Mở đầu Nội dung chương này giới thiệu sự cần thiết hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Nội dung chương này trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến động lực làm việc, lược khảo nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc và một số nghiên cứu khác có liên quan. Dựa trên lược khảo cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, đề tài xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với mục tiêu đặt ra và phương pháp nghiên cứu của đề tài. 4 Chương 3: Phân tích khái quát thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty Nội dung chương này trình bày khái quát về thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty, đặc điểm cơ cấu nhân sự của công ty, chính sách bán hàng đang áp dụng đối với đội ngũ nhân viên bán hàng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Đây là nội dung chính của đề tài, nội dung chương này giới thiệu đối tượng nghiên cứu, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên bán hàng tại công ty Mondelez Kinh Đô, kiểm định độ tin cậy của thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy đa biến các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất hàm ý quản trị nâng cao động lực làm việc của nhân viên bán hàng công ty Mondelez Kinh Đô khu vực ĐBSCL. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Nội dung chương này ghi nhận lại những điểm chính trong nghiên cứu, từ đó đề xuất một số kiến nghị đối với công ty nhằm nâng cao động lực làm việc của nhân viên. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên bán hàng, tác giả trình bày một số khái niệm quan trọng, lược khảo tài liệu và các khung lý thuyết có liên quan đến động lực làm việc. Dựa trên một số khung lý thuyết và nghiên cứu có liên quan, tác giả đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc và lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến nhân tố ảnh hưởng.1Cơ sở lý thuyết Khái niệm động lực: Theo Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) thì động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức.
Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và môi trường sống và làm việc của con người. Do đó, hành vi có động lực (hay hành vi được thúc đẩy, được khuyến khích) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hóa của tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức và các chính sách về nhân lực cũng như sự thực hiện các chính sách đó. Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ, chẳng hạn: nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị. Có nhiều học thuyết về động lực trong lao động như lý thuyết hệ thống nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943), học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964), học thuyết công bằng của J.
Stacy Adams (1963), học thuyết tăng cường tích cực của B. Skinner (1938), học thuyết hệ thống hai yếu tố của F.Herzberg (1968), học thuyết đặc mục tiêu của Edwin Locke (1960)…Những học thuyết đó cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tạo động lực. Tuy nhiên, tất cả các học thuyết đều có một kết luận chung là: việc tăng cường động lực đối với người lao động sẽ dẫn đến nâng cao thành tích lao động và các thắng lợi hơn của tổ chức. Một số học thuyết cơ bản về tạo động lực lao động: 2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow Lý thuyết của Maslow (1943) về sự phát triển cá nhân và động lực được công bố vào năm 1943.
Theo Maslow, hành vi của con người bắt nguồn từ mong muốn thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Nhu cầu của con người được chia thành 5 bậc từ thấp (cấp thiết nhất) đến cao (ít cấp thiết), bao gồm: nhu cầu sinh học – nhu cầu an toàn – nhu cầu xã hội – nhu cầu được tôn trọng – nhu cầu tự thể hiện bản thân. Tháp nhu cầu của Maslow được xây dựng dựa trên các giả định sau: (1) Nhu cầu chính là cơ sở hình thành nên động cơ thôi thúc con người hành động. Con người cố gắng thỏa mãn trước hết là những nhu cầu quan trọng nhất.
Tuy nhiên, khi một nhu cầu đã được thỏa mãn thì nó không còn là động cơ hiện thời nữa, và người ta lại cố gắng tìm cách thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất tiếp theo. (2) Nhu cầu bậc cao chỉ xuất hiện khi nhu cầu ở bậc thấp hơn đã được thỏa mãn. Chẳng hạn, khi một người sắp chết vì đói thì họ mong 6 muốn tìm cách thỏa mãn nhu cầu sinh lý, giải quyết trước hết vấn đề đói. Trong thời điểm này họ hoàn toàn không quan tâm xem sự kiện gì đang xảy ra trong lĩnh vực nghệ thuật, hay không quan tâm xem mọi người tôn trọng mình như thế nào.1: Thang bậc nhu cầu của Maslow Nguồn: Nguồn: Maslow (1943) Học thuyết này cho rằng: khi mỗi một nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng.
Sự thõa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ đi theo thứ bậc như trên và mặc dù không có một nhu cầu nào có thể được thỏa mãn hoàn toàn nhưng một nhu cầu được thỏa mãn về cơ bản thì không còn tạo động lực. Vì thế, theo Maslow, để tạo động lực cho nhân viên, người quản lý cần phải hiểu nhân viên đó đang ở đâu trong hệ thống thứ bậc này và hướng vào sự thỏa mãn các nhu cầu ở bậc đó.2 Học thuyết tăng cường tích cực Học thuyết này dựa vào những công trình nghiên cứu của B. Skinner (1938), hướng vào việc làm thay đổi hành vi của con người thông qua các tác động tăng cường. Học thuyết cho rằng những hành vi được thưởng sẽ có xu hướng được lặp lại, còn những hành vi không được thưởng (hoặc bị phạt) sẽ có xu hướng không lặp lại.
