hưởng Của Dịch Bệnh Đến Ngành Du Lịch

Dịch bệnh Covid-19 đã làm giảm mạnh lượng khách du lịch đến các tỉnh ven biển. Theo thống kê, lượng khách giảm đến 79,5% so với năm 2019, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu của ngành du lịch.

2.2. Cạnh Tranh Từ Các Điểm Đến Khác

Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các điểm đến du lịch khác trong và ngoài nước. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ và cải thiện hình ảnh điểm đến là cần thiết để thu hút du khách.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng

Nghiên cứu sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại du lịch. Phương pháp định tính giúp xây dựng mô hình nghiên cứu, trong khi phương pháp định lượng kiểm định các giả thuyết đã đề ra.

3.1. Phương Pháp Định Tính Trong Nghiên Cứu

Phương pháp định tính được sử dụng để thu thập thông tin từ các chuyên gia và du khách. Qua đó, xác định được các yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định quay lại du lịch.

3.2. Phương Pháp Định Lượng Và Phân Tích Dữ Liệu

Phương pháp định lượng được áp dụng để phân tích dữ liệu từ 443 mẫu khảo sát. Kết quả cho thấy có 5 giả thuyết được chấp nhận, cho thấy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhân tố đến ý định quay lại.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Ý Định Quay Lại

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự hài lòng và hình ảnh điểm đến có ảnh hưởng lớn đến ý định quay lại du lịch. Du khách có xu hướng quay lại những điểm đến mà họ đã có trải nghiệm tích cực. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc cải thiện chất lượng dịch vụ.

4.1. Sự Hài Lòng Của Du Khách

Sự hài lòng của du khách là yếu tố quyết định trong việc quay lại. Nghiên cứu cho thấy rằng du khách hài lòng với dịch vụ sẽ có khả năng quay lại cao hơn.

4.2. Hình Ảnh Điểm Đến Và Ảnh Hưởng Đến Du Khách

Hình ảnh điểm đến cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút du khách. Một hình ảnh tích cực sẽ tạo ra ấn tượng tốt và khuyến khích du khách quay lại.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Ngành Du Lịch

Ngành du lịch tại Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng có tiềm năng phát triển lớn. Tuy nhiên, cần có các chiến lược cụ thể để cải thiện chất lượng dịch vụ và hình ảnh điểm đến. Việc nghiên cứu và hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại du lịch sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Đối Với Ngành Du Lịch

Nghiên cứu này cung cấp thông tin quý giá cho các nhà quản lý du lịch trong việc phát triển các chiến lược thu hút du khách quay lại.

5.2. Định Hướng Phát Triển Ngành Du Lịch Tương Lai

Cần có các chính sách hỗ trợ và đầu tư vào cơ sở hạ tầng để phát triển du lịch bền vững tại các tỉnh ven biển. Điều này sẽ giúp nâng cao trải nghiệm du khách và khuyến khích họ quay lại.

25/07/2025
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch của du khách trường hợp 3 tỉnh ven biển tây nam sông hậu là cà mau bạc liêu và sóc trăng việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 trình bày các nội dung cơ bản về: lý do chọn chủ đề nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu; và, kết cấu nội dung nghiên cứu của luận án.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1 Về mặt thực tiễn Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp với nhiều thành phần bao gồm: dịch vụ phân phối du lịch, cơ sở hạ tầng giao thông- vận tải, lữ hành, nhà hàng khách sạn và các dịch vụ hỗ trợ khác… Các hoạt động của khu vực tư nhân và chính phủ đều tham gia vào ngành công nghiệp “không khói” này. Ở nước ta, từ sau “đổi mới” năm 1986 đã xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà Nước, các hoạt động kinh doanh có nhiều tiến triển tốt, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm tương đối tích cực… đã tạo nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi để các cá nhân, doanh nghiệp có thể thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh. Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN và sau đó là khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) vào những năm 90 của thế kỷ 20. Nước ta cũng đã tham gia nhiều diễn đàn lớn như: diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC)… và đến năm 2006 đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã và đang mở ra nhiều cơ hội, cũng như nhiều thách thức đối với cộng đồng doanh nghiệp và cả nền kinh tế.

