Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh bất động sản (mã ngành: 9340101) với đề tài "Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở của người dân khu vực đô thị Việt Nam", do nghiên cứu sinh Trần Xuân Lượng thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Lan Hương (cùng sự tham gia hỗ trợ của PGS. Phạm Văn Linh), bảo vệ năm 2021.
Về tính cấp thiết, tác giả chỉ ra rằng sau hơn 30 năm hình thành từ mốc đổi mới năm 1986, thị trường bất động sản Việt Nam đã trải qua các chu kỳ biến động phức tạp: tăng trưởng, ổn định, nóng sốt, đóng băng, trầm lắng và phục hồi. Trong giai đoạn 5 năm gần đây sau đợt đóng băng thứ ba, thị trường phát triển nhanh nhưng hành lang pháp lý chưa theo kịp, thường xuyên thay đổi và thiếu minh bạch. Thực trạng này dẫn đến khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai gay gắt tại nhiều địa phương, chiếm tới 80% tổng số đơn thư tranh chấp. Theo số liệu của Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA, 2020b), riêng tại TP.HCM đã có 53 dự án của 12 doanh nghiệp chậm cấp sổ hồng cho cư dân với gần 30.000 căn hộ; trên phạm vi cả nước có trên 50.000 căn hộ bị vướng mắc thủ tục pháp lý. Tình trạng này kéo theo việc sụt giảm nguồn thu ngân sách nhà nước từ tiền sử dụng đất tại TP.HCM (năm 2018 đạt 16.493 tỷ đồng, giảm 21,2%; năm 2019 đạt 14.650 tỷ đồng, giảm 11,2%; 8 tháng đầu năm 2020 đạt 4.453 tỷ đồng, giảm 52% so với cùng kỳ).
Bên cạnh đó, thị trường ghi nhận sự lệch pha cung cầu: nguồn cung nhà ở bình dân (được định vị dưới 1.200 USD/m² theo JLL, 2020) rất thiếu, trong khi phân khúc căn hộ trung và cao cấp tồn kho lớn (khoảng 22.000 căn vào cuối năm 2019 theo Bộ Xây dựng). Khách hàng mục tiêu chính của phân khúc này là tầng lớp trung lưu (theo chuẩn của World Bank năm 2015 là người có mức chi tiêu trên 15 USD/người/ngày, tương đương 10,6 triệu đồng/người/tháng), chiếm 15% dân số năm 2019 (khoảng 14,4 triệu người) và dự kiến tăng lên 20%–25%. Mặc dù có nhu cầu và khả năng tài chính, người mua nhà vẫn thận trọng trước các rủi ro pháp lý và đặc tính sản phẩm. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: các công trình trong nước trước đó chủ yếu tập trung vào phân khúc nhà ở xã hội hoặc nhà ở cho người thu nhập thấp; thiếu vắng các nghiên cứu định lượng chuyên sâu khảo sát hành vi mua của tầng lớp trung lưu, thiếu sự so sánh trực tiếp giữa hai loại hình nhà ở cơ bản (nhà riêng và nhà chung cư) trong cùng tầm giá, và chưa đưa nhân tố tính pháp lý cùng vị trí vào khung phân tích hành vi có kế hoạch.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định mua nhà ở của người dân khu vực đô thị Việt Nam; cụ thể hóa bằng việc so sánh sự khác nhau về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố lên ý định mua của khách hàng trung lưu đối với hai loại hình nhà chung cư và nhà riêng có mức giá từ 3 đến 5 tỷ đồng.
Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Những nhân tố chính nào ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở tầm giá từ 3–5 tỷ đồng của tập khách hàng trung lưu trong các khu vực đô thị Việt Nam?
- Có sự khác nhau như thế nào về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố lên ý định mua nhà chung cư và ý định mua nhà riêng có cùng mức giá 3–5 tỷ đồng trong các khu vực đô thị Việt Nam của những khách hàng trung lưu?
- Đặc điểm nhân khẩu học nào có sự khác nhau giữa hai nhóm khách hàng trung lưu có ý định mua chung cư hoặc nhà riêng cùng mức giá 3–5 tỷ đồng trong khu vực đô thị Việt Nam?
