Chương 1 của nghiên cứu này đã đưa ra lý do về mặt lý luận và thực tiễn khi lựa chọn đề tài. Mục tiêu của nghiên cứu này là tổng hợp cơ sở lý luận về tính hữu hiệu của HTTTKT, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của HTTTKT tại các doanh nghiệp may Việt Nam và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao tính hữu hiệu của HTTTKT tại các doanh nghiệp may Việt Nam. Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã đưa ra 4 câu hỏi nghiên cứu và xác định phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng trong quá trình nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Tổng quan nghiên cứu Trong nội dung này, tác giả tổng hợp các công trình có liên quan phân theo nhóm chủ đề nghiên cứu, gồm: (i) các nghiên cứu về tính hữu hiệu của HTTTKT; (ii) các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTTTKT, trên thế giới và tại Việt Nam, để xác định khoảng trống nghiên cứu (gap/room). Tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán Chủ đề về tính hữu hiệu của HTTT và HTTTKT được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm bởi nhu cầu về chất lượng thông tin nói chung và thông tin kế toán nói riêng của người ra quyết định ngày càng tăng lên. Các nhà nghiên cứu cho rằng, tính hữu hiệu của HTTT, HTTTKT là sự hài lòng về thông tin được sử dụng hay nhận thức của người sử dụng hệ thống về mức độ mà hệ thống đáp ứng yêu cầu thông tin của họ (Ives và cộng sự, 1983; Marshall,1972; Barki và Hartwick, 1994). Tính hữu hiệu thể hiện ở khả năng hoàn thành mục tiêu của chính hệ thống (Hamilton và Chervany, 1981), đạt được mục tiêu của tổ chức (Raymond, 1990); hỗ trợ quá trình ra quyết định của nhà quản trị (Gordon và cộng sự, 1978; Pierre và cộng sự, 2013; Kharuddin và cộng sự, 2010; Thong và Yap, 1996; Sajady và cộng sự, 2008), làm tăng giá trị cho doanh nghiệp, tạo ra thay đổi tích cực trong hành vi của người sử dụng và năng suất được cải thiện (Gatian, 1994).
Tại Việt Nam, những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã quan tâm hơn đến việc đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT nhưng các nghiên cứu chưa thực sự nhiều. HTTTKT là một thành phần quan trọng của HTTT. Các nghiên cứu trước chủ yếu dựa trên nền tảng lý thuyết về HTTT để đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT. Là một khái niệm có tính chất đa diện, “tính hữu hiệu” được các nhà nghiên cứu đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một số tiêu chí/thành phần/khía cạnh như: chất lượng HTTTKT, sự hài lòng của người sử dụng.
Do vậy, tác giả tiến hành lựa chọn các nghiên cứu có từ khóa tương đương như: tính hữu hiệu, chất lượng, sự thành công. của HTTT và HTTTKT, để tổng hợp các nghiên cứu về tính hữu hiệu của HTTTKT. Các nhà nghiên cứu trước đã đưa ra quan điểm, cách tiếp cận khác nhau để lựa chọn các tiêu chí và phương pháp đánh giá tính hữu hiệu của HTTT và HTTTKT. * Đánh giá HTTTKT hữu hiệu dựa trên cách thức mà HTTTKT thực hiện để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp, thể hiện giá trị kinh tế mà hệ thống mang lại cho doanh nghiệp.
8 Sajady và cộng sự (2008) đã đề xuất 5 giả thuyết cho rằng một HTTTKT hữu hiệu là một hệ thống nâng cao chất lượng báo cáo tài chính; KSNB hiệu quả; hỗ trợ ra quyết định của nhà quản lý; xử lý giao dịch tài chính thuận lợi hơn và cải thiện thước đo hiệu quả hoạt động. Với dữ liệu khảo sát được thu thập từ 347 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Tehran, nhóm tác giả sử dụng kiểm định Z, kiểm định Chi-square với độ tin cậy 95% để kiểm định các giả thuyết. Kết quả cho thấy, HTTTKT hữu hiệu thể hiện ở việc KSNB hiệu quả; nâng cao chất lượng báo cáo tài chính; hỗ trợ ra quyết định của nhà quản lý; xử lý giao dịch tài chính thuận lợi hơn. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đã bác bỏ giả thuyết cho rằng HTTTKT hữu hiệu làm cải thiện thước đo hiệu quả hoạt động.
Kế thừa nghiên cứu của Sajady và cộng sự (2008), Le Ngoc My Hang và Hoang Giang (2012) thực hiện đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT tại các hợp tác xã ở Thừa Thiên Huế. Nhóm tác giả đã đề xuất 6 biến quan sát đo lường tính hữu hiệu của HTTTKT, gồm: KSNB; quá trình ra quyết định; chất lượng báo cáo tài chính; sự thỏa mãn của người sử dụng; quá trình xử lý nghiệp vụ phát sinh và chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động. Kết quả nghiên cứu cho thấy, HTTTKT được thực hiện tại các hợp tác xã ở Huế đã cải thiện KSNB, quá trình ra quyết định, cải thiện chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động, chất lượng báo cáo tài chính, thỏa mãn thông tin của người sử dụng và giúp quá trình xử lý nghiệp vụ phát sinh dễ dàng hơn. Điều này thể hiện sự khác biệt so với kết quả nghiên cứu của Sajady và cộng sự (2008).
Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này chỉ xem xét HTTTKT hữu hiệu dưới góc độ phần mềm kế toán, nên chưa đánh giá được tính hữu hiệu của tổng thể HTTTKT. Cùng quan điểm, thông qua khảo sát các nhà quản lý, kế toán viên, kiểm toán viên tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Huỳnh Thị Kim Ngọc (2013) đã đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT dựa theo 7 tiêu chí được nhận diện từ các nghiên cứu trước và 1 tiêu chí bổ sung cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu tại DNNVV Thành phố Hồ Chí Minh. Thực hiện phân tích dữ liệu khảo sát bởi phần mềm SPSS, kết quả cho thấy, có 7 nhóm tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT, gồm: quá trình xử lý nghiệp vụ dễ dàng hơn, tăng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động, thỏa mãn nhu cầu người sử dụng thông tin, nâng cao chất lượng báo cáo tài chính, cải thiện hệ thống KSNB, cải thiện quá trình ra quyết định và HTTTKT tích hợp. Một phát hiện mới trong nghiên cứu này là tiêu chí quá trình xử lý nghiệp vụ dễ dàng hơn và làm tăng năng suất trung bình của doanh nghiệp (một chỉ tiêu trong đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp) có sự khác biệt giữa lĩnh vực nghề nghiệp của người được khảo sát và quy mô doanh nghiệp.
9 Dựa trên lý thuyết nền tảng về tính hữu hiệu của HTTT, lý thuyết thẻ điểm cân bằng, lý thuyết của DeLone và McLean (1992) và nghiên cứu của Doll và Torkzadeh (1988), Vũ Quốc Thông (2017) đã đánh giá một HTTTKT hữu hiệu thông qua sự hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng lực kinh doanh và đáp ứng với thị trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT giúp nhà quản lý nhận thức được mức độ hữu hiệu của HTTTKT với khả năng hỗ trợ doanh nghiệp (33,92%), nâng cao năng lực kinh doanh (33,76%) và đáp ứng với thị trường (32,32%). Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ đánh giá tính hữu hiệu với đơn vị phân tích là nhà quản lý doanh nghiệp, chưa xem xét đến tác động của chất lượng hệ thống và của người sử dụng HTTTKT. * Đánh giá HTTTKT hữu hiệu dựa trên sự hài lòng của người sử dụng thông qua sự hỗ trợ của HTTTKT.
Thong và Yap (1996) đã chỉ ra một số nguyên tắc khi lựa chọn sự hài lòng của người sử dụng làm thang đo cho tính hữu hiệu của HTTT. Thứ nhất, các nhà nghiên cứu cần phải đưa ra lý thuyết rõ ràng về quan điểm lấy sự hài lòng của người sử dụng làm thang đo cho tính hữu hiệu của hệ thống. Thứ hai, các nhà nghiên cứu cần đưa ra những giả thuyết cơ bản về đo lường tính hữu hiệu của HTTT. Người được chọn để trả lời khảo sát phải phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, có thể là người sử dụng hệ thống, nhà quản lý hay nhân viên bộ phận HTTT.
Thứ ba, cần tìm ra công cụ mới về sự hài lòng của người sử dụng là thăm dò tâm lý (psychometrically-sound) và dựa trên những lý thuyết tốt hơn những lý thuyết đang bị chỉ trích hiện tại. Thứ tư, đánh giá tính hữu hiệu của HTTT cần tiếp cận theo nhiều quan điểm đánh giá khác nhau, bao gồm cả đánh giá chủ quan và khách quan. Theo quan điểm này, Nicolaou (2000) đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT dựa theo “sự hài lòng của người sử dụng về thông tin” hay là nhận thức của người sử dụng về mức độ mà HTTTKT đáp ứng yêu cầu thông tin của họ. Nicolaou (2000) cho rằng tính hữu hiệu của HTTTKT thể hiện tính hữu ích của thông tin kế toán.
Vì vậy, với nghiên cứu thực nghiệm nhằm xem xét mối quan hệ giữa sự phù hợp của HTTTKT và nhận thức về tính hữu hiệu của HTTTKT, tác giả xác định tính hữu hiệu của HTTTKT dựa theo nhận thức của những người ra quyết định về những thông tin đầu ra có sẵn, thông qua hệ thống xử lý giao dịch, các báo cáo quản trị và hệ thống ngân sách có đáp ứng yêu cầu của họ trong việc sắp xếp và kiểm soát tổ chức không. Tuy nhiên, cách tiếp cận tính hữu hiệu của HTTTKT trong nghiên cứu của Nicolaou (2000) dựa theo sự hài lòng của người sử dụng thông tin là chưa đủ. Kế thừa thang đo sự hài lòng của người dùng của Doll và Torkzadeh (1988), 10 Trương Thị Cẩm Tuyết (2016) đo lường tính hữu hiệu của HTTTKT gồm 5 thành phần với 12 biến quan sát là nội dung, chính xác, định dạng, dễ sử dụng, kịp thời. Các thành phần này thể hiện sự hài lòng của người sử dụng gắn với thông tin đầu ra của HTTTKT.
Kết quả phân tích cho thấy, 12 biến quan sát có tương quan với nhau và đại diện cho khái niệm nghiên cứu, thể hiện tính hữu hiệu của HTTTKT được đánh giá dựa theo sự hài lòng của người sử dụng là phù hợp với nghiên cứu. Sử dụng thang đo sự hài lòng của người sử dụng về chất lượng thông tin đầu ra của Doll và Torkzadeh (1991), Le và cộng sự (2020) đã đánh giá tính hữu hiệu của HTTT quản lý tại các DNNVV dựa theo chất lượng thông tin được quy định trong chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam, gồm: tính chất liên quan, tính trung thực, dễ hiểu, dễ sử dụng và tính bảo mật thông tin.