Do đó, vấn đề phát triển kinh tế cần phải đảm bảo mang tính bền vững, thiết thực và hiệu quả đối với tất cả các ngành kinh tế nói chung, trong đó có ngành kinh tế du lịch. Đa số các quốc gia đều dựa vào ngành công nghiệp du lịch là nguồn chính để tạo nguồn thu, kích thích tăng trưởng kinh tế khu vực tư nhân và khu vực công. Phát triển du lịch được khuyến khích đồng bộ với các hình thức phát triển kinh tế khác như sản xuất, thương mại- dịch vụ hoặc xuất khẩu. Chen & Tsai (2007) cho rằng, du lịch được coi là một động lực để kích thích phát triển khu vực, lý do là nếu ngành này thành công, các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ có thể tăng được doanh thu từ 1 khách du lịch tại các điểm đến; hoặc vấn đề giải quyết việc làm… Ngành kinh tế du lịch có vai trò hỗ trợ phát triển kinh tế- xã hội của đất nước: chuyển giao khoa học công nghệ, mời gọi đầu tư, giải quyết vấn đề việc làm, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần, khai thác hiệu quả nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của địa phương.

Kinh tế du lịch cùng với các ngành kinh tế khác tạo thành mối liên kết, cùng hợp tác, cạnh tranh và phát triển. Theo Tổng cục Du lịch, ước tính sơ bộ năm 2017 Việt Nam đón được 12,9 triệu lượt khách quốc tế và phục vụ khoảng hơn 73 triệu lượt khách nội địa. Năm 2018 Việt Nam đón được khoảng 15,6 triệu lượt khách quốc tế và 80 triệu lượt khách nội địa. Năm 2019, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước tính đạt 18 triệu lượt người, cụ thể hơn, khách đến bằng đường hàng không đạt 14,3 triệu lượt người; bằng đường bộ đạt 3,36 triệu lượt người; bằng đường biển đạt 264 nghìn lượt người (Duyên Duyên, 2019).

Trong các phương thức du lịch đến Việt Nam của du khách quốc tế, ta thấy được lượng khách quốc tế đến Việt Nam chủ yếu là đường hàng không, chiếm tỷ trọng 79,8% so với các phương thức khác. Cũng theo Tổng cục Thống kê, trong năm 2020 lượng khách quốc tế đến Việt Nam chỉ đạt khoảng 3,7 triệu lượt người; khách du lịch nội địa đạt 56 triệu lượt người, kéo thu doanh thu ngành du lịch cũng sụt giảm; điển hình là các công ty vận tải, lữ hành, khách sạn, nhà hàng… (Trang Linh, 2021). Như vậy, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, ta thấy được lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã giảm 79,5%; khách du lịch nội địa giảm 34,1% (so với năm 2019). Mặc dù Việt Nam chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid- 19, tuy nhiên đây là vấn đề chung toàn cầu, đến khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt (chẳng hạn: nghiên cứu thành công vaccin) thì nhìn chung du lịch vẫn là một trong những ngành kinh tế có vai trò chiến lược đối với sự phát triển của quốc gia.2 Về mặt lý thuyết Gitelson và Crompton (1984) nhận ra tầm quan trọng của phân khúc về những người du lịch quay lại nhiều lần điểm đến du lịch.

Các ông thấy rằng nhiều khu vực điểm đến phụ thuộc rất nhiều vào các chuyến thăm lặp lại. Những nỗ lực tiếp thị dành cho việc phát triển và duy trì một lượng khách viếng thăm lặp lại của một nhóm khách hàng nên được quan tâm hàng đầu, bởi vì thị trường du lịch lặp lại rất quan trọng đối 2 với điểm đến. Các nhà nghiên cứu thấy rằng, có 5 lý do mà du khách quay trở lại một điểm đến: (1) để giảm rủi ro bằng cách ở một điểm đến quen thuộc, (2) để giảm rủi ro bằng cách hiểu rõ cư dân địa phương, (3) để khám phá thêm nhiều nơi của điểm đến, (4) để gắn bó tình cảm với điểm đến, và (5) để chứng tỏ đã đến du lịch nơi này. Cũng theo các tác giả, qua so sánh giữa những người đi nghỉ (du lịch) nhiều lần và không lặp lại cho thấy rằng những khách du lịch lặp lại thì có nhiều khả năng đang tìm kiếm sự trải nghiệm văn hóa mới, trong khi những người đang tìm kiếm thư giãn sẽ có xu hướng chọn các địa điểm quen thuộc hơn đối với mình.

Ghé thăm lặp lại là một hiện tượng quan trọng trong du lịch, kể cả ở cấp độ nền kinh tế. Du khách quay lại chiếm hơn một nửa tổng số khách du lịch cho bất kỳ điểm đến nhất định nào (Wang, 2004), mang lại nguồn thu nhập ổn định (Cetinsoz và Ege, 2013) và có nhiều khả năng truyền miệng tích cực miễn phí (Kim và cộng sự, 2013). Hơn nữa, chi phí tiếp thị để thu hút du khách mới sẽ cao hơn so với làm hài lòng khách cũ (Alegre và Juaneda, 2006; Kim và cộng sự, 2013). Do đó, việc giảm chi phí tiếp thị thông qua việc tạo ra một thái độ tích cực của du khách cũ có thể là chìa khóa để tiếp thị điểm đến thành công.