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng tới ý định mua nhà ở của người mua nhà khu vực đô thị Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Khách thể nghiên cứu: Nhóm khách hàng trung lưu có khả năng tài chính và đang có ý định mua nhà riêng hoặc căn hộ chung cư trong khoảng giá từ 3 đến 5 tỷ đồng (phân khúc có tỷ lệ hấp thụ trên 97% theo Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam).
- Nội dung: Tập trung vào ý định mua nhà ở và các nhân tố tác động; không đi sâu vào các giai đoạn sau mua như quyết định mua thực tế hay sự hài lòng sau mua.
- Phương pháp: Tiếp cận dưới góc độ người mua nhà (không tiếp cận từ bên bán hay môi giới).
- Không gian: Các khu vực đô thị tại các tỉnh, thành phố của Việt Nam.
- Thời gian: Thu thập dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014–2018; thu thập dữ liệu sơ cấp từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019; xử lý dữ liệu và viết báo cáo giai đoạn 2019–2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan đến hành vi người tiêu dùng và ý định mua bất động sản qua các nhóm công trình:
Về khái niệm và bản chất hành vi người tiêu dùng: Tác giả điểm lại định nghĩa của Walters (1974), Mowen (1993), Schiffman & Kanuk (1997, 2012), Engel, Blackwell & Miniard (1990), Kotler & Keller (2009), Solomon (2009) và Hoyer & Macinnis (2010). Các nghiên cứu này chỉ rõ hành vi tiêu dùng là quá trình cá nhân hoặc nhóm lựa chọn, mua, sử dụng và loại bỏ sản phẩm/dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu.
Về hành vi người tiêu dùng đối với sản phẩm nhà ở: Các công trình của Fierro và cộng sự (2009), Hoàng & Yi (2010), Opoku & Abdul-Muhmin (2010) xác định người mua nhà là người tiêu dùng hàng hóa lâu bền. Koklic & Vida (2009, 2011) tiếp cận dưới góc độ tối đa hóa lợi ích; Collen & Hoekstra (2001) và Jansen và cộng sự (2011, 2014) xem lựa chọn nhà ở là quá trình giải quyết vấn đề gồm 7 giai đoạn (nhận thức vấn đề, xác định rõ vấn đề, thiết kế và kiểm tra, lựa chọn, cân nhắc cam kết, hành động, phản hồi). Bettman và cộng sự (1998) phân tích sự đánh đổi nhận thức và giảm thiểu cảm xúc tiêu cực. Levy & Kwai-Choi Lee (2004) cùng Levy và cộng sự (2008) nhấn mạnh tính chất xã hội và sự tương tác giữa các thành viên hộ gia đình trong việc ra quyết định mua nhà.
Về các mô hình hành vi con người và mô hình hành vi người tiêu dùng: Tác giả rà soát mô hình kinh tế Marshall (tối đa hóa tiện ích cận biên theo giá và thu nhập), mô hình tâm lý xã hội Veblen (ảnh hưởng của nhóm tham khảo, văn hóa và tiêu dùng phô trương ở tầng lớp nhàn rỗi), mô hình học tập Pavlov (phản xạ có điều kiện qua 4 thành phần: ổ đĩa/động cơ, tín hiệu, phản ứng, củng cố), mô hình phân tâm học Freud (cấu trúc tâm lý id, ego, superego định hình động cơ vô thức) và Tháp nhu cầu Maslow (1943) gồm 5 bậc. Tiếp đó là các mô hình ra quyết định người tiêu dùng toàn diện: mô hình Bettman, mô hình Nicosia, mô hình Howard-Sheth (1969), mô hình Howard (1974, 1977) với 6 khái niệm tương tác (Thông tin - F, Nhận diện thương hiệu - B, Thái độ - A, Sự tự tin - C, Ý định - I, Mua hàng - P), và mô hình Engel-Blackwell-Miniard (EBM/EKB qua các phiên bản 1978, 1982, 1986, 1990, 2001).
