Chương 1: GIỚI THIỆU Giới thiệu khái quát về tầm quan trọng và sự cần thiết nghiên cứu của đề tài, nêu lên mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, và nội dung nghiên cứu của đề tài. Chương 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT Nghiên cứu về sự thỏa mãn trong công việc của người lao động là một phần của Quản trị nguồn nhân lực. Chương này làm rõ các khái niệm về nguồn lực, nguồn nhân lực, người lao động, sự thỏa mãn trong công việc, những yếu tố ảnh hưởng và tác động của chúng đến sự thỏa mãn công việc của người lao động. Chương 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nội dung chương 3 xoay quanh các vấn đề sau: - Thực trạng ngành dệt may hiện nay.
Đôi nét về tình hình tại công ty cổ phần may xuất khẩu Phan Thiết. - Phương pháp nghiên cứu của luận văn, xây dựng thang đo, thiết kế bảng câu hỏi, khảo sát và đưa ra mô hình chính thức. Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận. Kết quả phân tích dựa trên số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp điều tra trực tiếp tại Công ty cổ phần may xuất khẩu Phan Thiết.
Trên cơ sở đó phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn công việc của người lao động tại Công ty cổ phần may xuất khẩu Phan Thiết. Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ Trình bày kết luận và đưa ra hàm ý quản trị để nâng cao sự thỏa mãn công việc của người lao động tại Công ty cổ phần may xuất khẩu Phan Thiết. 11 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết về sự thỏa mãn trong công việc: Các nhà nghiên cứu thường gắn liền các lý thuyết động viên với sự thỏa mãn trong công việc. Ở nghiên cứu này đưa ra một số lý thuyết tiêu biểu cho sự thỏa mãn trên.1 Thuyết nhu cầu của Maslow (1943): Khi nhắc đến sự thỏa mãn trong công việc thì chúng ta không thể không nhắc đến thuyết nhu cầu của Maslow.
Lý thuyết này chia nhu cầu của con người thành từng bậc, cụ thể là sinh lý, an toàn, xã hội, được tôn trọng và tự thể hiện. Tính cấp bậc thể hiện ở việc khi nhu cầu này được thỏa mãn thì cá thể sẽ hướng đến nhu cầu kế tiếp. Các nhà quản lý có thể áp dụng quy luật này để động viên, khuyến khích người lao động. Dựa vào từng cấp bậc trong nhu cầu của con người mà các nhà quản lý có thể dựa vào đó để nâng tầm cho người lao động, cũng như định hướng phát triển cho họ.
Đây là một kiểu động viên từ trong nội tại người lao động, nó kích thích người lao động tăng năng suất để đạt được những thứ mình muốn. 12 Tự thể hiện Được tôn trọng Xã hội An toàn Sinh lý Hình 2.1 Mô hình tháp nhu cầu của Maslow Nguồn: Abraham Maslow (1943), A Theory of Human Motivation, New York Cấp độ 1: Nhu cầu sinh lý bao gồm các nhu cầu về ăn, uống, nhà ở thỏa mãn sinh lý các nhu cầu vật chất khác. Đây là nhu cầu cơ bản nhất của con người, để đạt được những mong muốn khác, những thứ cao hơn thì trước tiên cần có nhu cầu này. Đảm bảo cuộc sống thì mới có giá trị gia tăng.
Cấp độ 2: Nhu cầu an toàn là nhu cầu về an ninh và được bảo vệ khỏi những tổn hại vật chất và tinh thần cũng như đảm bảo các nhu cầu vật chất tiếp tục được thỏa mãn. Nghĩa là khi đã đạt được những nhu cầu cơ bản rồi thì con người cần thêm sự an toàn trong cuộc sống, được bảo vệ và không bị bất an. Dĩ nhiên là nhu cầu sinh lý vẫn tồn tại song song với nhu cầu an toàn này. Cấp độ 3: Nhu cầu xã hội là các nhu cầu về tình cảm, sự chấp nhận và tính bằng hữu.
Đó là các mối quan hệ trong xã hội mà bất kỳ ai cũng phải có sau khi đã 13 chỗ ăn và chỗ ở. Mối quan hệ xã hội sẽ mang lại cho con người những cảm xúc nhiều hơn là vật chất, tuy nhiên, cấp độ nhu cầu xã hội chỉ có khi con người không phải quá bận tâm về cái ăn cái mặc. Cấp độ 4: Nhu cầu được tôn trọng là các yếu tố được tôn trọng từ bên trong như tự trọng, quyền tự chủ, những thành tựu và các yếu tố tôn trọng từ bên ngoài như địa vị, sự công nhận. Cảm giác được tôn trọng khiến con người trở nên sảng khoái và làm tăng khả năng lao động.
Cấp độ 5: Nhu cầu tự khẳng đinh là việc phát huy, đạt được những cái mình có thể và sự thỏa mãn về bản thân; nhu cầu giúp họ tự hoàn thiện bản thân. Đây là nhu cầu cao nhất của một con người theo Maslow. Để có thể thực hiện được nhu cầu này, con người cần phải nỗ lực rất nhiều. Như vậy, con người luôn có những nhu cầu tùy theo cấp độ khác hay.
Hay nói chính xác hơn là khi đời sống càng được nâng cao thì nhu cầu cũng tăng theo. Tuy nhiên, việc thỏa mãn nhu cầu, hay còn gọi là sự thỏa mãn có sự tương đối với nhu cầu thỏa mãn trong công việc. Cụ thể, cấp độ 1 được thỏa mãn khi người lao động nhận được khoản tiền lương; cấp độ 2 là do phúc lợi hợp lý, ngoài ra còn ảnh hưởng do đặc tính công việc của từng cá nhân; cấp độ 3 phụ thuộc vào môi trường làm việc, quan hệ giữa cá nhân với đồng nghiệp; cấp độ 4 và 5 có được khi con người được đào tạo, thăng tiến, có tiếng nói chính kiến riêng, được người lãnh đạo hoặc những người khác tôn trọng và công nhận.2 Lý thuyết của David Mc. Celland: David Mc.