Đồng thời, khoảng thời gian giữa thời điểm xảy ra hành vi và thời điểm thưởng phạt càng ngắn bao nhiêu thì càng có tác dụng thay đổi hành vi bấy nhiêu. Học thuyết cũng quan niệm rằng phạt có tác dụng loại trừ những hành vi ngoài ý muốn của người quản lý nhưng có thể gây ra những hậu quả tiêu cực, do đó đem lại ít hiệu quả hơn so với thưởng. Để tạo động lực lao động, người quản lý cần quan tâm đến các thành tích tốt và thưởng các thành tích đó. Sự nhấn mạnh các hình thức thưởng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn sự nhấn mạnh các hình thức phạt.3 Học thuyết kỳ vọng Victor Vroom (1964) nhấn mạnh mối quan hệ nhận thức: con người mong đợi cái gì? Theo học thuyết này, động lực là chức năng của sự kỳ vọng của cá nhân rằng: một sự nỗ lực sẽ đem lại một thành tích nhất định, và thành tích đó sẽ dẫn đến những kết quả hoặc phần thưởng như mong muốn.
Học thuyết này gợi ý cho các nhà quản lý cần phải làm cho người lao động hiểu được mối quan hệ trực tiếp giữa nỗ lực- thành tích; thành tích- kết quả/ phần thưởng cũng như cần tạo nên sự hấp dẫn của các kết quả/ phần thưởng đối với người lao động. Lý thuyết này cho thấy phần thưởng đã tạo động lực thúc đẩy nhân viên làm việc.4 Học thuyết công bằng J. Stacy Adams (1963) đề cập tới vấn đề nhận thức của người lao động về mức độ được đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức. Giả thiết cơ bản của học thuyết là mọi người đều muốn được đối xử công bằng; các cá nhân trong tổ chức có xu hướng so sánh sự đóng góp của họ và các quyền lợi họ nhận được với sự đóng góp và các quyền lợi của những người khác.
Người lao động sẽ cảm nhận được đối xử công bằng, khi cảm thấy tỷ lệ quyền lợi đóng góp của mình ngang bằng với tỷ lệ đó ở những người khác. Do đó, để tạo động lực, người quản lý cần tạo ra và duy trì sự cân bằng giữa sự đóng góp của cá nhân và các quyền lợi mà cá nhân đó được thưởng.5 Học thuyết hệ thống hai yếu tố F. Herzberg (1968) đưa ra lý thuyết hai yếu tố về sự thỏa mãn công việc và tạo động lực. Herzberg chia các yếu tố tạo nên sự thỏa mãn và không thỏa mãn trong công việc thành hai nhóm: Nhóm 1 bao gồm các yếu tố then chốt để tạo động lực và sự thỏa mãn trong công việc như: sự thành đạt, sự thừa nhận thành tích, bản chất bên trong công việc, trách nhiệm lao động, sự thăng tiến.
Đó là các yếu tố thuộc về công việc và về nhu cầu bản thân của người lao động. Khi các nhu cầu này được thỏa mãn thì sẽ tạo nên động lực và sự thỏa mãn trong công việc. Nhóm 2 bao gồm các yếu tố thuộc về môi trường tổ chức như: các chính sách và chế độ quản trị trong công ty, sự giám sát công việc, tiền lương, các quan hệ con người, các điều kiện làm việc Theo Herzberg, nếu các yếu tố này mang tính chất tích cực thì sẽ có tác dụng ngăn ngừa sự không thỏa mãn trong công việc. Tuy nhiên, nếu chỉ riêng sự hiện diện của chúng thì không đủ để tạo ra động lực và sự thõa mãn trong công việc.
Học thuyết này chỉ ra một loạt các yếu tố tác động tới động lực và sự thỏa mãn của người lao động, đồng thời cũng gây được ảnh hưởng cơ bản được việc thiết kế và thiết kế lại công việc ở nhiều công ty. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu phê phán rằng 8 học thuyết này không hoàn toàn phù hợp với thực tế vì trên thực tế, đối với một người lao động cụ thể, các yếu tố này hoạt động đồng thời chứ không tách rời nhau như vậy.6 Học thuyết đặt mục tiêu Vào cuối những năm 1960, các nhà nghiên cứu của Edwin Locke chỉ ra rằng: các mục tiêu cụ thể và thách thức sẽ dẫn đến sự thực hiện công việc tốt hơn.