Về ứng dụng thuyết hành động hợp lý (TRA) và thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) trong nghiên cứu bất động sản: Luận án phân tích cơ sở từ Fishbein & Ajzen (1975) về TRA và Ajzen (1988, 1991, 2006, 2012) về TPB kết hợp Thuyết giá trị kỳ vọng (TEV). Các nghiên cứu thực nghiệm được trích dẫn gồm: Chung và cộng sự (2018), Wu và cộng sự (2011), Sidi & Sharipah (2011), Dodds và cộng sự (1991), Schuler & Adair (2003), Zawawi và cộng sự (2004), Han & Kim (2010), Julius và cộng sự (2016), Wu & Teng (2011), Cohen và cộng sự (2009), Mohamad và cộng sự (2013), Plabdaeng (2010), Tawfik (2014, 2015a,b,c), Tech (2013). Các nghiên cứu quốc tế gần đây gồm Sridharan (2020) tại Chennai (Ấn Độ) khảo sát các yếu tố lãi suất vay, nhận thức đầu tư; Alan Liu (2019) tổng hợp các nghiên cứu của Zhang, Xuan, Hou, Qiu Xingjie, Fu Mingzhen, Xuanjie, Li tại Trung Quốc về tác động của nhân khẩu học và số lượng con cái lên sự sẵn sàng mua nhà. Tại Việt Nam, tác giả điểm lại công trình của Nguyễn Thị Tùng Phương (2018) về lựa chọn căn hộ chung cư dựa trên lý thuyết của Brown & King (2005), Lê Va Xi (2017) về sự phức tạp trong quyết định mua căn hộ, cùng các nghiên cứu đô thị của Trần Minh Tùng (2019), Trần Ngọc Chính (2019) và Đặng Hoàng Hải Anh (2020).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Luận án tập trung lấp đầy khoảng trống khi các nghiên cứu tại Việt Nam chưa phân định rõ ràng sự khác biệt về cơ chế tác động của các nhân tố tâm lý - kinh tế - thể chế lên hai loại hình nhà ở phổ biến (nhà riêng và nhà chung cư) trong cùng một khung phân tích thực nghiệm; đồng thời tích hợp trực tiếp hai nhân tố đặc thù của thị trường đô thị Việt Nam là "Vị trí nhà" và "Tính pháp lý" vào mô hình TPB mở rộng cho phân khúc khách hàng trung lưu tầm giá 3–5 tỷ đồng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Luận án kế thừa Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991, 2006, 2012) và mở rộng mô hình để phù hợp với bối cảnh thị trường bất động sản đô thị Việt Nam. Khung phân tích gồm 3 nhóm biến:
| Nhóm biến |
Tên biến |
Ký hiệu |
Khái niệm / Nội dung đo lường |
| Biến phụ thuộc |
Ý định mua nhà ở |
YĐM |
Mức độ sẵn sàng và dự định thực hiện hành vi mua nhà riêng hoặc chung cư trong tương lai gần |
| Biến độc lập |
Thái độ |
TĐ |
Đánh giá chủ quan (tích cực hoặc tiêu cực) của người mua đối với việc sở hữu loại hình nhà ở |
|
Chuẩn chủ quan |
CQ |
Nhận thức về áp lực và sự ủng hộ/phản đối từ người thân, gia đình, bạn bè và xã hội |
|
Nhận thức kiểm soát hành vi |
NT |
Đánh giá về mức độ dễ dàng hoặc khó khăn, sự sẵn có của các nguồn lực tài chính, thông tin để mua nhà |
|
Vị trí nhà |
VT |
Các đặc tính về khoảng cách tới trung tâm, nơi làm việc, trường học, bệnh viện, hạ tầng giao thông kết nối |
|
Tính pháp lý |
PL |
Sự minh bạch về quyền sở hữu (sổ đỏ/sổ hồng), tính đầy đủ của hồ sơ dự án, giấy phép xây dựng và rủi ro tranh chấp |
| Biến kiểm soát |
Đặc điểm nhân khẩu học |
- |
Giới tính, Độ tuổi, Nghề nghiệp chính, Trình độ giáo dục, Quy mô hộ gia đình |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng theo quy trình nghiên cứu chuẩn gồm 12 bước:
- Đặt vấn đề nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý thuyết
- Xác lập mô hình nghiên cứu và bảng hỏi sơ bộ
- Xây dựng thang đo ban đầu
- Phỏng vấn chuyên gia và thảo luận sâu
- Khảo sát thử nghiệm (pilot test)
- Đánh giá sơ bộ độ tin cậy thang đo
- Điều chỉnh và hoàn thiện bảng câu hỏi
- Xác định cỡ mẫu và quy trình chọn mẫu
- Điều tra diện rộng (thu thập dữ liệu sơ cấp)
- Phân tích dữ liệu thống kê
- Thảo luận kết quả và đề xuất khuyến nghị
Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập qua phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk data) từ các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Đất đai, Pháp lệnh Nhà ở), báo cáo của Bộ Xây dựng, Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA), Ngân hàng Thế giới (World Bank), Jones Lang LaSalle (JLL) và dữ liệu giao dịch từ Batdongsan.com.vn trong giai đoạn 2014–2018.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phỏng vấn chuyên sâu chuyên gia bất động sản, câu lạc bộ BĐS Hà Nội, doanh nghiệp bất động sản (như Taseco Land) và phát phiếu khảo sát cấu trúc tới người dân tại các khu vực đô thị có nhu cầu mua nhà trong giai đoạn từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019.