Ý nghĩa của thị trường du lịch lặp lại quốc tế và nội địa đã được công nhận về mặt đóng góp kinh tế quan trọng về quy mô, về thị phần so với khách du lịch lần đầu. Đây cũng là mục tiêu của bất kỳ điểm đến nào để thu hút càng nhiều khách viếng thăm lặp lại càng tốt để giảm chi phí tiếp thị, thường ở mức hàng triệu đô la đối với nhiều tổ chức du lịch quốc gia (Tổ chức Lữ hành Châu Á Thái Bình Dương, 1997). Theo Darnell & Johnson (2001), một chuyến thăm hiện tại ảnh hưởng đến khả năng sẽ được họ viếng thăm lặp lại ở một số thời kỳ tiếp theo; cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng những người khác sau đó cũng sẽ ghé thăm do truyền miệng; hoặc, ý kiến của du khách về chuyến thăm của chính họ trước đây cũng góp phần định hình nhận thức cho những người khác để có thể thực hiện chuyến viếng thăm lần đầu tiên.3 Nhận xét và xác định khoảng trống các nghiên cứu trước đây (Quốc tế và Việt Nam) Kết quả tổng quan (ở Chương 2) đã giúp tác giả có cái nhìn tổng thể về chủ đề và xu hướng nghiên cứu ý định quay lại điểm đến du lịch, cả ở Quốc tế và Việt Nam. Có thể nói, các nghiên cứu trước đây tuy vận dụng các cách tiếp cận lý thuyết khác 3 nhau nhưng đều cố gắng giải thích tâm lý, hành vi của du khách đối với điểm đến du lịch (thể hiện qua các thuật ngữ lựa chọn điểm đến; sự hài lòng; lòng trung thành điểm đến; hay, ý định quay lại điểm đến).

Mặc dù chủ đề nghiên cứu vẫn có một số ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên cứu, tuy nhiên, đa phần các đóng góp của nghiên cứu tạo ra sự đồng thuận về một số nhóm yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chuyến thăm lặp lại điểm đến của du khách (xem Phụ lục 01 và 02). Nhìn chung, chủ đề nghiên cứu về ý định quay lại điểm đến được vận dụng lý thuyết với nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu vẫn có thể giải thích được ý định hành vi quay lại điểm đến của du khách. Qua tổng quan lý thuyết về chủ đề này, tác giả xác định được một số cách tiếp cận nghiên cứu như sau: (1) Hướng tiếp cận về Sự hài lòng (kỳ vọng- xác nhận); (2) Hướng tiếp cận về Chất lượng dịch vụ; (3) Hướng tiếp cận về lòng trung thành; (4) Hướng tiếp cận về Hình ảnh điểm đến; (5) Hướng tiếp cận về ý định hành vi (lý thuyết hành vi dự định có kế hoạch); (6) Hướng tiếp cận kết hợp nhiều lý thuyết để cùng giải thích ý định quay lại; (7) Hướng tiếp cận đặc thù khác (một số nhân tố mới).4 Sự cần thiết tiếp tục nghiên cứu Đồng bằng sông Cửu Long là vùng cực nam của Việt Nam, còn được gọi là vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ, với tổng diện tích tự nhiên 39.734 km² chiếm 12,2% diện tích tự nhiên của V i ệ t N a m , p hía Bắc giáp Campuchia, phía Tây và Đông Nam tiếp giáp với Biển Đông. Đây là vùng đồng bằng châu thổ với hệ thống sông ngòi chằng chịt; tiếp giáp với biển cùng với địa hình đa dạng (đồng bằng, núi, các đảo ven bờ…) và các điều kiện tự nhiên sẵn có, đồng bằng sông Cửu Long có nhiều cơ hội để phát triển du lịch.

Với vị trí địa lý gần kề với TP. HCM- là cầu nối giao thương giữa đồng bằng sông Cửu Long với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giúp đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thuận lợi trong việc liên kết phát triển kinh tế- xã hội với các vùng khác của Việt Nam. Ngoài ra, đồng bằng sông Cửu Long còn dẫn đầu cả nước về nhiều mặt hàng nông sản (đặc biệt là lúa gạo) nên cũng góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