CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Một số kết quả nghiên cứu liên quan đến về hệ thống KSNB trong lĩnh vực thuế và thuế GTGT đã được công bố thông qua các tạp chí, các đề tài nghiên cứu khoa học. Phần lớn các đề tài nghiên cứu trong nước có liên quan đều áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và sử dụng các thành phần KSNB làm biến độc lập. Những nghiên cứu theo phương pháp định tính và phương pháp định lượng bao gồm: 1.1 Các nghiên cứu theo phương pháp định tính Đề tài của tác giả Trần Thị Mỹ Dung (2012) là “Tăng cường kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục thuế quận Cẩm Lệ”. Trên cơ sở lý luận về kiểm soát quản lý, kiểm soát quy trình quản lý thuế GTGT, kiểm soát thuế GTGT thông qua công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế, nghiên cứu thực trạng việc kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục Thuế Quận Cẩm Lệ, làm rõ ý nghĩa của việc tăng cường kiểm soát thuế chưa được chú trọng, chất lượng cán bộ chưa thực sự tốt, tổ chức bộ máy chưa theo kịp yêu cầu quản lý, công tác kiểm tra thuế GTGT, nêu lên thực trạng của hoạt động kiểm soát thuế GTGT.
Trên cơ sở đó, luận văn nêu ra những giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục Thuế Quận Cẩm Lệ. Lê Thị Hồng Lũy (2012) với đề tài nghiên cứu “Tăng cường kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế tỉnh Bình Định”. Đề tài đã nghiên cứu về kiểm soát thuế GTGT bao gồm tại Cục Thuế tỉnh Bình Định và 11 Chi cục thuế quận huyện trên địa bàn tỉnh Bình Định. Đề tài làm rõ ý nghĩa của việc tăng cường kiểm soát thuế nói chung và kiểm soát thuế GTGT nói riêng trong điều kiện ngành thuế Việt Nam đang chuyển từ mô hình quản lý thuế theo đối tượng sang mô hình quản lý theo chức năng.
Luận văn đã nêu lên thực trạng, đánh giá phân tích thực trạng về kiểm soát thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định. Trên cơ sở đó, luận văn nêu ra các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác kiểm soát thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định. 7 Tác giả Lê Tự Cư (2012) nghiên cứu đề tài “Tăng cường công tác kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục thuế Quận Hải Châu – Thành Phố Đà Nẵng” nhằm đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kiểm soát thuế GTGT, tăng cường chống thất thu NSNN đối với lĩnh vực thuế GTGT tại Chi cục thuế quận Hải Châu, đề tài vận dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu, so sánh, mô tả, thống kê trong quá trình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục thuế quận Hải Châu thực sự chưa đạt hiệu quả như yêu cầu.
Môi trường kiểm soát không thuận lợi còn bị hạn chế nhiều mặt; các thủ tục kiểm soát được quy định thông qua quy trình chưa được hướng dẫn cụ thể về mặt nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cán bộ thuế phục vụ công tác kiểm soát còn hạn chế. Vũ Thị Hằng (2016) nghiên cứu về “Kiếm soát thuế giá trị gia tăng tại Chi Cục Thuế Huyện M’Đrắk” đưa ra mục tiêu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm soát thuế GTGT, phân tích và đánh giá thực trạng kiểm soát thuế GTGT tại Chi Cục Thuế Huyện M’Đrắk. Tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát thuế GTGT tại địa phương.2 Các nghiên cứu theo phương pháp định lượng Đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác thu thuế giá trị gia tăng tại Chi cục thuế Thành phố Biên Hòa” của Nguyễn Trường Giang (2014) đã nghiên cứu và khảo sát hệ thống KSNB, đề xuất áp dụng mô hình KSNB trong các tổ chức hành chính công của INTOSAI để xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và hiệu quả hơn trong công tác phòng chống thất thu thuế tại Chi cục thuế thảnh phố Biên Hòa. Tác nghiên cứu các thông tin về cơ quan thuế và tham khảo ý kiến các vị lãnh đạo trong Chi cục thuế để tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB.
Trong nghiên cứu định lượng, tác giả sử dụng bảng câu hỏi chính thức nhằm thu nhập dữ liệu khảo sát, nhập liệu và phân tích. Do tính chất của cuộc nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu có nhiều hạn chế, để đảm bảo cỡ mẫu đủ lớn và mức ý nghĩa của đề tài, 100 bảng câu hỏi khảo sát đã được gửi đi. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động giám sát, 8 hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông tác động đến công tác thu thuế GTGT. Do vậy, mô hình của Nguyễn Trường Giang (2014) đã xác định thu thuế GTGT chịu sự tác động của môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động giám sát, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông (Hình 1.
MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT ĐÁNH GIÁ RỦI RO HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT Thu thuế GTGT THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG GIÁM SÁT Hình 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu thuế GTGT, Nguyễn Trường Giang (2014) Nghiên cứu của tác giả Trần Phương Nam (2015) với đề tài ”Kiểm soát nội bộ trong hoạt động thu thuế tại Chi cục thuế quận Thủ Đức”. Mục tiêu của đề tài là phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến KSNB trong hoạt động thu thuế tại Chi cục thuế quận Thủ Đức và kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống KSNB trong hoạt động thu thuế tại Chi cục thuế quận Thủ Đức. Trên cơ sở lý thuyết về KSNB, mô hình nghiên cứu được tác giả đề xuất gồm năm nhân tố là môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Trong nghiên cứu, số lượng biến độc lập được đưa vào phân tích là 5 biến cùng với 37 quan sát và tác giả sử dụng 137 mẫu nghiên cứu chính thức phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Kết quả nghiên cứu cho thấy năm nhân tố môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát tác động đến tính hiệu quả của hệ thống KSNB trong hoạt động thu thuế. 9 Trong đó, các nhân tố tác động mạnh tăng dần lần lượt là hoạt động kiểm soát với hệ số Beta chuẩn hóa = 0.131, giám sát với hệ số Beta chuẩn hóa = 0.136, đánh giá rủi ro với hệ số Beta chuẩn hóa = 0.304, đánh giá rủi ro với hệ số Beta chuẩn hóa = 0.345, thông tin truyền thông với hệ số Beta chuẩn hóa = 0. Do vậy, các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu lý thuyết chính thức đều được chấp nhận (Hình 1. MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT ĐÁNH GIÁ RỦI RO Tính hiệu quả của hệ thống HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT KSNB trong hoạt động thu thuế THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG GIÁM SÁT Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu của Trần Phương Nam (2015) Tác giả Ngô Thị Thanh Hảo (2016) với đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát nội bộ trong hoạt động thu thuế tại Chi cục thuế Quận 9 Tp.
Dựa trên các tài liệu đã nghiên cứu và kế thừa các nghiên cứu khảo sát, cũng như lý luận của INTOSAI về HTKSNB, đề tài xác định các yếu tố của HTKSNB ảnh hưởng đến hoạt động thu thuế. Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thiết kế thang đo các yếu tố của hệ thống KSNB và hoạt động thu thuế, đánh giá giá trị và độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) thông qua dữ liệu thu thập từ bảng câu hỏi và số liệu khảo sát tại Chi cục thuế quận 9 TP. Kết quả kiểm định mô hình cho thấy: Tính hiệu quả của hệ thống KSNB trong hoạt động thu thuế tại Chi cục thuế quận 9 TP.HCM chịu tác động của 5 yếu tố: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, 10 thông tin và truyền thông, giám sát (Hình 2. Trong 5 yếu tố này thì yếu tố có sự ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động thu thuế tại Chi cục thuế Quận 9 là môi trường kiểm soát ( = 0.39), tiếp theo là hoạt động kiểm soát ( = 0.268), đánh giá rủi ro ( = 0.116), và cuối cùng là Thông tin và truyền thông ( = 0.
Từ mô hình này tác giả đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hệ thống KSNB trong Chi cục thuế quận 9 tại Tp. Hồ Chí Minh thông qua các nhân tố tác động. MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT ĐÁNH GIÁ RỦI RO Hoạt động thu thuế HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG GIÁM SÁT Hình 1.3 Mô hình nghiên cứu của Ngô Thị Thanh Hảo (2016) Trần Quảng Ninh (2020) với đề tài nghiên cứu “Các nhân tố thuộc hệ thống kiểm soát nội bộ tác động đến việc hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai”. Đề tài xác định được 30 thang đo cho 6 nhân tố gồm 3 thang đo cho nhân tố phụ thuộc, và 27 thang đo cho 5 nhân tố độc lập.
Nghiên cứu chính thức với mẫu gồm 292 đối tượng là các cán bộ quản lý cấp cao, cấp trung và các cán bộ quản lý thuế có liên quan đến công tác hoàn thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai. Qua bước phân tích nhân tố khám phá, kết quả còn lại 23 mục hỏi thuộc 6 nhân tố gồm 03 mục hỏi thuộc biến phụ thuộc và 20 mục hỏi thuộc năm biến độc lập đủ điều kiện phân tích hồi quy. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, mỗi biến độc lập có cường độ tác động thuận chiều khác nhau lên biến phụ thuộc, cụ thể (sắp xếp theo thứ tự giảm dần về mức độ 11 tác động): (i) Môi trường kiểm soát tác động mạnh nhất với mức độ là +0,461, (ii) Đánh giá rủi ro tác động mạnh thứ nhì với mức độ +0,354; (iii) Hoạt động giám sát tác động với mức độ +0,240, (iv) Hoạt động kiểm soát tác động với mức độ +0,183; (v) Thông tin và truyền thông tác động với mức độ +0,169 (Trần Quảng Ninh, 2020). Do vậy, mô hình của Trần Quảng Ninh (2020) đã xác định biến phụ thuộc là hoạt động thu thuế và các biến độc lập là môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động giám sát, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông.
MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT ĐÁNH GIÁ RỦI RO HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT Hoàn thuế GTGT THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG GIÁM SÁT Hình 1.