Phương pháp phân tích dữ liệu:
- Phân tích định tính: Tổng hợp tài liệu, thống kê so sánh đặc tính giữa hai phân khúc nhà riêng và nhà chung cư trong tầm giá 3–5 tỷ đồng.
- Phân tích định lượng: Sử dụng phần mềm thống kê để kiểm tra chất lượng thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach's Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm rút trích và kiểm định giá trị hội tụ, giá trị phân biệt; Phân tích hồi quy đa biến bội (ước lượng riêng biệt cho nhóm có ý định mua chung cư và nhóm có ý định mua nhà riêng); Kiểm định Independent Samples T-test và Phân tích phương sai One-Way ANOVA để đánh giá sự khác biệt theo các biến nhân khẩu học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và các mô hình nghiên cứu liên quan
Chương 1 cung cấp bức tranh toàn diện về các trường phái lý thuyết hành vi tiêu dùng từ cổ điển đến hiện đại. Tác giả phân tích sâu 4 mô hình hành vi con người:
- Mô hình kinh tế Marshall: Tập trung vào tính duy lý kinh tế, nơi người mua phân bổ ngân sách để tối đa hóa tiện ích biên dựa trên tương quan giá cả và thu nhập.
- Mô hình tâm lý xã hội Veblen: Giải thích hành vi tiêu dùng thông qua áp lực của tầng lớp xã hội, nhóm tham khảo và nhu cầu phô trương địa vị.
- Mô hình học tập Pavlov: Phân tích cơ chế kích thích - phản ứng qua 4 yếu tố cốt lõi (ổ đĩa, tín hiệu, phản ứng, củng cố) và ứng dụng tần suất lặp lại trong truyền thông quảng cáo.
- Mô hình phân tâm học Freud: Phân định xung lực vô thức giữa bản năng (id), bản ngã (ego) và siêu bản ngã (superego) tác động lên các động cơ mua hàng mang tính biểu tượng.
Tiếp đó, chương 1 trình bày hệ thống phân cấp 5 bậc nhu cầu của Maslow (1943) và các mô hình ra quyết định người tiêu dùng phức hợp (Bettman, Nicosia, Howard-Sheth 1969, Howard 1974/1977, EBM 1986/1990/2001). Trọng tâm lý thuyết của chương là phân tích sự chuyển tiếp từ mô hình TRA (Fishbein & Ajzen, 1975) sang mô hình TPB (Ajzen, 1991, 2006) và chứng minh tính tương thích của TPB khi nghiên cứu quyết định mua bất động sản – một quyết định tài chính dài hạn, giá trị lớn và chịu kiểm soát bởi nhiều rào cản nguồn lực. Tác giả tổng kết các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước, từ đó chỉ ra khoảng trống về việc thiếu vắng mô hình so sánh định lượng giữa nhà riêng và chung cư tại đô thị Việt Nam.