Celland (dẫn theo Robbins, 2002) cho rằng con người có ba nhu cầu cơ bản gồm: nhu cầu thành tựu, nhu cầu liên minh và nhu cầu quyền lực. Cụ thể là: Nhu cầu thành tựu: Người có nhu cầu thành tựu cao là người luôn theo đuổi việc giải quyết công việc tốt hơn. Họ muốn vượt qua các khó khăn, trở ngại. Họ muốn cảm thấy rằng 14 thành công hay thất bại của họ là do kết quả của những hành động của họ.
Điều này có nghĩa là họ thích các công việc mang tính thách thức. Những người có nhu cầu thành tựu cao được động viên làm việc tốt hơn. Đặc tính chung của những người có nhu cầu thành tựu cao: - Lòng mong muốn thực hiện các trách nhiệm cá nhân. - Xu hướng đặt ra các mục tiêu cao cho chính họ.
- Nhu cầu cao về sự phản hồi cụ thể, ngay lập tức. - Nhanh chóng, sớm làm chủ công việc của họ. Nhu cầu liên minh: Tương tự như nhu cầu xã hội của Maslow, đó là được chấp nhận tình yêu, bạn bè,. Người lao động có nhu cầu này mạnh sẽ làm việc tốt, những công việc tạo ra sự thân thiện và các quan hệ xã hội.
Nhu cầu quyền lực: Đây là nhu cầu kiểm soát và ảnh hưởng đến người khác và môi trường làm việc của họ. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng người có nhu cầu quyền lực mạnh và nhu cầu thành tựu có xu hướng trở thành các nhà quản trị. Một số giả thuyết cho rằng nhà quản trị thành công là người có nhu cầu quyền lực mạnh nhất, kế đến là nhu cầu thành tựu và sau cùng là nhu cầu cần liên minh. Cũng như Maslow, David Mc.
Celland cho rằng con người cũng có các nhu cầu từ đơn giản đến phức tạp. Để đạt được nhu cầu thành tựu, người lao động phải có công việc phù hợp với tính chất của bản thân, môi trường làm việc tốt, được đào tạo để được cống hiến để khẳng định giá trị của bản thân. Nhu cầu liên minh nói tóm gọn lại trong môi trường làm việc là mối quan hệ giữa đồng nghiệp với nhau, giữa sếp với nhân viên tạo nên. Nhu cầu quyền lực chỉ hiện hữu khi người lao động được giao phó các chức vụ.
Tóm lại, cả ba nhu cầu này đều liên quan đến nhau, có được thành tựu và liên minh thì con người mới có được quyền lực.3 Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959): Thuyết của Herzberg chia các nhân tố làm hai loại: các nhân tố động viên và các nhân tố duy trì. Các nhân tố động viên gồm thành tựu, sự công nhận của người khác, bản chất công việc, trách nhiệm công việc, sự thăng tiến và sự tiến bộ, và triển vọng của sự phát triển. Nếu nhân viên được đáp ứng sẽ mang lại sự thỏa mãn trong công việc cho họ, ngược lại nhân viên sẽ không có sự thỏa mãn. Các nhân tố duy trì gồm chính sách công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, vị trí công việc và sự đảm bảo của công việc.
Nếu được đáp ứng sẽ không có sự bất mãn trong công việc, ngược lại sẽ dẫn đến sự bất mãn (Efere, 2005). Như vậy, Herzberg đã tách biệt tương đối hai nhóm nhân tố này và cho rằng chỉ có những nhân tố động viên mới có thể mang lại sự thỏa mãn cho nhân viên và nếu không làm tốt các nhân tố duy trì sẽ dẫn đến sự bất mãn của nhân viên.2 Mô hình thuyết hai nhân tố của Herzberg Nguồn: Frederick Herzberg (1959), Two Factor Theory Nhiều nghiên cứu đã được ra kết quả không ủng hộ sự phân chia hai nhóm nhân tố như trên của Herberg cũng như bác bỏ việc cho rằng các nhân tố duy trì không mang lại sự thỏa mãn trong công việc (Kreitner & Kinicki, 2007). Thực tế cho thấy rằng các nhân tố thuộc hai nhóm trên đều có ảnh hưởng ít nhiều đến sự thỏa mãn trong công việc. Tuy nhiên, thông qua lý thuyết của Hezberg ta cũng có thể thấy được tầm quan trọng của nhân tố động viên trong việc mang lại sự thỏa 16 mãn trong công việc cũng như tác động của các nhân tố duy trì trong việc dẫn đến sự bất mãn của nhân viên.
Như vậy, có thể hiểu rằng, các yếu tố về tiền lương, đặc tính công việc, môi trường làm việc, quan hệ với đồng nghiệp, đào tạo và thăng tiến, phúc lợi cũng như người lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến sự thỏa mãn của nhân viên. Nói cách khác, một nhân viên muốn được thỏa mãn trong công việc thì phải có một hoặc một vài nhân tố trên.4 Thuyết kỳ vọng của Vroom (1964): Theo Vroom, động cơ làm việc của con người không nhất thiết được quyết định bởi hiện thực mà nó được quyết định bởi nhận thức của con người về những kỳ vọng của họ trong tương lai.