Chương 2: Giả thuyết và khung lý thuyết
Chương 2 phân tích bối cảnh khu vực đô thị Việt Nam dưới tác động của đô thị hóa gắn liền với 5 yếu tố chuyển đổi theo World Bank (hành chính, không gian, kinh tế, dân số, phúc lợi). Tác giả so sánh đặc điểm cốt lõi giữa hai loại hình nhà ở phân khúc 3–5 tỷ đồng:
| Tiêu chí |
Nhà riêng (Nhà đất) |
Nhà chung cư |
| Quyền sở hữu & đất đai |
Trực tiếp gắn liền với đất; có đầy đủ quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản trên sổ đỏ/sổ hồng |
Sở hữu diện tích căn hộ (gián tiếp đối với quyền sử dụng đất chung); được cấp sổ hồng theo dự án |
| Vị trí tương đối |
Thường nằm xa trung tâm hơn hoặc trong ngõ/hẻm nếu cùng tầm giá 3–5 tỷ |
Thường nằm gần trung tâm hơn, gắn liền hạ tầng tiện ích nội khu trong cùng tầm giá 3–5 tỷ |
| Tiện ích & quản lý |
Tự quản lý, không mất phí dịch vụ chung nhưng thiếu tiện ích tập trung |
Có ban quản trị/vận hành, tích hợp bãi đỗ xe, thương mại, an ninh, cảnh quan |
Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập 5 giả thuyết nghiên cứu chính cho mô hình (được kiểm định độc lập trên 2 nhóm dữ liệu chung cư và nhà riêng):
- Giả thuyết H1: Thái độ có tác động cùng chiều (+) đến ý định mua nhà ở của người dân đô thị.
- Giả thuyết H2: Chuẩn chủ quan có tác động cùng chiều (+) đến ý định mua nhà ở của người dân đô thị.
- Giả thuyết H3: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều (+) đến ý định mua nhà ở của người dân đô thị.
- Giả thuyết H4: Vị trí nhà có tác động cùng chiều (+) đến ý định mua nhà ở của người dân đô thị.
- Giả thuyết H5: Tính pháp lý có tác động cùng chiều (+) đến ý định mua nhà ở của người dân đô thị.
Đồng thời, chương 2 xác lập hệ thống biến kiểm soát nhân khẩu học gồm: Giới tính, Độ tuổi, Nghề nghiệp chính, Trình độ giáo dục, và Quy mô hộ gia đình; chi tiết hóa hệ thống các chỉ báo thang đo Likert 5 mức độ cho từng biến nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu thực nghiệm:
- Quy trình nghiên cứu: Hiện thực hóa qua 12 bước logic từ nghiên cứu định tính sơ bộ đến điều tra định lượng chính thức.
- Kỹ thuật chọn mẫu: Khảo sát đối tượng người dân đô thị thuộc tầng lớp trung lưu có nhu cầu mua nhà tầm giá 3–5 tỷ đồng, phân tách thành hai tệp khách hàng mục tiêu: nhóm có ý định mua nhà chung cư và nhóm có ý định mua nhà riêng.
- Phương pháp phân tích:
- Kiểm định Cronbach's Alpha nhằm loại các biến quan sát có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ (< 0,3) và đảm bảo độ tin cậy thang đo (> 0,6).
- Phân tích nhân tố khám phá EFA (với phép trích Principal Axis Factoring hoặc Principal Components, phép quay Varimax) nhằm kiểm tra cấu trúc đơn hướng, giá trị hội tụ và phân biệt của các khái niệm.
- Phân tích hồi quy tuyến tính bội để xác định trọng số hồi quy chuẩn hóa ($\beta$), mức độ giải thích ($R^2$, $R^2$ hiệu chỉnh) và giá trị kiểm định F, mức ý nghĩa thống kê ($p$-value).
- Kiểm định $T$-test và ANOVA để so sánh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định mua giữa các nhóm nhân khẩu học.
Chương 4: Kết quả khảo sát về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở của người dân khu vực đô thị Việt Nam
Chương 4 là phần trọng tâm thực nghiệm của luận án, trình bày kết quả phân tích dữ liệu khảo sát:
- Thống kê mô tả mẫu: Phản ánh cơ cấu người tham gia khảo sát theo độ tuổi, giới tính, mức thu nhập trung lưu, nghề nghiệp, trình độ học vấn và quy mô gia đình.
- Kết quả kiểm định thang đo và EFA: Tất cả các thang đo Ý định mua (YĐM), Thái độ (TĐ), Chuẩn chủ quan (CQ), Nhận thức kiểm soát (NT), Vị trí (VT), Tính pháp lý (PL) đều đạt độ tin cậy nội tại và giá trị hội tụ, giá trị phân biệt.
- Kết quả phân tích hồi quy: Luận án phân định rõ mức độ tác động của các nhân tố lên ý định mua giữa hai nhóm:
- Đối với nhóm có ý định mua nhà chung cư: Các nhân tố Thái độ, Vị trí, Tính pháp lý, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi đều có tác động có ý nghĩa thống kê; trong đó yếu tố Vị trí và Tính pháp lý dự án thể hiện mức độ tác động nổi bật đối với việc ra quyết định chọn căn hộ gần trung tâm, đầy đủ tiện ích.
- Đối với nhóm có ý định mua nhà riêng: Yếu tố Tính pháp lý (sổ đỏ/sổ hồng trực tiếp gắn với đất) và Nhận thức kiểm soát hành vi (khả năng tích lũy tài chính, định giá đất) thể hiện trọng số tác động rất mạnh mẽ, phản ánh tâm lý coi trọng quyền sở hữu đất đai lâu dài của người dân đô thị.
- Kết quả kiểm định giả thuyết: Các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5 đều được chấp nhận trên cả hai nhóm dữ liệu với mức ý nghĩa $p < 0,05$.
- Kết quả kiểm định nhân khẩu học (T-test và ANOVA):
- Giới tính và Ý định mua: Xác định sự khác biệt giữa nam và nữ trong mức độ quan tâm đến tiện ích chung cư so với sự chắc chắn về pháp lý của nhà riêng.
- Tuổi tác và Ý định mua: Nhóm khách hàng trẻ tuổi có xu hướng nghiêng về căn hộ chung cư nhờ tiện ích và vị trí kết nối; nhóm khách hàng lớn tuổi ưu tiên chọn nhà riêng gắn liền đất.
- Nghề nghiệp, Trình độ giáo dục và Quy mô hộ gia đình: Hộ gia đình quy mô lớn (nhiều thế hệ) có xu hướng ưu tiên không gian nhà riêng hoặc căn hộ diện tích lớn; trình độ học vấn cao gắn liền với mức độ kiểm tra kỹ lưỡng các điều kiện pháp lý trước khi phát sinh ý định mua.
- Đánh giá tác động chính sách vĩ mô: Chương 4 cũng phân tích sự tác động từ các nút thắt cấp giấy chứng nhận, chính sách tín dụng bất động sản và công tác quy hoạch phân khu đô thị tới tâm lý người mua nhà.
Chương 5: Khuyến nghị đến cá nhân tổ chức có liên quan
Chương 5 đưa ra dự báo và giải pháp ứng dụng thực tiễn:
- Dự báo bối cảnh đô thị hóa và thị trường bất động sản giai đoạn 2020–2021 và giai đoạn tiếp sau: Xu hướng dịch chuyển đất đai, nhu cầu căn hộ trung cấp tiếp tục dẫn dắt thị trường nhưng đối mặt với thách thức quỹ đất nội đô và áp lực hoàn thiện hạ tầng kết nối ven đô.
- Hệ thống khuyến nghị cụ thể:
- Đối với người tiêu dùng: Cần trang bị kiến thức thẩm định pháp lý dự án (tình trạng cấp phép xây dựng, nghĩa vụ tài chính tiền sử dụng đất của chủ đầu tư, tiến độ cấp sổ hồng); cân đối giữa vị trí di chuyển và năng lực tài chính cá nhân trong ngưỡng giá 3–5 tỷ đồng.
- Đối với chủ đầu tư: Minh bạch hóa hồ sơ pháp lý dự án nhằm giải tỏa rào cản tâm lý lớn nhất của khách hàng; tập trung phát triển phân khúc nhà ở trung cấp đáp ứng nhu cầu thực của tầng lớp trung lưu; lựa chọn vị trí có kết nối hạ tầng đồng bộ và hoàn thiện tiện ích nội khu.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Hoàn thiện khung khổ pháp lý đất đai và nhà ở; đẩy nhanh quy trình tính tiền sử dụng đất để tháo gỡ tình trạng "tắc sổ hồng"; công khai, minh bạch thông tin quy hoạch và cấp phép dự án trên cổng thông tin điện tử nhằm giảm thiểu tình trạng đơn thư khiếu kiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định 5 đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Hệ thống hóa lý luận: Tổng hợp và hệ thống hóa toàn diện các mô hình lý thuyết về hành vi con người (Marshall, Veblen, Pavlov, Freud, Maslow), các mô hình hành vi người tiêu dùng (Bettman, Nicosia, Howard-Sheth, Howard, EBM) và các lý thuyết nền tảng về ý định hành vi (TRA, TPB, TEV) trong lĩnh vực bất động sản.
- Xây dựng mô hình nghiên cứu mở rộng: Xác lập thành công mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở của tầng lớp trung lưu khu vực đô thị Việt Nam trong tầm giá 3–5 tỷ đồng dựa trên mô hình TPB của Ajzen (2009, 2012), tích hợp 5 biến độc lập (Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Vị trí ngôi nhà, Tính pháp lý), 5 biến kiểm soát nhân khẩu học và 1 biến phụ thuộc.
- So sánh sự khác biệt giữa hai loại hình nhà ở: Đánh giá và so sánh thực nghiệm sự khác nhau về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố lên ý định mua giữa nhà chung cư và nhà riêng có cùng mức giá 3–5 tỷ đồng của khách hàng trung lưu đô thị.
- Xác định vai trò của các biến nhân khẩu học: Khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định mua nhà chung cư và nhà riêng giữa các nhóm khách hàng trung lưu có đặc điểm nhân khẩu học khác nhau (giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, quy mô hộ gia đình).
- Đề xuất khuyến nghị chính sách và thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học giúp người mua nhà định hướng lựa chọn, hỗ trợ chủ đầu tư định vị sản phẩm đúng nhu cầu thị trường, và cung cấp luận cứ cho cơ quan nhà nước hoàn thiện chính sách quản lý, cấp phép và minh bạch hóa thị trường bất động sản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án xác định phạm vi nghiên cứu tập trung vào phân khúc khách hàng trung lưu với mức giá nhà từ 3 đến 5 tỷ đồng tại khu vực đô thị; chưa bao quát các phân khúc nhà ở cao cấp/hạng sang hoặc phân khúc nhà ở xã hội, nhà thu nhập thấp ở khu vực ngoại vi. Về nội dung, nghiên cứu dừng lại ở việc phân tích "ý định mua" (tiền đề của hành vi) mà chưa tiến hành khảo sát theo dõi dọc đối với "hành vi quyết định mua thực tế" và "mức độ hài lòng sau khi mua nhà".
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các công trình kế tiếp có thể:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các phân khúc giá khác và các nhóm đối tượng thu nhập khác nhau trong xã hội.
- Nghiên cứu mô hình liên kết giữa ý định mua với quyết định mua thực tế và hành vi tiêu dùng sau mua trong các chu kỳ biến động mới của thị trường bất động sản.
- Bổ sung các biến trung gian hoặc biến điều tiết mới như chính sách lãi suất ngân hàng, biến động kinh tế vĩ mô hoặc các hình thức phát triển nhà ở mới phát sinh tại đô thị.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Bất động sản, Kinh tế phát triển và Quản lý đô thị: Có thể tham khảo cách tiếp cận phát triển mô hình TPB mở rộng, quy trình nghiên cứu chuẩn 12 bước, cùng phương pháp thiết kế bảng hỏi và xử lý dữ liệu định lượng so sánh giữa hai phân nhóm sản phẩm.
- Doanh nghiệp và chủ đầu tư dự án bất động sản: Tham khảo kết quả đánh giá trọng số của các yếu tố Vị trí và Tính pháp lý để hoạch định chiến lược phát triển dự án, định vị sản phẩm phân khúc trung cấp 3–5 tỷ đồng và xây dựng thông điệp truyền thông phù hợp với tâm lý khách hàng trung lưu.
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách đô thị: Tham khảo các số liệu thực trạng về vướng mắc thủ tục cấp giấy chứng nhận (sổ hồng), tranh chấp đất đai và nguồn thu tiền sử dụng đất để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, cải cách thủ tục hành chính và quản lý phát triển không gian đô thị bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định tiêu chí tầng lớp trung lưu và phân khúc giá khảo sát dựa trên căn cứ nào?
Tác giả căn cứ vào tiêu chuẩn của World Bank (2015), xác định tầng lớp trung lưu là những người có mức chi tiêu trên 15 USD/người/ngày (khoảng 10,6 triệu đồng/người/tháng theo tỷ giá đầu năm 2020), chiếm 15% dân số Việt Nam năm 2019. Phân khúc giá 3–5 tỷ đồng được lựa chọn vì theo dữ liệu của Batdongsan.com.vn và Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, đây là phân khúc có lượng giao dịch lớn nhất và đạt tỷ lệ hấp thụ cao nhất (trên 97%).
2. Mô hình nghiên cứu của luận án bao gồm những biến số cụ thể nào?
Mô hình nghiên cứu kế thừa từ TPB của Ajzen và mở rộng, bao gồm 5 biến độc lập: Thái độ (TĐ), Chuẩn chủ quan (CQ), Nhận thức kiểm soát hành vi (NT), Vị trí nhà (VT), Tính pháp lý (PL); 5 biến kiểm soát nhân khẩu học: Giới tính, Tuổi, Nghề nghiệp chính, Trình độ giáo dục, Quy mô hộ gia đình; và 1 biến phụ thuộc là Ý định mua nhà ở (YĐM).
3. Thực trạng pháp lý và vướng mắc sổ hồng tại đô thị Việt Nam được tác giả dẫn chứng bằng những số liệu nào?
Theo báo cáo của HoREA (2020b) được trích dẫn trong văn bản, riêng TP.HCM có 53 dự án của 12 doanh nghiệp bị chậm cấp sổ hồng với gần 30.000 căn hộ; cả nước có trên 50.000 căn hộ vướng mắc pháp lý chưa thể cấp giấy chứng nhận. Tình trạng này khiến các tranh chấp về đất đai chiếm tới 80% tổng số đơn thư khiếu nại tại các địa phương và làm sụt giảm nguồn thu tiền sử dụng đất của TP.HCM từ 16.493 tỷ đồng năm 2018 xuống còn 4.453 tỷ đồng trong 8 tháng đầu năm 2020.
4. Tại sao luận án lại phân tích tách biệt mô hình cho hai nhóm nhà chung cư và nhà riêng?
Vì nhà riêng và nhà chung cư trong cùng tầm giá 3–5 tỷ đồng có sự khác biệt căn bản về tính chất pháp lý (sở hữu đất trực tiếp kèm nhà so với sở hữu diện tích căn hộ gián tiếp với đất) và đặc tính không gian (nhà riêng thường xa trung tâm hơn nhưng tự chủ; chung cư gần trung tâm hơn và có tiện ích tích hợp). Việc phân tách mô hình cho phép so sánh chính xác sự khác nhau về mức độ tác động của các nhân tố tâm lý và thể chế lên ý định mua của từng loại hình.
5. Dữ liệu nghiên cứu của luận án được thu thập trong các mốc thời gian nào?
Dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập trong giai đoạn 2014–2018; dữ liệu sơ cấp phục vụ phân tích định lượng được điều tra khảo sát từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019; toàn bộ dữ liệu được phân tích, kiểm định và tổng hợp báo cáo trong giai đoạn 2019–2020.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Xuân Lượng đã giải quyết một vấn đề cấp thiết về ý định mua nhà ở của tầng lớp trung lưu tại các khu vực đô thị Việt Nam thông qua việc mở rộng khung lý thuyết Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB). Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng trên mẫu khảo sát thực tế phân khúc 3–5 tỷ đồng, công trình đã làm rõ và so sánh sự khác biệt về mức độ tác động của các nhân tố Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát, Vị trí và Tính pháp lý đối với hai loại hình nhà riêng và chung cư. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho người tiêu dùng trong việc ra quyết định, hỗ trợ doanh nghiệp bất động sản định hình sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường, đồng thời đóng góp luận cứ thực tiễn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế pháp lý và chính sách phát triển nhà ở đô thị.